Chúc phước

Part 2

Chapter 22,170 wordsPublic domain (Wikisource)

Mọi người ở Lỗ Trấn cũng vẫn gọi mụ là mụ Tường Lâm, nhưng cái giọng gọi không giống với trước kia. Họ cũng có nói chuyện cùng mụ, nhưng cái dáng cười đã trở nên lạnh lùng rồi. Mụ toan không để ý đến những sự ấy, cứ nhìn thẳng tới, đăm đăm kể lể với người ta cái chuyện mà chính mụ ngày đêm chẳng quên.

"Tôi thật khờ, khờ quá." Mụ nói, "Tôi chỉ biết lúc sa tuyết những thú rừng ở trong hóc núi không có gì ăn, nó mới xuống đến làng, tôi có ngờ đâu qua mùa xuân rồi nó cũng vẫn xuống. Một buổi sớm mai, tôi dậy mở cưa, xách chiếc giỏ nhỏ đựng đầy một giỏ đậu, tôi gọi thằng A Mao nhà tôi đem ngồi ở ngạch cửa bóc vỏ. Tôi bèn ở sau nhà bổ củi, vo gạo, trút gạo vào nồi, toan ghế đậu. Tôi gọi: "A Mao", không thấy thưa. Đi ra xem, chỉ thấy đậu vung vãi trên đất, không có A Mao nhà tôi. Đi tìm hỏi mấy nơi, đều không có. Tôi sửng sốt, mượn người đi tìm. Cho đến xế chiều, mấy người đi tìm đến trong hóc núi, thấy trên cành gai mắc một chiếc giày nhỏ của nó. Người ta đều nói, thôi hỏng rồi, e bị chó sói rồi. Đi tới nữa, quả nhiên nó nằm trong đám cỏ, ruột gan trong bung đã bị moi ăn tất cả, thương hại trong tay nó còn khư khư nắm lấy chiếc giỏ con..." Thế rồi mụ chảy nướ mắt ra, tiếng cũng nghẹn ngào đi.

Câu chuyện thế mà cũng có hiệu quả. Bọn đàn ông nghe đến đó, thường thường là thôi cười, tiu nghỉu bỏ đi; bọn đàn bà lại chẳng những như là tha thứ cho mụ, trên mặt còn đổi ngay cái bộ khinh bỉ, còn chảy giùm mấy dòng nước mắt. Có mấy bà già không có ở đầu đường nghe chuyện mụ, bèn cố đi tìm cho được, để mụ kể mẩu chuyện bi thảm ấy cho nghe. Khi mụ kể đến nghẹn ngào, họ thảy đều chảy những giọt nước mắt đọng ở khóe, than thở một hồi, hả hê đi trớt, vừa đi lại còn vừa bàn tán nhao nhao.

Mụ dầu chỉ kể đi kể lại có ngần ấy, nó là mẩu chuyện bi thảm, cũng thường thường kéo được năm ba người đến nghe mụ. Song le chẳng bao lâu, người ta nghe đã thuộc làu, dầu cho đến các bà cụ rất từ bi hay niệm phật, khóe mắt cũng ráo hơ. Sau lại, mọi người ở vùng Lỗ Trấn đều có thể đọc trầm câu chuyện mụ, nghe qua một cái là họ chán ngán đến nhức đầu.

"Tôi thật khờ, khờ quá." Mụ bắt đầu nói.

"Phải, chị chỉ biết lúc sa tuyết, những thú rừng ở trong hóc núi không có gì ăn, nó mới xuống đến làng." Bọn họ lập tức cắt đứt câu chuyện của mụ, bỏ đi trớt.

Mụ đứng sững há hốc miệng ra, đăm đăm nhìn bọn họ, rồi cũng bước đi, hình như chính mụ cũng thấy là vô vị. Song le, mụ còn hay nghĩ bâng quơ, mong từ những việc đâu đâu, như cái giỏ nhỏ, đậu, đứa bé của người khác, gợi ra câu chuyện thằng A Mao của mụ. Nếu thấy được đứa bé hai ba tuổi một cái, mụ sẽ nói:

"ờ, thằng A Mao nhà tôi nếu còn sống, cũng đã lớn bằng này rồi."

Đứa bé thấy bộ tướng cặp mắt của mụ liền sợ hãi, níu vạt áo mẹ nó, giục đi đi. Khi ấy còn lưa lại chỉ một mình mụ, mụ cũng tiu nghỉu bỏ đi nốt. Về sau người ta lại đều biết cái dở hơi của mụ, mỗi khi có đứa bé nào ở trước mặt, họ nửa bỡn nửa thực hỏi trước mụ rằng:

"Chị Tường Lâm nè, thằng A Mao nhà chị nếu còn sống, cũng đã lớn bằng này rồi chứ gì?"

Mụ chưa chắc biết rằng câu chuyện bi ai của mụ đã được người ta nhấm nháp ngấu nghiến bấy lâu nay, nó đã thành ra cặn bã, chẳng bõ chán nhàm và phỉ nhổ; nhưng theo dáng cười của mọi người, mụ cũng hơi thấy được là lạnh lùng chua chát, thôi thì mình chẳng cần còn nói nữa làm chi. Mụ chỉ liếc nhìn bọn họ một cái, không trả lời nửa câu.

Lỗ Trấn cứ luôn luôn bước sang năm mới, hai mươi tháng chạp về sau là bận rối lên. Trong nhà chú Tư lần này phải thuê trai làm ngày, còn chưa hết bận, gọi thêm u Liễu làm giúp: giết gà, làm thịt ngỗng. Song le, u Liễu lại là tu tại gia, ăn chay trường, không chịu sát sinh, chỉ việc rửa bát đĩa. Mụ Tường Lâm ngoài việc chụm lửa chẳng có việc gì làm, rỗi lắm, chỉ ngồi xem u Liễu rửa bát đĩa. Tuyết lớt phớt sa.

"Chao ôi, tôi thật khờ!..." Mụ Tường Lâm nhìn trời than thở, như nói một mình.

"Chị Tường Lâm, chị lại bắt đầu rồi." U Liễu trắng trợn nhìn mặt mụ, nói. "Tôi hỏi chị: Cái sẹo trên khóe trán chị có phải bởi hồi đó động đầu mà thành ra không?"

"ờ..." mụ trả lời ấp úng.

"Tôi hỏi chị: Hồi đó vì lẽ gì về sau chị cũng thuận đi?"

"Tôi ấy à?..."

"Chị nè, tôi tưởng: việc ấy cũng bởi chính mình chị đã bằng lòng rồi, chứ không thì..."

"ồ! Chị không biết sức họ khỏe là dường nào..."

"Tôi không tin, không tin chị sức khỏe như thế mà lại chống cự không nổi. Chắc chị về sau chính mình khứng chịu rồi, lại đổ tại sức họ khỏe."

"ồ, chị... Rồi chính mình chị thử xem." Mụ cười.

U Liễu cũng bật cười lên, làm lớp da nhăn trên mặt túm tíu lại như trái hồ dào. Cặp mắt nhỏ và ráo hơ của u liếc nhìn khóe trán mụ Tường Lâm một cái, rồi giắt mắt vào đó. Mụ Tường Lâm hình như rất ké né, tức thì không cười nữa, xoay chiều mắt, đứng nhìn tuyết sa.

"Chị Tường Lâm, thực ra thì chị tính không gọn." U Liễu lại bắt đầu nói thả ví. "Cứ làm già nữa, hay là văng mạnh động đầu đến chết đi một cái, chẳng đã xong rồi. Bây giờ đây, chị cùng người chồng của chị ở với nhau chưa đầy hai năm, trở mắc phải một cái tội lớn. Chị nghĩ xem, về sau chị xuống đến âm phủ, hai con ma đàn ông ấy còn phải giành nhau, chị sẽ về tay ai cho ổn ư? Vua Diêm La chỉ có đem chị cưa hai ra, cho mỗi đằng một nửa. Tôi nghĩ thật là..."

Trên mặt mụ liền hiện ra vẻ sợ hĩ, điều ấy ở trong làng rừng thật chưa hề biết đến.

"Tôi nghĩ, chi bằng chị kíp tính cách đền bù đi. Chị hãy đến trong miếu thổ địa quyên cúng một cái ngạch cửa sau, coi là cái thân chị đấy, để cho ngàn người xéo lên, muôn người bước qua, chuộc cái tội của một đời người, ngõ khỏi phải chịu khổ hình sau khi chết."

Mụ bấy giờ cũng chẳng trả lời ra làm sao, song chừng là buồn rầu quá đỗi. Sáng hôm sau chỗi dậy, trên đôi con mắt vầy hai cái quầng đen to tướng. Ăn cơm sáng xong, mụ bèn đi đến cái miếu thổ địa ở xóm tây Lỗ Trấn quyên cúng một ái ngạch cửa. Lão từ ban đầu còn làm dày chẳng khứng cho; mụ van thiết đến chảy nước mắt, mới gắng gượng nhận lời. Giá cái ngạch là mười hai đồng bạc.

Mụ từ lâu không nói chuyện với ai được, vì câu chuyện thằng A Mao đã bị người ta chán phè rồi; nhưng từ khi trò chuyện với u Liễu, hình như lại đồn đại ra, bao nhiêu người nảy ra một cái thú vị mới, lại tìm đến mụ gạ chuyện. Đến như đầu đề, tự nhiên là đổi một mẩu mới, băm vào cái sẹo ở trên trán mụ kia.

"Chị Tường Lâm! Tôi hỏi chị, lúc đó vì lẽ gì sau lại chị cũng chịu quách?" Một người nói thế.

"ờ, đáng tiếc thật, động đầu một cái toi." Người khác nhìn cái sẹo mụ, phụ họa theo.

Mụ cứ ở dán cười giọng nói của bọn họ, chừng cũng biết là đang chế nhạo mình, nên chi chỉ cứ trừng mắt, chẳng nói một lời, sau đến không quay đầu lại nữa. Mụ cả ngày ngậm chặt mồm, trên đầu đeo mãi cái sẹo mà người ta cho là cái dấu hiệu nhơ nhuốc, cứ lẳng lặng đi đường phố, quét nhà, rửa rau, vo gạo. Vừa đầy một năm, mụ mới nhận lấy ở tay thím Tư món tiền công bấy lâu còn gửi lại, đổi lấy mười hai đồng bạc, xin phép đi đến xóm tây Lỗ Trấn. Chưa đến ăn xong bữa cơm, mụ đã trở về, sắc mặt rất tươi tỉnh, mắt cũng sáng lên, nói với thím Tư như tuồng đắc ý lắm, rằng mình đã quyên cúng cái ngạch cửa ở miếu thổ địa rồi.

Sang đông chí, ngày tế tổ, mụ ra sức làm việc. Thấy thím Tư soạn sửa cúng xong, cùng A Ngưu khiêng cái bàn đến giữa nhà, mụ liền quày quả đi lây chén rượu và đũa.

"Mụ buông ra thôi, mụ Tường Lâm!" Thím Tư lại giật giọng nói.

Mụ thụt tay lại như là bị bỏng, tức thì sắc mặt đổi ra đen xám, cũng chẳng đi lấy đài cắm nến nữa, chỉ đứng sững thất thần. Cho đến lúc chú Tư thượng hương, bảo mụ đi, mụ mới đi. Lần này mụ thay đổi hơn lần nào cả: ngày hôm sau, chẳng những mắt sâu vào, đến cả tinh thần cũng càng kém. Lại thêm nhát gan quá, chẳng những sợ đêm tối, sợ bóng đen, đến thấy người ta, dầu người chủ mình, cũng nơm nớp chẳng khác con chuột nhắt đi ra khỏi hang giữa ban ngày. Chẳng thế thì ngồi đực ra như con người gỗ. Không tới nửa năm, tóc cũng bắt đầu bạc hoa râm, trí nhớ đến hỏng, rất đỗi thường thường quên lửng đi vo gạo.

"Mụ Tường Lâm ra làm sao ấy, biết vậy hồi đó không để mụ ở lại mà hơn." Thím Tư có lúc đã nói như thế trước mặt mụ hình như muốn cảnh cáo.

Nhưng mà mụ vẫn cứ thế, không còn mong gì lanh lợi hơn lên. Bấy giờ họ mới tính cho mụ ra, bảo mụ về với bà Vệ già. Song le, đang lúc tôi còn ở Lỗ Trấn, họ chỉ nói thế thôi; mà xem như tình trạng hiện giờ, biết rằng sau lại đã thực hành điều ấy. Tuy vậy, mụ trở nên ân mỳ ngay khi ra khỏi nhà chú Tư, hay là trước đến nhà bà Vệ già rồi sau mới đi ăn mày thì tôi không biết.

Tôi bị những tiếng pháo đốt gần nổ rất to đánh thức, thấy ngọn đèn sáng vàng bằng hột đậu, kế đó lại nghe pháo tràng rẹt rẹt, ấy là nhà chú Tư đang làm lễ "chúc phước", biết rằng đã sang canh năm rồi. Trong mơ màng, tôi lại mường tượng nghe những tiếng pháo xa xa liên miên chẳng dứt, như họp lại thành đám mây đặc có tiếng vang giậy trời, cùng với hoa tuyết quây quần bay múa, ôm ấp cả một thị trấn. Tôi ở trong sự ôm ấp xôn xao ấy cũng thấy phờ người ra mà khoăn khoái, bao nhiêu sự lo ngại từ ban ngày đến hồi đầu hôm đều nhờ cái không khí chúc phước quét sạch cả, chỉ cảm thấy trời đất quỷ thần đã hâm hưởng những rượu thịt và hương khói, đều say gật gù đi khệnh khạng giữa khoảng không, sẵn sàng ban phát cho mọi người ở Lỗ Trấn những hạnh phúc vô ngần.

(Tháng 7 năm 1942)

   

Chú thích

- ▲ Lỗ Tấn cứ hay công kích bọn phản động, cho nên thường thường bị họ đặt điều nói xấu, phao đồn những tin không lành cho. Đau bệnh thần kinh là điều họ bịa đặt, cũng như có những lần phao tin trên báo, nói Lỗ Tấn bị cảnh sát đánh gãy hai răng cửa, bị bắt giam, bị giết hay là đã chết rồi.

- ▲ Câu này, lời của một vị Tống nho, thấy trong sách Tính lý, nguyên văn là: "Quỷ thần thị nhị khí chi lương năng." Nhị khí là âm và dương; lương năng cũng như nói bản năng. Nếu thật có quỷ thần, và quỷ thần, theo Tống nho nói, chỉ là bản năng của âm dương, thì nó là một sức hoạt động tự nhiên, chẳng có gì làm cho người ta mê tín. Ý tác giả muốn nói ông cụ Tư tuy đã đọc qua câu ấy rồi mà vẫn cứ mê tín, kiêng kỵ.