Part 1
Chuyện hằng ngày  (1941)  của Phan Khôi
- thông tin về bản này . 
Các bài đăng trên Dân báo , Sài Gòn, số 587 (3 Juin 1941), trang 1, 2; số 588 (4 Juin 1941), trang 1, 4; số 589 (5 Juin 1941), trang 1, 2; số 590 (6 Juin 1941), trang 1, 4; số 591 (7 Juin 1941), trang 1, 4; số 592 (9. 6. 1941), trang 1, 2; số 593 (10 Juin 1941), trang 1, 2; số 593 (10 Juin 1941), trang 1, 2; số 596 (13 Juin 1941), trang 1, 4; số 597 (14 Juin 1941), trang 1, 2; số 599 (17 Juin 1941), trang 1, 4; số 600 (18 Juin 1941), trang 1, 4; số 602 (20 Juin 1941), trang 1; số 603 (23 Juin 1941), trang 1, 2; số 605 (25 Juin 1941), trang 1, 4; số 606 (26 Juin 1941), trang 1, 4; số 607 (27 Juin 1941), trang 1, 4; số 608 (30 Juin 1941), trang 1, 3; số 609 (1 er Juillet 1941), trang 1, 4; số 611 (3 Juillet 1941), trang 1, 3; số 613 (5 Juillet 1941), trang 1, 4; số 614 (7 Juillet 1941), trang 1, 4; số 617 (10 Juillet 1941), trang 1, 4; số 618 (11 Juillet 1941), trang 1, 4; số 620 (15 Juillet 1941), trang 1, 4; số 621 (16 Juillet 1941), trang 1, 2; số 623 (18 Juillet 1941), trang 1, 4; số 625 (21 Juillet 1941), trang 1, 4; số 626 (22 Juillet 1941), trang 1, 4; số 628 (24 Juillet 1941), trang 1, 4; số 629 (25 Juillet 1941), trang 1, 4; số 630 (26 Juillet 1941), trang 1, 4; số 630 (26 Juillet 1941), trang 1, 4.
24074 Chuyện hằng ngày 1941 Phan Khôi
CHO TRÚNG MƯỜI VẠN TÔI CŨNG KHÔNG
Tôi coi hết thảy những sự coi số mạng, coi địa lý, bàn điềm chiêm bao, bói quẻ, cho đến sấm Trạng Trình nữa, đều là đồ phỉnh con nít, đáng khinh và đáng ghét, không thể vào tai được. Thiên hạ, nhứt là thiên hạ xứ An Nam nầy, phục sấm Trạng Trình lắm. Nhưng mà, tôi hỏi, thứ sấm ấy, có nó ra để làm gì, có được việc gì không?
Cho rằng nói tiên tri mà trúng, thế là tài. Nhưng mà phải hỏi cái tài ấy để làm gì, có ích gì mới được chứ?
Người ta có giải thích rằng: nếu biết được sẽ có tai họa mà tìm cách tránh đi cho khỏi, thì cũng có ích lắm, sao lại không?
Nhưng mà nếu quả có vậy thì lại thành ra một cuộc nực cười. Vì nếu ông tiên tri rằng đến tháng sau đây tôi sẽ chết trôi, rồi ông biểu tôi cữ trong tháng ấy đừng đi sông đi biển. Quả nhiên tháng đó tôi không chết. Thế rồi ông nói rằng tôi nhờ nghe lời ông mà khỏi chết, nhưng đồng thời tôi cũng có thể nói rằng điều tiên tri của ông không ứng nghiệm, bởi ông nói tôi tháng đó chết trôi mà tôi chẳng hề đã chết trôi.
Thế có là tầm bậy không? Là phỉnh con nít chớ gì? Những cái thuật kia cũng vậy cả.
Tôi nhơn đọc cuốn sách của ông Trần Văn Giáp nói về “Hai thiên Văn tịch chí của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú”, trong có lời chua kể chuyện ông Lê Quý Đôn như vầy:
Đêm trước ngày sanh ra Lê Quý Đôn, cha của ông là Lê Trọng Thứ nằm chiêm bao thấy có một người gõ cửa, và người ấy xin đầu thai làm con. Hỏi tên gì? Người ấy đáp tên mình là Đặng Xuân (một danh sĩ đời nhà Trần) và muốn làm con ông Thứ trong một thời kỳ mười năm. Thứ không bằng lòng. Người ấy phải hứa sẽ ở trong gia đình đến sáu mươi năm, khi ấy ông mới nhận lời và mở cửa cho vào. Ông Thứ thức dậy thì bà vợ đã đẻ. Đứa con đó sau là Lê Quý Đôn.
Bạn đọc đừng nghĩ rằng ở đây tôi cự ông Giáp là người lấy câu chuyện chiêm bao ấy chua vào sách; nhưng tôi chỉ cự câu chuyện ấy, vì nó tầm bậy đáng ghét quá.
Đó là câu chuyện giảng về luân hồi mà cũng giảng về tiền định. Vì cái ông cầm số (ông gì không biết) đã định cho Lê Quý Đôn sau nầy phải hay chữ, cho nên sai Đặng Xuân xuống (ở đâu xuống?) đầu thai. Mà đã là Đặng Xuân đầu thai thì thế nào Lê Quý Đôn cũng sẽ hay chữ. Tiền định là vậy.
Đã tiền định về tài học, thì về số tuổi, sống bao nhiêu năm, sao lại không tiền định? Mà cái thứ hai nầy đáng lẽ lại còn phải tiền định hơn, vì “tử sinh hữu mạng”, rồi mới đến “phú quý tại thiên”. Thế mà Đặng Xuân vừa mới nói “ở mười năm”, ông Thứ không ưng, va liền có thể thêm 50 năm nữa để được ông Thứ vui lòng mà mở cửa, là nghĩa gì? Như thế thành ra niên thọ của người ta hay là sự sanh tử lại không tiền định!
Trong một câu chuyện mà ý nghĩa tương phản với nhau như thế, ai mà nghe được?
Đành rằng câu chuyện ấy do kẻ háo sự bịa ra. Đáng thương hại là bịa ra một cách dở quá, vụng về quá, trở làm cho đáng ghét.
Ai bảo tôi tin những cái ấy rồi qua ngày mồng bốn tới đây sẽ cho trúng mười vạn tôi cũng chẳng tin nào.
THÔNG REO
TỚI TUỔI RỒI THÌ NÊN CHẾT
Tôi nghĩ người ta ở đời, chết sớm quá thì cũng đáng lấy làm tội nghiệp thật, chứ đã sống đến bực 60, 70, 80 tuổi thì cũng nên chết đi không còn tiếc gì nữa.
Đến 60 tuổi trở lên rồi lại còn là cần phải chết, vì nhiều khi nếu không chết sẽ phải chịu lắm điều thống khổ còn hơn là cái thống khổ trong khi sắp chết.
Tôi thấy có ông cụ 90 tuổi, quan to, con đông, nhà có tiền, đau một trận thật ngặt mà nhờ tốt thuốc lắm nên qua khỏi. Đến năm sau, 91 tuổi, thì người con trai giữa của cụ gặp một tai nạn lớn mà chết; một người con dâu và một người vợ mọn của cụ vì đánh lộn nhau, cụ không phân xử được mà phải đưa ra tòa. Gia đình của cụ là gia đình có phước mà đến lúc bấy giờ đã trở nên một gia đình tồi bại, nhục nhã, mang tiếng mang tai.
Ông cụ ấy, giá trong năm 90 tuổi, khi thọ bịnh, đừng có thuốc men gì cả, để cụ quy tiên đi, thì chẳng là được khuất mắt, khỏi thấy mọi sự đau đớn xảy ra cho nhà mình trong năm sau?
Ấy thế mà, hiện nay, cựu hoàng đế Uy-liêm đệ nhị của nước Đức cũ, kiều cư bên Hòa Lan, bị bịnh nặng, theo lời thông tin của các báo, thì những người hầu hạ chung quanh ngài còn lấy làm lo sợ lắm kia đấy.
Lo sợ! Tôi không biết họ còn lo sợ cái gì?
Cựu hoàng đế Uy-liêm đệ nhị từ khi nước Đức bại trận qua ở bên Hòa Lan năm 1918 cho đến nay, cũng đã già lắm rồi, đâu tới tám chín chục tuổi rồi mà không để cho chết thì còn sống làm gì nữa?
Không ai có phước được như vị hoàng đế ấy. Kể từ khi thất bại bị an trí một chỗ, vẫn được mạnh khỏe luôn hơn 20 năm để thấy lại nước Đức phục hưng. Hiện ngày nay, tổ quốc của ngài đương giao chiến với các nước Âu châu lại luôn luôn thắng lợi, và nước Đức đã trở nên là nước Đại Đức. Giữa lúc đó, giá trời đất, quỷ thần, ông bà phù hộ, cho ngài nhắm mắt phứt đi, chẳng là chết trong sự vinh quang, chết trong danh dự hay sao? Thế mà không chết, chẳng là uổng lắm sao?
( kiểm duyệt bỏ một đoạn )
Ở nước Pháp ngày xưa, ông Molière chủ trương cái thuyết có bịnh không chữa bằng thuốc, tự nhiên cũng khỏi, lấy lẽ rằng cái sức sống trong người ta qua cơn đó sẽ làm cho bình phục lại liền. Bên Tàu, cả nhà ông Tăng Quốc Phiên từ ông cho tới cháu ba đời đều nghĩ và thực hành giống như cái thuyết ấy. Sự thực có phải thế không? Tôi không dám chắc.
Đau mà không uống thuốc để được bình phục, để được sống, thì tôi không dám chắc, chứ không uống thuốc để cho chết, mà bịnh lại bịnh già nữa, thì tôi đám chắc mười phần. Nghĩa là chắc chết.
THÔNG REO
DỊCH LIỀU DỊCH LĨNH
Hôm trước ở chỗ nầy, tôi có nói chuyện, trong một cuốn sách dạy chữ Hán, người ta dám đặt rằng “xuất viên ngoại” rồi dịch tiếng Nôm là “ra ngoài vườn”.
Ai mới thấy, tưởng đó là do chữ Hán dịch ra tiếng An Nam, chứ kỳ thực là do tiếng An Nam dịch ra chữ Hán mà dịch liều dịch lĩnh.
Hôm nay tôi đọc một cuốn sách, thấy có dùng ba chữ “gạch trí khôn”. Ba tiếng mẹ đẻ ấy, tôi không hiểu nghĩa là gì, vì từ xưa đến giờ trong tiếng An Nam chẳng hề có nói như vậy. Ngẫm nghĩ một lúc, tôi mới biết đó là bởi “trait d’ esprit” của tiếng Pháp dịch ra.
Rồi có kẻ mách cho tôi rằng cái sự dịch “trait d’ esprit” ra “gạch trí khôn” chẳng phải bắt đầu từ cuốn sách đó mà từ nhóm Tự Lực văn đoàn; một người trong nhóm nầy dã dùng nó lâu rồi, và chỉ dùng nó một cách như sự đùa bỡn.
Thế mới biết cái sự đùa ở trong một cái xứ như xứ nầy nó có hại là thế. Người thứ nhứt thì đùa, mà người thứ nhì thì tuồng là thật, là sự đứng đắn, cong lưng bắt chước nữa. Nếu có người thứ ba thứ tư nữa thì rồi cái sự đùa ấy lại nghiễm nhiên thành ra cái đứng đắn ngay đi.
Sao biết là đùa? Vì trong cái thành ngữ “trait d’ esprit” chữ “trait” đã mất nghĩa là “gạch”, và chữ “esprit” cũng mất nghĩa là “trí khôn” nữa, khi chúng nó hiệp lại thành một cái thành ngữ như thế chỉ có nghĩa là “câu văn xuất sắc” hay là “ý tứ ngộ nghĩnh”.
Vậy, “trait d’ esprit” là  câu văn xuất sắc hay là ý tứ ngộ nghĩnh, mà nếu dịch là “gạch trí khôn” thì còn có nghĩa gì đâu!
Thế thì kẻ đã dùng ba chữ nầy cũng bởi dịch liều dịch lĩnh như kẻ đã dịch ba chữ Hán trên kia.
Cái lối dịch như vậy không thể được, không nên có; vậy mà giữa chúng ta đã thấy có nhiều lần.
Năm xưa ở Hà Nội có ông kinh lý, mà ở đó gọi ông tham, trong khi nói chuyện với chủ về việc gì đó, nói rằng: “Si cola est vrai, le ciel tombera”. Đó là ông định dịch câu chúng tôi hay nói “Có thật thế, họa là trời sập”, để tỏ ý rằng việc ấy không thể nào có được. Nhưng nói bằng tiếng Pháp như thế thì không có nghĩa chi cả, cho nên người chủ nghe mà không hiểu là gì, hỏi đi hỏi lại đến mấy lần: “Qu’ est ce que vous avez dit?” (Ông mới nói gì đó?).
Nột quá, ông kinh lý không trả lời được, ông phải chối phăng đi mà rằng: “Je ne dis rien” (Tôi không có nói gì hết!)
Tôi phải chịu ông kinh lý ấy là khôn ngoan, và cái cách ứng đối của ông cũng dứt khoát như khi ông đo đất! Giá phải ông quê mùa, dứng mà cắt nghĩa chữ “ciel tombera” cho ông chủ của ông đến hiểu, thì nó lôi thôi biết mấy!
THÔNG REO
 
TỪ THÁP NGÀ BƯỚC RA ĐÀN CHÁNH TRỊ
Trong đám học giả xưa nay, bất luận ở xứ nào, có nhiều người có chung một cái hoài bão: không muốn yên phận làm học giả mà muốn từ biệt cái tháp ngà của mình hầu bước lên đàn chánh trị, nghĩa là ra làm quan.
Sử giặc ra là từ ông Khổng Tử. Ông ấy nói: “Cái thứ chép bằng lời nó trống không, sao bằng bày tỏ ra ở việc làm rõ rệt”. Bởi đó mà ông châu du khắp bảy mươi hai nước chư hầu, đến nỗi xe mòn ngựa mệt mà chẳng ngồi được một cái ghế thượng thư hay tổng trưởng nào hết.
Rồi có nhiều người bắt chước làm như ông Khổng. Họ nói: Ấu đã học thì tráng phải hành. Nhưng chẳng biết theo thực sự, có thể “hành” được cùng chăng; chỉ một điều người ta thấy rõ và biết chắc, là một vị học giả sau khi đã nhảy sang chánh giới rồi, chữ “hành” tạm không cắt nghĩa là “làm” mà cắt nghĩa là “đi”; đi ô tô nhà nước sắm hay là đi bốn lọng.
Phần nhiều học giả ở bên Tàu gần đây đều như thế cả. Trước kia, hồi chưa có Trung – Nhựt chiến tranh, họ đều viết báo viết sách kiếm ăn ở Thượng Hải, làm cái nghề bạc bẽo mà không bao giờ giàu có sung sướng được. Nhưng đến sau khi cuộc chiến tranh Trung – Nhựt nứt ra, chánh phủ cần dùng nhiều nhân tài nên bọn họ đều được lượm lặt đặt lên trên các ghế bất luận là trọng yếu hay không trọng yếu. Thế rồi những viên ký giả tác giả mới ngày nào đó bây giờ đã trở nên tổng trưởng hay thứ trưởng bộ nọ bộ kia, mà có ai đã thấy họ làm ra được trò trống gì đâu?
Đó là cái nội tình của phường học giả Trung Huê, tôi ở đây làm sao biết được mà nói? Chẳng qua nhờ có một ông Huê kiều trong khi đàm đạo với tôi mà có than rằng như thế tôi mới biết.
Nhưng ông Huê kiều ấy không quên ngoại trừ một người, trong khi nói chuyện với tôi, người ấy là Hồ Thích.
Cũng từ có cuộc đánh nhau với Nhựt, Hồ Thích, một vị học giả xuất sắc nhứt của nước láng giềng phía Bắc chúng ta, mới được cử sang làm đại sứ bên Hoa Kỳ.
Lúc đầu Hồ Thích cũng như một ông quan ngoại giao khác, chưa có công trạng chi. Từ khi ngoại giao với Tô Nga thất bại, chánh phủ Trùng Khánh phải níu lấy nước Mỹ thì Hồ Thích làm như cái dây dùng để buộc chặt hai bên. Ông ấy hoạt động lắm ở Hoa-sanh-tông từ khi ngoại trưởng Nhựt Tùng Cương ở Âu châu về, làm cho người Mỹ người Tàu thảy đều chú ý.
Từ đó đến nay, địa vị của đại sứ Hồ được sắp ngồi vào giữa ông tổng thống và ông thủ tướng nước ấy, làm cho cả quốc dân Tàu đều cảm thấy sự vinh quang. Mới rồi một trường đại học có tiếng ở đó lại tặng cho Hồ cái ngôi danh dự bác sĩ [ 1 ] nữa, Hồ nếu chẳng là một người có tài xứng đáng thì làm sao có được cái vinh diệu ấy?
Ở cái tháp ngà ra mà được như thế hãy nên ra. Còn không thì cứ bẹp dí như Thông Reo: 1931: “Câu chuyện hàng ngày” thì 1941 cũng lại: “chuyện hàng ngày”. [ 2 ]
THÔNG REO
CỜ BẠC TRỐN XÂU CŨNG KHÔNG BỊ BẮT
Ở Sài Gòn có một hạng người quanh năm sống nhờ cờ bạc, dù bị cấm bị bắt thế mấy đi nữa họ cũng đeo theo.
Ấy là những sòng bài cào đánh giữa đường phố mà ăn thua không nhiều, chỉ chừng mấy đồng đến mấy chục đồng. Những người ấy, không để họ đánh bạc như thế thì biểu họ làm nghề gì, vì họ vốn không làm nghề gì cả? Thì cứ để họ đánh cũng được.
Thường ở đường Bô-na, đường Et-banh, người ta đi ban ngày chớ không luận ban đêm cũng hay gặp được những sòng ấy. Họ không đánh thứ gì khác hơn bài cào, vì chỉ có bài cào là mau ăn thua và gọn gàng, lúc có động dễ bề thu xếp.
Năm, sáu, bảy hay là chín, mười người, đàn ông có đàn bà có, tụ lại một xó chỗ có đông người qua lại, họ gầy sòng tại đó. Rồi chia bài lia lịa, đặt tiền lia lịa, ăn chung lia lịa, trong nháy mắt đã được mấy ván rồi.
Vì họ có người gác sẵn sàng và kỹ lưỡng. Đầu đường nầy một người, đầu đường kia một người, ngõ nào cũng có người canh phòng của họ cả, hễ có động tĩnh thì ra hiệu cho nhau mà dẹp đi, thôi còn gì đâu mà bắt?
Những sòng bạc ấy được sướng một cái là không bị ai lấy xâu hết. Họ đánh giữa đường; đường là đường của nhà nước chớ của ai mà lấy xâu?
Họ nói với nhau rằng đánh như vậy là khôn, không thèm vào những nơi không có tiếng đánh bạc kỳ thực cũng là đánh bạc, mà lấy xâu lại nặng quá: một đồng bạc đến bốn cắc.
Có lần họ đương đánh mà có lính đến, từ đằng xa, sau khi thấy người gác ra hiệu rồi, họ làm ra bộ dễ tức cười quá nếu ai có để ý và biết: Người thì giả vờ nói chuyện, kẻ thì giả vờ ăn hàng, một vài chị lại làm bộ “đánh gió” cho nhau. Như thế dầu có ông Bao Công sống lại cũng không biết đâu mà xét cho ra!
Vậy mà đã hết đâu. Còn có sòng bạc kiểu khác nữa, huyền diệu hơn.
Vừa rồi Hội tuyển Trung Kỳ vào đá banh với Hội tuyển Nam Kỳ là một sòng bạc lớn cho người ta ăn thua nhau to lắm.
Đánh thứ cờ bạc nầy khỏi phải trải chiếu, khỏi phải đặt đèn, khỏi có bộ bài hay tiền bả gì hết, cũng không thèm ngồi chung hai người một chỗ nữa, hóa lại gọn gàng hơn cách đánh vừa nói ở trên.
Chỉ hai người hay mấy người gặp nhau, nói người nào bắt bên nào, đánh đồng hay đánh chấp, thế thôi. Rồi mãn cuộc đá banh mới bỏ tiền ra ăn chung, vì họ đã tin nhau lắm.
Những con bạc nầy đều là tay sộp cả, hoặc là hạng dân thầy cừ, hoặc là nhà buôn lớn, họ không sợ có sự gạt lật.
Cuộc đá banh Trung – Nam vừa rồi, có kẻ thua nặng lắm. Họ đã chấp tới chục ba, nghĩa là nếu Nam Kỳ ăn ba bàn chỉ kể là huề, vì họ quyết cho Trung Kỳ thế nào cũng thua vậy.
Vậy mà Trung Kỳ lại ăn, cái ăn nầy kể cũng như ăn ngược, nên bên thua thì thua nặng.
Tôi đố ai bắt được đám bạc ấy.
Tôi đem những chuyện nầy kể ra đây để biết cái phong tục Sài Gòn ta trong thời đại nầy mà thôi.
THÔNG REO
KỶ NIỆM CẤM YÊN
Chuyện là chuyện bên Tàu.
Như Dân báo có đăng tin ở một số trước, vừa rồi ngày 3 tháng 6 ở bên Tàu, tại kinh đô Trùng Khánh và các tỉnh có mở cuộc kỷ niệm cấm yên rất long trọng, dân chúng đến dự rất đông đảo.
Số là ngày ấy tháng ấy năm 1936, chánh phủ Tàu bắt đầu ra lịnh cấm hút thuốc phiện, cấm cả trồng và bán nữa, mà hẹn rằng, cấm mãn 6 năm thì trừ diệt được cái họa ghiền a phiện trong cả nước. Từ năm 1936 đến năm nay tính đầy cả 6 năm nên người ta mới cử hành lễ kỷ niệm nầy.
Mãn 6 năm là mãn một kỳ hạn của một cái kế hoạch, làm lễ kỷ niệm cũng phải.  Nhưng ở đời, việc gì cũng vậy, trước hết nên nhìn đến cái thực sự thử ra sao: cái thực sự chẳng ra gì thì có làm lễ kỷ niệm lớn mấy cũng vô ích.
Về cái thành tích của sự cấm yên ở bên Tàu 6 năm nay ra thế nào, ở đây chúng ta không thể biết được; đọc báo Tàu cũng không thấy nói đến.
Nhưng lần nầy, thấy nói trong ngày kỷ niệm, buổi mai thì các nhà đương đạo thay nhau diễn thuyết về sự ích lợi của cuộc cấm yên cho công chúng nghe, đến buổi chiều, người ta có đem ra hai vạn bốn ngàn bộ đồ hút, tức là những bàn đèn, xe, lọ, hay dọc tẩu cùng tiêm, móc mà đốt phá cho tiêu hủy hết.
Thấy nói như vậy, tôi phải lấy làm ngạc nhiên. Tôi không hiểu hai vạn bốn ngàn bộ đồ hút ấy, các quan có chức trách về việc cấm yên tịch thâu chúng nó từ bao giờ.
Nếu những bộ đồ hút ấy mới bắt được trong dạo nầy rồi đem đốt liền đó, thì 6 năm nay cấm cái gì? Cấm cái gì mà trong dân gian có đến hai vạn bốn ngàn bộ bàn tĩnh?
Còn như nói đó là số bàn đèn bắt được 6 năm nay để dồn lại, thì người ta còn không hiểu để dồn lại làm gì, sao chẳng đốt ngay trong mỗi khi bắt được?
Nhơn đó người ta có thể ngờ vực đến cái thành tích của cuộc cấm yên bên Trung Quốc, hoặc giả nó chỉ có danh mà không có thực.
Trong báo Tàu lại còn nói cùng ngày ấy nhưng ở tỉnh Quý Châu có 28 người bị bắn, không phải là người phá hoại trị an, nhưng là người trồng cây thẩu, chở chuyên buôn bán thuốc phiện, cùng kẻ đã bỏ rồi mà ghiền lại.
Đọc cái tin nầy tôi lại chẳng ngạc nhiên chút nào hết dầu rằng đã nghe 28 người bị chết một lần. Là vì cái chết ở nước Tàu ngày nay thường lắm. Một viên đạn bom của máy bay thả xuống, có thể giết được hàng trăm người, thì thứ 28 người bị bắn có là bao? Huống chi những người ghiền, nhứt là kẻ bỏ rồi mà hút lại, thì có để họ sống cũng chẳng còn làm gì được. Đương lúc cả nước chạy theo cái khẩu hiệu kháng chiến, người nào cũng cần phải có sức vác nổi khẩu súng trên vai. Thế mà mấy anh bẹp tai chỉ vác cái dọc tẩu mà vác không muốn nổi thì còn mong gì vác súng? Cho nên họ có chết đi cũng được, vả lại đương lúc thiếu đồ ăn, chết một con, nhòn một đọi, không sao! 
THÔNG REO
SAI ĐI CHỪNG NON BỐN TRĂM NĂM
Trong báo Đông Dương [ 3 ] số mới ra, ở mục “Từng mảnh vụn” có cái mảnh vụn nói về con rồng, người viết báo ấy viết như vầy:
“Tương truyền rằng khi vua Lê Lợi dẹp xong giặc đi chơi thì thấy một con rồng vàng ở từ hồ Hoàn Kiếm bay lên và biến mất nên vua đặt tên kinh đô Hà Nội là thành Thăng Long”.
Thật lạ! Không biết ai “tương truyền rằng” như thế làm cho câu chuyện lọt đến tai của người viết báo Đông Dương để họ nói như thế!
Sao lại vua Lê Lợi? Đi chơi là đi chơi ở đâu? Con rồng nào ở hồ Hoàn Kiếm bay lên rồi biến mất? Hết thảy những chuyện nói đó đều không có ở sách vở nào cả, mà từ trước đến giờ giữa người An Nam cũng chẳng hề có ai tương truyền như thế.
Thật ra thì câu chuyện đó có chép ở Việt sử chứ không phải chuyện truyền miệng cho nhau. Và là chuyện ở đời Lý Thái Tổ là Lý Công Uẩn chứ không phải Lê Lợi là Lê Thái Tổ.
Theo sử chép:
Nguyên hai triều Đinh và Lê (tức Lê Hoàn) đều đóng đô ở Hoa Lư, thuộc về tỉnh Ninh Bình ngày nay. Đến Lý Công Uẩn lên làm vua thay nhà Lê rồi, chê chỗ kinh đô Hoa Lư chật hẹp, bèn dời ra Đại La thành.
(Đại La thành là nơi lỵ sở của quan đô hộ Tàu đóng ngày xưa và cái thành ấy do Cao Biền xây nên; chỗ đó tức là Hà Nội bây giờ nhưng cái tên Hà Nội đến đầu triều Nguyễn đây mới có).
Khi dời đô ra Đại La thành rồi, nhơn có cái điềm rồng giáng (sử chép sơ lược như vậy), Lý Thái Tổ bèn đổi tên là Thăng Long thành.
Vậy cái tên Thăng Long có từ đời Lý kia chứ không phải có từ đời Lê Lợi. Từ Lý đến Lê cách nhau một khoảng chừng non bốn trăm năm, báo Đông Dương nói sai chỉ mất một khoảng ấy.
Thăng Long thành, cái tên ấy trải qua đời Lý, đời Trần và đời Lê cho đến đời Nguyễn đây, kinh đô đem về Huế, nó phải bị đổi là Hà Nội và giáng xuống làm lỵ sở của một tỉnh.
Đến khi trị quyền về nước Pháp, người Pháp lại lấy phần đất của tỉnh ( province ) Hà Nội làm tỉnh Hà Đông, còn để riêng cái lỵ sở Hà Nội xưa kia và mở rộng thêm, đặt làm thành phố ( ville ) Hà Nội.
Nhẫn lên đó, vì tôi sợ người ta hiểu sai theo báo Đông Dương nên sửa lại cho đúng, chớ không có ý chỉ vạch sự sai lầm của báo ấy như nhiều lần trước.
Học trò An Nam vài chục năm nay tiếng rằng có học sử An Nam trong các trường tiểu học và cao đẳng tiểu học, nhưng thực ra thì học sơ lược quá, chuyện trong sử một trăm phần họ chỉ biết được một phần. Những người ấy, khi ra trường rồi họ phải viết để cho người ta đọc, thì thỉnh thoảng nó cũng phải có sai, − sai chừng non bốn trăm năm. [ 4 ]
THÔNG REO
NGƯỜI BÁN CÓ ĐẶC QUYỀN GÌ?
Trong khi lấn hiếp đó, người mua bao giờ cũng là những nạn nhân, còn người bán hình như có đặc quyền gì vậy.
Nếu nói họ có trả môn bài, trả tiền chỗ, trả thuế cho nhà nước, họ phải được hưởng cái quyền ấy, thì đằng nầy, những người mua há lại đều là kẻ lậu thuế, không trả cho nhà nước chẳng món nầy thì món khác sao?
Có nhiều cách lấn hiếp lắm. Trước hết thử hỏi một tách cà phê đen bán 5 xu là nghĩa lý gì? Vả trước kia cà phê đen 3 xu, cà phê sữa 5 xu. Từ ngày sữa lên giá thì cà phê sữa cũng lên giá 6 xu và đến 7 xu, còn có lẽ. Đến nay sữa bị cấm bán, không có cà phê sữa nữa, rồi người ta cứ bán cà phê đen 5 xu thì thật là vô lý.
Cà phê xuất sản ở trong xứ, có phải ở ngoại quốc nhập cảng đâu mà bắt giá lên?
Hiện thời ở Nam Vang, cà phê đen cũng bán 3 xu một tách, thì ở Sài Gòn sao lại bán mắc hơn 2 xu lận? Các món thuế cho đến tiền thuê nhà, tiền đèn, tiền nước ở Sài Gòn cũng như ở Nam Vang, thì người ta lấy lẽ gì mà bán giá cao hơn Nam Vang?
Rồi lại hỏi đến tại làm sao người bán không chịu thối xu cho người mua?
Ừ, họ nói dạo nầy xu năm và xu một không có; thế thì có thật không có không? Bao nhiêu xu năm và xu một nhà nước đã phát hành ra mấy kỳ, rúc vào ngõ nào mà hết?
Vào một tiệm khách trú, kêu tô phở tiếu 5 xu, họ nói không có phở tiếu 5 xu, phải ba tiền (là 6 xu). Hỏi tại sao không chịu nấu 5 xu? Khi thì họ nói đồ ăn mắc lắm không làm 5 xu được, khi thì họ nói không có xu 5 mà thối. Thôi thì mình phải chịu, bảo họ làm ba tiền vậy. Ăn xong, ra quầy, đưa cho họ một cắc. Tên tài phú đùa cắc bạc bỏ vào ngăn kéo rồi đưa ra 4 điếu thuốc lá và một cái hộp quẹt. Nếu người sành ra, không chịu, thì họ lấy về bớt một thứ, hoặc thuốc hoặc quẹt, rồi đưa ra 2 đồng xu, chứ không khi nào họ chịu đưa cả bốn đồng xu để thối cho mình hết. Còn như người không sành, tưởng họ có quyền thối như vậy, thì dầu không bằng lòng lấy quẹt và thuốc đi nữa cũng phải buộc lòng mà lấy.
Như thế thành ra trong khi họ đã bán được một tô phở tiếu, có ăn lời mấy xu rồi, họ còn ép người mua phải mua của họ thêm hai thứ nữa, là quẹt và thuốc.
Một gói thuốc mua trụm cả thì giá 9 xu. Khi họ dùng mà thối như thế nầy, một xu hai điếu, thành ra một gói mười xu, lời ra cho họ một xu nữa.
Người đi mua, mặc dầu trong túi thừa thuốc và quẹt ra, mà cũng phải mua để người bán được ăn lời thêm:     
THÔNG REO
ĐÁNH GIẶC THEO CÁCH VĂN MINH
Theo phương Đông chúng ta thuở xưa, khi hai nước có chiến tranh với nhau thì bên nầy phải coi bên kia là giặc. Mà đã là giặc thì không còn là bạn được nữa. Không luận quốc gia của hai bên đã dứt tình thân thiện với nhau và coi nhau như cừu thù; mà cho đến cá nhân của hai bên, hồi bình nhựt dầu là bạn với nhau, vào thời kỳ nầy cũng phải chiều theo tình thế của quốc gia mà đoạn tuyệt cái tình bạn ấy mới được.
Vậy nếu trong khi hai nước đánh nhau mà một người nước nầy còn thông tin tức, tỏ tình bằng hữu với một người ở nước kia, là bên địch, thì hai người ấy có thể đều bị tội tư thông với giặc do tòa án của bổn quốc buộc cho, không chạy đi đường nào cho khỏi.
Như nước Anh và nước Đức, hai nước hiện đang đánh nhau đó, có thể lập một hiệp ước gì với nhau không? Theo đầu óc chúng ta, chắc ai nấy đều bảo rằng không thể nào được. Hai nước đương chém giết nhau, coi nhau như thù, sao lại có thể lập hiệp ước gì với nhau, châm chước việc gì với nhau được?
Thế mà được. Hiện nay Anh với Đức đã nhờ Mỹ làm trung gian lập một hiệp ước nói về việc gởi thơ cho lính bị bắt tù của hai bên.
Số là từ hồi đánh nhau đến giờ, quân lính của hai bên đều có bị bắt tù nhiều lắm. Lính Anh bị nhốt bên Đức, lính Đức bị nhốt bên Anh. Mà đường thông tin quốc tế đã dứt rồi, thì làm thế nào cho họ vãng lai thơ từ với bà con bạn hữu của họ được?
Muốn cho tù binh hai bên được thông tin thì sở bưu điện Đức phải nhận giao thơ từ cho lính Anh, và sở bưu điện Anh phải nhận giao thơ từ cho lính Đức. Nhưng điều ấy, đương hồi giao chiến nầy, nếu không có hiệp ước thành lập cách chánh thức thì khó nỗi thi hành. Bởi vậy đầu đương đánh nhau họ cũng cố lập cho thành cái hiệp ước ấy.
Đức và Anh coi nhau là cừu địch mặc lòng, mà riêng trong việc nầy họ vẫn chịu thu xếp với nhau.