Chuyện hằng ngày

Part 2

Chapter 25,254 wordsPublic domain (Wikisource)

Sự văn minh về cách đánh giặc là thế.    

THÔNG REO

MỘT HIỆN TRẠNG TRÁI NGƯỢC

Phụ nữ An Nam ta tiếng rằng có một bọn khuynh hướng về tân thời, thực ra thì cũng chẳng tân thời gì cho lắm. Đại khái họ chỉ mặc bộ đồ kiểu, xách bóp đầm, đi giày cao gót, thế là đủ rồi. Đến những bà những cô cắt tóc ngắn và uốn quăn thì còn là phần rất ít. 

Người ta phải để ý mà nhận thấy rằng phụ nữ Việt Nam coi bộ còn tiếc cái đầu tóc lắm, hoặc búi hoặc bao cũng vẫn còn giữ nó lại, chứ chả mấy người chịu cắt ngắn. Ngoài đường thỉnh thoảng mới có thấy “con cút cụt đuôi”.

Cái tân thời của đàn bà An Nam ta thật chưa sánh kịp với cái tân thời của đàn bà Tàu. Ở bên Tàu như Thượng Hải, Quảng Châu, Hương Cảng, đàn bà con gái ăn mặc đủ thứ mốt và nhiều thứ mốt rất mới lạ; còn cắt tóc uốn quăn thì đều mặt.

Mấy bà mấy cô nữ Hoa kiều ở bên xứ ta cũng vậy. Trừ ra một hạng nghèo, lao động, buôn gánh bán bưng vẫn còn theo lối cũ; đến như hạng có tiền, sang trọng, thì cũng trang sức y như bên Tàu, không kém.

Phụ nữ Trung Huê đã tấn bộ (chữ này tôi dùng theo người ta thường dùng) về hình thức thì cũng tấn bộ luôn về tinh thần. Theo như báo chí ở Tàu sang, thì đàn bà bên ấy cũng đã bình quyền bình đẳng, tự do giải phóng hăng lên lung lắm.

Thế mà vừa rồi ở Chợ Lớn có một vụ cải giá bị gàn trở tỏ ra đàn bà Tàu đang còn bị áp bách dữ lắm! Đã là tấn bộ dường kia, sao còn bị áp bách dường nọ: thật là một hiện trạng trái ngược vô cùng.

Một tờ báo Tàu đăng tin rằng người thiếu phụ tên là Lương Siêu, 27 tuổi, người Quảng Đông, có chồng ở bên Tàu rồi và chồng chết đã 6 năm nay. Người thiếu phụ không có con cái gì, và nhà chồng cũng nghèo, nàng không thể ở đó nuôi thân, bèn tìm cách sang An Nam, vì nghe nói nơi đây làm ăn dễ lắm.

Qua đây rồi, nàng thấy ở một mình cũng không phương nuôi sống nổi, nên vừa rồi tự ý lấy một người chồng khác.

Không ngờ có mấy kẻ trong họ chồng cũ của nàng ở đây từ trước, thấy nàng cải giá thì xúm tới đánh nàng và mắng chưởi tàn tệ. Rốt cuộc họ bảo nàng muốn lấy chồng khác thì phải đưa họ năm chục bạc làm tiền bồi thường (bồi thường cái gì?) mới cho phép lấy.

Ả sẩm Lương Siêu đem việc bách hiếp ấy đến thưa cùng ban hội tề Quảng Triệu công sở. Chỉ xem đó thì thấy Lương Siêu, người đàn bà khốn khổ ấy, hình như không xứng đáng là phụ nữ của Trung Hoa!

THÔNG REO

ĐÀN BÀ HÓA CỌP

Hôm trước ở chỗ nầy tôi có nói về một người đàn bà Tàu ở Chợ Lớn, vì cải giá mà bị bên phụ tộc đánh mắng cản trở. Tôi kết luận rằng phụ nữ ở bên Tàu có tiếng là tấn bộ lắm mà người đàn bà nầy còn bị bách hiếp như thế thì chưa phải là tấn bộ.

Thực ra thì phụ nữ bên Tàu, trên đường tấn bộ của họ hình như chỉ có danh mà không có thực. Đại khái chỉ đàn bà con gái ở các thành phố lớn, con nhà sang giàu, có học, một số ít ấy có tấn bộ. Mà sự tấn bộ của họ chỉ năm phần, rồi nhờ báo chí tô điểm thêm thành ra mười phần. Chớ còn nói cả đến toàn thể phụ nữ Trung Huê thì một phần lớn còn ở trong đen tối.

Ấy là tại đất nước Tàu rộng quá, nhiều nơi ở trong thâm sơn cùng cốc, văn hóa không đến được, những nơi ấy thì phụ nữ vẫn còn mang cái ách của phong tục cổ truyền rất vô lý.

Như đảo Hải Nam là nơi bị Nhựt chiếm cứ rồi, theo chính người Tàu chép về phong tục ở đó, có lắm điều mà chúng ta không tưởng tượng được. Ở đó đàn ông cưới đàn bà về là để mà đánh chứ không phải để mà làm vợ. Bằng chẳng vậy thì sao đám cưới nào cũng thế, cô dâu mới cứ phải bị đánh ngay ở đêm động phòng, là đêm, theo thế thường thiên hạ, khoái lạc nhứt của cặp tân hôn?

Đêm ấy, chú rể vào buồng với một cái roi hay một cái thước. Rồi, trước mặt người vợ mới, anh chồng phải kiếm cách nào để đánh nàng cho bằng được. Nếu không, người chồng sẽ bị coi là thất thể diện, hèn yếu, không đáng làm chồng.

Anh chồng bèn đưa cho cô vợ một điếu thuốc lá có tẩm nước biểu phải thắp cho đỏ. Thuốc đã bị ướt rồi thì thắp sao cho đỏ được? Khi ấy anh chồng kể tội người vợ mới rằng hư, rằng dại, không đủ trí không để ứng biến, rồi đánh cho một mớ.

Đại để kiếm cách đánh vợ là như thế. Hễ anh chồng nào đánh vợ được trong đêm tân hôn, mà vợ chịu phép không dám cãi lại, là được danh dự lắm.

Bởi vậy, cả đảo Hải Nam, theo lời người chép chuyện, là một xứ mà đàn ông coi sự đánh vợ làm thường. Đến nỗi tục ngữ xứ đó có câu như vầy: “Đàn bà ba ngày không đánh, họ sẽ hóa cọp”.

Đàn bà Hải Nam đã bị đánh hằng ngày như thế, cho nên họ không được đối đãi ngang hàng với đàn ông về mọi phương diện.

Nói riêng về sự ăn. Trong một nhà, đàn ông và đàn bà ăn khác thứ nhau từ cơm đến thức ăn. Bao giờ đàn bà cũng chịu phần kém. Còn như có nhà nào ăn cùng một thứ, không phân biệt, thì thế nào cũng đàn ông ăn thừa ra rồi mới bưng xuống cho đàn bà. 

Đó là phong tục ở Hải Nam. Nhưng người ta tưởng còn có nhiều nơi giống như Hải Nam nữa.

Tôi cứ ngẫm nghĩ cái câu “Đàn bà ba ngày không đánh, họ sẽ hóa cọp” mà chẳng biết có đúng không? Nếu quả vậy thì cũng đừng trách trong bọn đàn ông An Nam chúng ta sao có nhiều người hay đánh vợ!      

THÔNG REO

CŨ VÀ MỚI KHÔNG HAY NÊ CÙNG

Sách có chép khi thầy Mạnh Tử vào cửa buồng, thấy vợ thầy ở trần, nghĩa là để hở từ ngang lưng trở lên nhưng trước ngực có che, thì vội vàng bước trở ra và thưa cùng mẹ mình rằng:

− Nó vô lễ lắm, nó ở trần trước mắt tôi, tôi không bằng lòng nó, mẹ ạ!

Mẹ của Mạnh Tử là người đàn bà thông hiểu lắm, không cho con mình là phải mà bắt lỗi rằng:

− Cái là tại mầy chớ! Kinh Lễ có dạy: “Khi bước vào nhà, phải lên tiếng; khi bước vào buồng, phải nhìn xuống”. Thế mà nay, khi mầy bước vào buồng mầy không lên tiếng và lại nhìn lên. Mầy không lên tiếng thì nó biết đâu mà giữ gìn; mầy có nhìn lên mới thấy nó ở trần được. Ấy là lỗi tại mầy, sao mầy lại trách nó?

Mạnh Tử biết lỗi bèn làm thinh.

Một tờ báo thuật lại câu chuyện ấy và cho là hủ bại, nghĩa là nói thầy Mạnh Tử hủ bại. Báo ấy nói:

“Thứ vợ ở trần trước mặt chồng mà có vô lễ gì đâu? Vợ chồng tân thời đời nay có ai lại như thế? Có ai lại thấy ở trần trước mặt nhau mà cho là vô lễ bao giờ? Đó là một cái quan niệm về lễ cũ quá, không hiệp với mới”.

Tôi thì tôi không nói như báo ấy.

Chẳng có gì là cũ mà cũng chẳng có gì là mới. Hay là: cũ và mới không hay nê cùng, nói theo kiểu một vài miền nhà quê chúng ta.

Cái sự vợ chồng ở trần trước mặt nhau mà không coi là vô lễ, có phải từ bây giờ đâu, có phải từ ngày chúng ta đây đâu. Há chẳng phải từ ngày ông Adam bà Eva ở với nhau đã có như vậy rồi?

Sau vợ chồng ông bà Adam mấy ngàn năm quen thói ở trần trước mặt nhau mà không coi là vô lễ rồi đến vợ chồng ông bà Mạnh Tử mới coi sự ấy là vô lễ. Và trải hơn hai ngàn năm như thế, đến đời chúng ta đây mới lại không coi sự ấy là vô lễ nữa.

Vậy thì sự ấy là vô lễ hay không vô lễ? Vậy thì coi vô lễ là phải hay không coi vô lễ là phải?

Sự coi vô lễ mà cho là cũ vì nó có từ đời vợ chồng ông Mạnh Tử, thì sự không coi vô lễ cũng không là mới vì nó đã có từ đời vợ chồng ông Adam.

Thời nào kỷ cang ấy. Theo mỗi thời mà khác, chớ chẳng có gì là mới, chẳng có gì là cũ, chẳng có gì là phải, chẳng có gì là không phải. Hình như việc đời, cái chơn tướng của nó là vậy đó.

Huống chi sau chúng ta đây, biết đâu sẽ chẳng có một ngày coi sự vợ ở trần trước mặt chồng là vô lễ như Mạnh Tử, vì cái lẽ cuộc đời xoay vần, giáp vòng mà trở lại ban đầu?

Mới năm kia người ta cứ khuynh hướng về xã hội chớ có coi gia đình vào đâu mà bây giờ đã trở về với gia đình rồi. Hôm qua dân chủ mà hôm nay không dân chủ nữa, ai cấm?

Thật ra nó là vậy đó, chẳng có gì là cũ hay mới cả. 

THÔNG REO

MẤY ANH GÁC CỔNG PHẢI COI CHỪNG

Tôi nói cho mấy anh gác cổng, hay canh cửa, hay gác-dan biết mà giữ hồn. Mấy anh hãy coi chừng kẻo có ngày phải ra tòa hay vào khám.

Từ rày, trong khi mấy anh làm việc bổn phận, nghĩa là ngồi chỗ cổng ra vào mà gác, chẳng những mấy anh phải để ý những người ở ngoài đi vào, mà cũng phải để ý những người ở trong đi ra.

Những người ở trong đi ra là người nhà, thôi còn để ý làm gì? Mấy anh sẽ hỏi tôi như thế.

Nhưng tôi nói cho mấy anh biết rằng họ là người nhà, họ là đầy tớ, khi họ ra cửa, mấy anh phải kiểm soát họ đã đành, mà cho đến con trai con gái ông chủ vợ ông chủ, cả đến ông chủ nữa, khi họ ra cửa, mấy anh cũng phải hỏi đã rồi mới cho đi.

Nếu không thế, lỡ xảy ra việc gì, mấy anh sẽ bị can liên cho mà xem.

Muốn được chắc chắn, mấy anh hãy xin ông chủ nhà ra một cái lịnh: Bao nhiêu người trong nhà, từ vợ con ông chủ trở xuống hay từ ông chủ trở xuống, mỗi khi mỗi người ra cửa là chỗ anh gác, thì phải trình giấy phép rồi mới được đi.

Cứ làm cho thẳng. Hễ không có giấy phép, mấy anh khóa cửa đừng cho đi đâu một bước.

Mấy anh sẽ lại hỏi tôi: Vợ con ông chủ thì xin giấy phép ông chủ, cái đó được; còn chính ông chủ, ông đã làm chủ rồi, quyền ở ổng rồi, còn xin ai?

Tôi trả lời cho mấy anh rằng xin ai mặc ổng, miễn ổng cũng có giấy phép ra vào, không thì mấy anh đừng chịu.

Bởi vì mới có một việc xảy ra ở Bắc Kỳ, làm bậy là con chủ nhà mà tội lây đến anh gác cổng, cho nên tôi phải mách mấy anh như thế.

Một ông giàu có ở một tòa nhà to, có cô con gái nuôi 14 tuổi. Vừa rồi cô ấy lấy trộm của cha hơn một ngàn bạc đi theo trai.

Mới 14 tuổi mà đã lấy trộm bạc ngàn đi theo trai, mấy anh nghe chưa? Chuyện quan hệ lắm nhỉ?

Vì là chuyện quan hệ nên sau khi bắt được cô 14 tuổi ấy rồi, người ta khống cáo đến mụ vú già và anh gác cổng.

Mụ vú già thì vì tội hay dẫn cô ấy đi chơi để đến nỗi cô thấy trai mà muốn rồi ăn cắp tiền đi theo. Tội ấy đáng lắm, còn phải nói gì nữa?

Còn anh gác cổng cũng có tội, vì để cô ấy cùng đi với vú già lọt ra cửa dong chơi thường ngày, mà không cản lại.

Có lẽ tội của anh gác cổng cũng đáng như tội vú già. Chẳng có lẽ gì khác hơn chúng là kẻ làm nghề gác cổng và vú già.

Cả hai, tôi đều thấy mà thương hại cả. Nhưng chẳng có lẽ tôi bảo các vú già từ rày đừng đưa con của chủ đi chơi; tôi chỉ có thể dặn mấy anh gác cổng phải kiếm cách để gỡ tội mình là cách đòi người trong nhà đi ra phải trình giấy phép.

T.B.- Cái đầu đề của “Chuyện hằng ngày” bữa kia là “Cũ và mới không hay VÊ cùng”; chớ không phải NÊ. “Không hay vê cùng” là một expression [ 5 ] nghĩa rằng: Cái đó cũng tùy theo, không thể nói một cách nhứt định được. [ 6 ]

THÔNG REO

LÃO NGƯU PHẾ CANH

Thuở xưa, hồi còn thuộc về triều vua An Nam, cái luật cấm làm thịt trâu nghiêm nhặt lắm, kẻ nào phạm tới, có thể bị tội đồ một vài năm lận.

Bởi vậy, hồi đó, những nhà nông nào có con trâu già không cày được nữa, nếu để chờ ngày nó chết thì mất vốn, còn làm thịt thì sợ tội nên thường phải xin phép quan rồi mới làm thịt. Vì thương dân, không nỡ để họ chịu thiệt hại, nên mỗi khi có ai xin thế mà xét ra quả tình thì quan cũng cho phép.

Xin phép phải làm một lá đơn. Đơn ấy người ta hay kêu tắt bằng bốn chữ “lão ngưu phế canh” nghĩa là “trâu già bỏ cày”.

Mẫu đơn thường làm như vầy:

“Phủ mỗ huyện mỗ tổng mỗ xã mỗ, dân (chữ nầy viết nhỏ) tên mỗ khấu bẩm vi khất thầm hứa sự:

Số là dân (viết nhỏ) có nuôi một con trâu đực, tên nó là Đực Xe, năm nay đúng mười ba tuổi, đầu đuôi đều lành lặn, không có bịnh hoạn gì khác, chỉ vì tuổi nó già sức nó yếu, hễ dắt ra đồng thấy mặt trời là thở, không kéo nổi cái cày, đã hơn một năm nay.

Dân (viết nhỏ) thiết nghĩ: con Đực Xe, hồi mua nó giá mấy trăm quan tiền. Bây giờ nếu cứ để vậy cho đến ngày nó ngã xuống mà chết thì phải mất số tiền ấy cũng ngặt. Nhờ được cái nó vô bịnh, nếu làm tể nó ra mà bán, kịp lúc nó còn có thịt, thì mây ra cũng vớt vát lại được ít nhiều.

Nhưng vì sự quan quốc cấm, mại cản hiện hành, dân (lại viết nhỏ) bèn đến khép nép hầu xin quan lớn ra ân cho phép, ngõ hầu bớt cho kẻ nghèo được một mối khổ.

Vạn lại, kim túc bẩm”.

Đó là chuyện đời xưa. Bây giờ ở tỉnh Phúc Yên ngoài Bắc có một ông già 70 tuổi làm đơn xin ly dị cô vợ 20 tuổi…

Phải kể đầu đuôi câu chuyện.

Nguyên ông ấy có chân Hàn lâm, kêu là ông Hàn Loét. Ông đã có bà vợ và đông con rồi, mới đây ông lại cưới một cô vợ 20 tuổi, có làm phép cưới đàng hoàng. Ông yêu chiều người vợ mới cưới nầy lắm. Nhưng không biết vì sao cô ta lại làm ra bộ buồn bực mỗi khi thấy ông. Cái chứng cớ là cô ta hay kiếm chuyện đi chỗ nầy rồi đi chỗ khác, không chịu ở nhà với cụ cố.

Người ta nói ông Hàn Loét biết điều lắm. Thấy thái độ vợ như vậy thì ông không ép nài nữa – vì biết có ép nài cũng chẳng được – ông bèn làm đơn tới tòa xin ly dị với nàng.

Người ta còn nói ông biết điều hơn nữa là bao nhiêu vườn ruộng nhà cửa ông sắm cho cô, ông đều dùng mà tiễn chân cô khi ra cửa, chớ không đòi lại.

Những cái đó, người ta biết rành lắm. Người ta chỉ không hiểu và muốn hỏi là điều nầy: Ông già 70 tuổi, trong khi làm đơn xin ly dị người vợ trẻ như thế thì làm cái đơn cách nào? Nói thế nào cho xuôi?

A, có khó gì? Vì muốn trả lời câu hỏi ấy nên ở trên đây tôi đã thuật lại cái lòng đơn lão ngưu phế canh. Cái đơn ly dị của cụ cố tuy không giống hẳn chớ đại ý thì cũng vậy.

THÔNG REO

MỘT TAI NẠN CỦA VĂN HỌC

Nền văn học Việt Nam mới gầy dựng lên vài chục năm nay, đến nay bỗng dưng gặp một tai nạn lớn.

Gọi là lớn, vì cái tai nạn ấy có thể làm hại cho văn học, có thể làm trở ngại sự tấn bộ của nó, không biết bao giờ mới trừ khử được.

Nó gây ra mới vài năm nay bởi mấy ông văn sĩ nửa mùa, mà coi chừng mỗi ngày một lan rộng ra.

Cái tai nạn gì thế? Chẳng có gì lạ, chỉ là viết văn không có nghĩa.

Phải, văn mà không có nghĩa, tức là một cái tai nạn cho văn học.

Phàm văn, khoan cầu hay đã, trước phải cầu cho có nghĩa. Phải có nghĩa đã, rồi sau mới nói đến hay hay dở.

Nhưng hiện nay có một hạng văn sĩ, trong khi viết, hình như họ chỉ cầu cho hay, còn có nghĩa hay không, họ không cần. Bởi vậy, thường có những câu vô nghĩa trong văn học mà có lẽ họ gọi là hay đó.

Một tập thơ xuất bản đã lâu, nhan là Tinh huyết , tác giả là Bích Khê , mà đến ngày nay tôi mới đem ra chỉ trích kể cũng hơi muộn.

Còn nhiều sách khác nữa cũng đáng chỉ trích như vậy, nhưng để đợi hôm khác; hôm nay tôi xin nói trước về tập thơ ấy. Trong đó có nhiều câu không có nghĩa lắm, ở đây tôi chỉ lấy ra một số ít thôi.

Một bài, đề là Hoàng hoa trong có những câu như vầy:

Lam nhung ô! Màu lưng chừng trời,

Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.

Vàng phai nằm im ôm non gầy,

Chim yên eo mình nương xương cây.

“Lam nhung” là gì? “Xanh nhung” là gì? “Chim yên” là gì? “Xương cây” là gì? – Chẳng có nghĩa gì cả!

Lại bài Nghê thường có câu:

Nhung mây tê ngời sao kim cương

Dạ lan tê ngời say men hường

Thì “tê ngời” là gì? Cũng chẳng ai hiểu được!

Lại bài Mơ tiên có câu:

Hồn bay! Hồn bay! Hồn bay!

Ngửa nghiêng tắm mát vàng lay nhạc hường

Cả câu người ta cũng chằng biết muốn nói gì. Mà nhứt là những chữ “vàng lay, nhạc hường” lại càng bí lắm! Ô! Nhạc hường là nhạc gì?

Nhiều lắm, nhiều lắm, kể không hết được.   Nhưng đó là thơ, còn có thể dung thứ; đây nói đến văn.

Văn, chẳng lấy đâu xa, ngay bài tựa dài của Hàn Mặc Tử đề cho tập Tinh huyết  ấy cũng đã lắm cái không có nghĩa.

“Một thứ hương quý trọng thơm đủ mọi mùi phước lộc” – mọi mùi phước lộc là nghĩa gì?

“Thơ lúc ấy sẽ ham thích hết sức những cái gì thanh cao, như hương thơm nhơn đức của vị á thánh”   –  Á thánh là gì? Sao lại phải nói á thánh ở đây?

Không hơi đâu mà kể cho hết cái vô nghĩa của họ. Có một điều lạ là không biết sao vô nghĩa như thế mà họ viết được và lại còn in ra?

Họ là điên chăng? Nếu thế, chỉ có người điên mới hiểu nổi họ mà thôi.

THÔNG REO

THÁI BÌNH THEO KIỂU CHIM ĐÀ

Chim đà hay chim lạc đà, [ 7 ] giống chim mình to cẳng cao, cổ dài, chạy mau mà không bay được, sanh ở phía tây Á châu và Phi châu, vì hình nó hơi giống con lạc đà, nên người ta kêu thế.

Nói về giống chim ấy, có nhiều điều ngây ngô buồn cười lắm, như là nó đụng chi ăn nấy: vỏ ốc, đinh, sỏi sạn mà nó cũng ăn ngon lành cho đến no bụng.

Nhưng những cái đó người ta không kể. Người ta chỉ kể một điều: nó to xác mà dại.

Phía tây Á châu hay Phi châu có nhiều nơi sa mạc, mỗi khi có gió lớn, cuốn cát bay lên, có khi lấp cả nhà cửa, người ở đó gọi là “bão cát”, một tai nạn rất nguy hiểm. Cho được tránh tai nạn ấy, chim đà nghĩ ra một phương pháp kỳ dị và đặc biệt.

Nó chạy nhanh đến 111 cây số một giờ. Giá mỗi lần bão cát xảy đến, nó chạy đi kiếm chỗ ẩn núp thì sẽ được bình an lắm chớ. Nhưng nó lại không chạy, nó đào hầm.

Không phải nó khôn ngoan đào hầm để núp cả toàn thân nó như hiện giờ ở nhiều thành phố người ta đào hầm núp để tránh đạn của máy bay đâu. Nó chỉ bới cát lên thành một cái lỗ vừa lọt cái đầu của nó, rồi nó dúi đầu xuống đó để mà đối phó với tai nạn.  

Sao nó lại làm như thế? Người ta nói sự ấy bởi tư tưởng của giống chim đà mà ra, ví nó có tư tưởng.

Giống nó, con nào như con nấy, nghĩ rằng mọi tai nạn ở thế gian sở dĩ có được là vì mình có mắt mà thấy mới biết rằng đó là tai nạn. Mà con mắt thì ở về bộ vị cái đầu. Vậy mỗi khi sắp có tai nạn, ta đem giấu cái đầu đi, để cho con mắt đừng thấy gì cả, thì tức nhiên là không có tai nạn, tức nhiên là thái bình.

Nhưng nó đã tư tưởng sai đi rồi. Ở xứ đó có những người đi săn chim đà, họ thường bắt được chúng vào khi có bão cát mà chúng đi tránh nạn cách đó. Hồi bình thường người ta không dám đụng đến nó, vì nó có sức mạnh, mà nay thấy nó đâm đầu xuống, chổng đít lên, thì không bắt để làm gì?

Đoạn trên đây nói về chim đà, không phải chính tôi viết ra, nhưng tôi dịch ở một bài sách nói về giống chim ấy. Theo đó thì chim đà là giống chim rất dại.

Nhưng theo tôi thì tôi nghĩ khác. Muốn đoán biết là dại hay khôn, phải là chim đà, phải ở trong hoàn cảnh của nó mới được, chớ còn mình là người ta, mình không phải chim đà, làm sao biết được nó là dại hay khôn?

Như hiện giờ trong chúng ta có kẻ nói rằng: “Hôm nay đọc báo thấy tin nầy, ngày mai đọc báo thấy tin khác, làm cho mình sợ như thể chiến tranh sắp tới; chi bằng đừng đọc gì cả, cứ yên trí rằng trong thế giới vẫn thái bình có hơn không?” – Đó là thái bình theo kiểu chim đà; nhưng biết chừng đâu, hoặc giả có một số người họ cho thế là khôn lắm cũng nên.

THÔNG REO

AI LÀ PHẢN CHÚA?

Theo Kinh Thánh nói, trước khi đức chúa Jésus-Christ lại đến thế gian (có tiếng riêng là “tái lâm”), thì có Anti-Christ đến, – Anti-Christ dịch ra tức là kẻ phản Chúa.

Kinh Thánh lại nói tiên tri rằng trước ngày Chúa tái lâm phải có những điềm lạ dấu dữ, là như động đất, mất mùa, đói kém, và nhứt là giặc giã, chém giết nhau; dân nọ nổi lên nghịch cùng dân khác, nước nọ dấy lên nghịch cùng nước kia.

Gần nay những điềm lạ dấu dữ ấy đã xảy ra luôn luôn trong nhiều xứ ở thế gian. Trên các báo hàng ngày thường thấy đăng tin động đất. Còn sự mất mùa đói kém thì trừ xứ Đông Dương chúng ta ra, có nhiều xứ mắc phải, như bên Thượng Hải, giá gạo tới một trăm đồng một tạ. Giặc giã thì mấy năm nay, khắp ba châu Á, Âu, Phi đều có cả; dạo nầy nếu Mỹ châu và Úc châu bị lôi cuốn vào nữa, thế là giặc giã khắp cả thế giới.

Thấy thời cơ như vậy, có nhiều người, nhứt là những người tín đồ của Chúa Cứu thế, đều tin rằng sắp tới ngày Chúa tái lâm.

Kinh Thánh đã nói cái gì, phải có cái ấy, xưa nay đã nhiều lần ứng nghiệm rồi, thì lần nầy cũng thế: Họ quyết rằng Chúa lại đến thế gian nay mai.

Nhưng, như trên đã nói: theo Kinh Thánh thì trước khi Chúa đến phải có kẻ phản Chúa đến đã. Vậy thì, theo thời cơ mà đoán, đáng lẽ kẻ phản Chúa đã đến rồi, nhưng kẻ ấy là ai?

Hiện thời đây, trên khắp thế gian, người nào là Anti-Christ? Kẻ nào là kẻ phản Chúa? Câu hỏi ấy bấy lâu đã đặt sẵn ở trong đầu nhiều người, nhứt là những người có biết về Kinh Thánh.

Thế rồi người thì chỉ vào ông nầy, kẻ thì chỉ vào ông nọ, đều là những ông ho ra khói, khạc ra lửa.

Kẻ phản Chúa phải là kẻ không có lòng tín ngưỡng, ghét đạo, nghịch cùng giáo hội. Hiện nay có những người nào cầm quyền một dân tộc mà có cái khuynh hướng và cái thái độ như thế, thì đều bị người ta ngờ là Anti-Christ, phản Chúa cả.

Như thế thì không có ai ngờ cho ông Tưởng Giới Thạch, vì ông ấy đã theo đạo trước khi lấy vợ lần thứ hai; nhưng còn hai ông Staline và Hitler phải bị ngờ trước hết, bởi hai ông đều chẳng ưa đạo chút nào.

Oan lắm thay cho hai ông!

Tôi dám thân oan cho ông Staline cùng ông Hitler mà nói quyết rằng hai người ấy đều không phải người phản Chúa.

Bởi lẽ gì? Bởi hai ông đều đã quá tuổi rồi.  

Theo Kinh Thánh, vào thời kỳ Tân Ước về sau, đời người chỉ được 70 tuổi, mà Chúa đã định cho Jésus-Christ sống tròm trèm nửa đời người, còn đến Anti-Christ lại sống không được nửa đời người. Nếu không được nửa đời người, thế là người ấy sẽ sống bờ 30 tuổi. Mà hai ông độc tài nước Nga và nước Đức năm nay đều đã ngoài 50 tuổi rồi, cho nên biết họ đều chẳng phải là Anti-Christ vậy.

Thế thì ai là kẻ phản Chúa?

Chưa biết là ai, nhưng chỉ biết kẻ ấy phải là hạng thanh niên, vụt dấy lên vụt ngã xuống, cái chết của người ấy chỉ trong ngoài 30 tuổi.

Ồ! Cậu nào mà ghê gớm thế?     

THÔNG REO

ĐỪNG LÀM BIẾNG CHỚ

Những tin thế giới đăng trên các báo An Nam đều không phải tin của nhà báo lấy được mà là tin của hãng Arip do nhà nước mua rồi phát cho. Những tin ấy nguyên bằng chữ Pháp, vậy mỗi khi muốn đăng lên báo An Nam thì phải dịch ra quốc ngữ.

Vì dịch ở một thứ chữ khác ra, nên hình như một vài bạn đồng nghiệp tưởng rằng chính mình không chịu trách nhiệm trong sự đó.

Tưởng vậy là lầm. Nhà báo tuy không chịu trách nhiệm về sự thông tin đúng hay không đúng, nhưng phải chịu trách nhiệm về sự dịch đúng hay không đúng.

Đã là cái tin thì không quan hệ nhiều cũng quan hệ ít, tổng chi cũng là có quan hệ. Nếu mình dịch sai đi, làm cho bạn đọc hiểu sai một sự quan hệ, thì cái lỗi đó phải đổ về người dịch, đổ về nhà báo.

Huống chi trong lúc có chiến tranh, sự dịch tin lại càng phải cẩn thận hơn. Bởi vì sai đi một chữ có thể làm cho người ta hiểu ra nghĩa khác, rồi có thể đổi cả sự tin tưởng hay khuynh hướng của họ nữa.

Từ hôm có chiến tranh Nga – Đức đến nay chưa đầy một tuần lễ mà tôi đã thấy trong báo An Nam có dịch sai nhiều tin rồi.

Tin hôm 23 Juin nói không quân Đức hủy phá không quân Nga phỏng từ 1200 chiếc máy bay đến 1800 chiếc. Thế mà báo An Nam có một tờ dịch tin ấy, lại nói Nga bị tiêu diệt 2000 chiếc máy bay.

Tin ngày 24 Juin nói ở Moscou lãnh sự Nhựt được lịnh của chánh phủ mình truyền cho đàn bà trẻ con Nhựt phải rút về bổn quốc. Thế mà một tờ báo ta lại nói Nhựt dời kiều dân ra khỏi nước Nga.

Nội dịch sai hai tin đó đã là bậy rồi. Vả, tin Arip nói máy bay Nga bị phá hủy từ 1200 đến 1800 chiếc, là có ý lấy chỗ 1800 chiếc làm giới hạn, quyết tỏ rằng không đến 1801 chiếc, chớ đừng nói đến 2000. Vậy thì cớ sao báo ta lại dám nói đến 2000?

Còn sự đàn bà con nít đi và sự rút kiều dân về nước, hai sự cũng có ý nghĩa khác nhau nữa. Trong khi nước nầy bất hòa với nước kia và ra lịnh rút kiều dân về bổn quốc, tức là có ý muốn khai chiến với nước ấy. Còn khi thấy một nơi có thể xảy ra sự nguy hiểm mà ra lịnh dời đàn bà con nít thì chỉ để tránh sự nguy hiểm, chớ không có ý gì là khai chiến. Vậy mà báo ta lại nói Nhựt hạ lịnh rút kiều dân khỏi nước Nga, có phải làm cho người ta tưởng Nhựt có ý khai chiến với Nga chăng?

Nói như thế, không phải tôi đảm bảo rằng Nhựt đã ký ước với Nga thì không bao giờ lại khai chiến với Nga. Có sự thực trước mắt đã dạy khôn tôi rồi. Tôi chỉ muốn rằng lúc nào người ta có tin nói sẽ khai chiến thì mình hãy nói sẽ khai chiến.

Tôi vẫn biết mấy bạn đồng nghiệp dịch như thế không có ý xấu gì, chỉ bởi cái tánh làm biếng muốn rút bớt chữ đi cho ngắn.

Nhưng các bạn là người làm báo mà! Đừng làm biếng chớ!

THÔNG REO

CON NÍT CỦA ĐƯỜNG PHAN THANH GIẢN

Hôm nay tôi định viết một chuyện hằng ngày để đăng ở số báo ngày mai, mà cầm bút lên rồi để bút xuống, không viết được, vì lũ con nít chơi trước mặt nhà làm ồn quá; tức mình, tôi lôi chúng nó vào đây cho bõ ghét.

Đường Phan Thanh Giản là một đường của dân lao động ở. Trong chừng một trăm nóc nhà mà chứa đến đôi ba trăm gia đình: Tàu có, An Nam có, họ hình như ăn chung ở lộn với nhau lâu rồi không còn phân biệt quốc tịch của nhau nữa. Nhứt là bọn trẻ con của mấy trăm gia đình ấy chơi với nhau rất “quốc tế”!