Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2010

Part 4

Chapter 45,043 wordsPublic domain (Wikisource)

Tháng 11, Hội thánh Báp-tít Ân điển Nam phương đã kỷ niệm 50 năm hoạt động ở Việt Nam. Cựu Chủ tịch Giáo hội Báp-tít Nam phương tại Hoa Kỳ và hiện là đại diện của Ủy Ban Quan hệ Phúc Âm toàn cầu của Hội đồng trị sự Giáo hội Báp-tít Nam phương đã tham dự lễ kỷ niệm và có bài phát biểu quan trọng. Trong cuộc họp với các quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản và Ban Tôn giáo Chính phủ, ông Welch đã ca ngợi những bước tiến của Chính phủ trong việc mở rộng tự do tôn giáo. Tháng 9, Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam với trên 200.000 tín đồ đã tổ chức Đại hội đồng đầu tiên với sự tham dự của hơn 1.000 mục sư và giáo dân, một nửa trong số họ đến từ khu vực Tây Bắc. Tại Hội nghị, giáo hội đã bầu ra Hội đồng trị sự mới và thông qua bản Hiến chương.

Công an và các quan chức đã hợp tác với các chức sắc nhà thờ tại gia ở một số vùng để thông báo cho họ các quy định về tôn giáo. Ban Tôn giáo Chính phủ cũng đã tổ chức nhiều khóa tập huấn chung cho các cán bộ cấp tỉnh, huyện và các chức sắc tôn giáo về các quy định mới về tôn giáo để đảm bảo họ sẽ “thực hiện nhất quán các quy định này”. Ban Tôn giáo Chính phủ đã mời một tổ chức phi chính phủ ở Mỹ là Viện Liên kết Toàn cầu cùng tham gia khóa tập huấn ở tỉnh Lào Cai. Nguồn tin từ Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc ở Tây Bắc khẳng định chính quyền cho phép hầu hết các giáo đoàn chưa đăng ký được hành đạo tại gia và gặp gỡ nhau công khai theo Chỉ thị 2005 của Thủ tướng Chính phủ.

Chính phủ cũng bày tỏ họ sẵn sàng cho phép các tổ chức và cá nhân tôn giáo đào tạo các lãnh đạo tôn giáo thế hệ kế cận. Các chương trình giảng dạy quy mô lớn cho các tín đồ Công giáo, Phật tử và Tin Lành đã được mở rộng. Hội thánh Báp-tít Việt Nam tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo về thần học hệ chính quy bốn năm. Hội thánh Báp-tít cũng tổ chức các khóa học thần học ở các khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long, Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Phòng. Đã có hơn 100 mục sư trên toàn quốc tham gia chương trình này, sau khi kết thúc, các mục sư sẽ nhận được bằng cử nhân về thần học.

Kể từ khi được chính thức công nhận năm 2007, Hội Truyền giáo Cơ đốc đã đào tạo được hơn 210 nhà truyền giáo. Do hầu hết các mục sư truyền giáo trong giáo hội là nông dân người dân tộc thiểu số nên Hội Truyền giáo Cơ đốc đã thiết kế một chương trình đào tạo bán thời gian ở Đà Nẵng với thời lượng 10 ngày/tháng và kéo dài trong năm tháng. Năm 2009 và 2010, Hội Truyền giáo Cơ đốc cũng tổ chức một số khóa bồi dưỡng cho nhiều mục sư tham gia chương trình trên. Ban Tôn giáo Chính phủ đã tiến hành đăng ký chương trình học, hỗ trợ xây dựng bài giảng, cung cấp diễn giả và ngân quỹ để hỗ trợ hoạt động đào tạo. Mười hai mục sư tham gia khóa đào tạo trực tuyến của một học viện thần học ở California đã nhận được bằng thạc sỹ thần học, trong đó có hai mục sư tiếp tục theo học lên cao hơn và nhận được bằng tiến sỹ cũng ở học viện trên. Hội Truyền giáo Cơ đốc cũng tổ chức một chương trình đào tạo thần học hệ chính quy 4 năm với 30 sinh viên theo học, dự kiến họ sẽ tốt nghiệp cử nhân trong năm 2010.

Trong thời gian báo cáo này tương trình, Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam tiếp tục đào tạo và thụ phong cho nhiều mục sư mới trong đó có cả các mục sư ở khu vực Tây Nguyên. Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc cũng tổ chức nhiều hoạt động đào tạo phong phú cho hàng trăm mục sư truyền đạo người dân tộc thiểu số (H’mông và Dao).

Trong thời gian báo cáo này tường trình, Giáo hội Công giáo đã thụ phong cho năm giám mục mới: Ban Mê Thuột, Phát Diệm, Xuân Lộc, Quy Nhơn, Hưng Hóa và Vinh. Giáo hội cũng đã thăng chức hoặc điều chuyển bốn giáo mục khác. Giáo hội Công giáo cho biết Chính phủ tiếp tục nới lỏng kiểm soát đối với việc phong phẩm, bổ nhiệm của Giáo hội, nhiều học viên mới được thu nhận và đã được thụ phong linh mục. Chính phủ không còn hạn chế số lượng học viên tuyển vào các đại chủng viện hàng năm. Giáo đoàn công giáo điều hành 7 chủng viện với 1.500 học viên, các chương trình đào tạo đặc biệt cho các học viên lớn tuổi hơn cũng được xây dựng. Nhu cầu nhập học hiện rất cao và thường thì phải mất vài năm mới được tuyển vào chủng viện này. Tất cả các học viên đều phải được chính quyền địa phương chấp thuận thì mới được nhập học và họ phải đăng ký với chính quyền trước khi được thụ phong linh mục. Tất cả các học viên khi kết thúc khóa học đều được thụ phong. Giáo hội thừa nhận rằng hiện họ không đủ khả năng để mở thêm các đại chủng viện mới nhằm đáp ứng đủ số lượng linh mục để phục vụ số giáo dân đang ngày càng tăng.

Năm 2008, Giáo hội đã mở một trung tâm mục vụ ở Thành phố Hồ Chí Minh để đào tạo các trợ tế và những người đảm nhận các vị trí không cần thụ phong. Nhu cầu nghiên cứu thần học đã vượt quá dự tính và trung tâm hiện đang hoạt động hết công suất. Chính phủ cũng tiếp tục cho phép các linh mục được đi đào tạo tại nước ngoài. Hiện có đến 1.200 linh mục đang hoạt động tại nước ngoài trong tổng số 5.200 linh mục của Việt Nam. Giáo hội Công giáo ước tính Việt Nam là nước đưa linh mục ra nước ngoài nhiều thứ ba trên thế giới, sau Philipin và Ấn Độ.

Trong thời gian báo cáo này tường trình, Chính phủ đã hoàn trả năm tài sản lớn cho Giáo hội Công giáo, gồm có chủng viện Trì Chính ở giáo xứ Phát Diệm, chủng viện Hoàng Nguyên và Sở Kiện ở tổng giáo phận Hà Nội, một trung tâm mục vụ ở giáo phận Đà Lạt và nhà thờ Khoái Đồng ở giáo phận Bùi Chu. Trước đó vào năm 2008, Chính phủ đã trả lại Trung tâm Thánh Mẫu La Vang ở tổng giáo phận Huế, đây là một trong những tài sản mang tính lịch sử quan trọng nhất của Giáo hội trên cả nước.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam có bốn học viện, tám trường cao đẳng, 30 trường trung cấp và 25 trường sơ cấp đào tạo về Phật học cho hàng nghìn phật tử và tăng ni trên cả nước. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết cả nước ước tính có khoảng 50.000 tăng ni. Học viện cấp đại học lớn nhất tại Hà Nội có khoảng 1.500 tăng ni đang theo học. Tháng 5, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã khởi công xây dựng một ngôi chùa Phật giáo và trung tâm đào tạo mới ở ngoại ô Hà Nội, chi phí xây dựng chùa khoảng 120 tỷ đồng (tương đương 6,3 triệu đô-la Mỹ).

Năm 2008, các khóa học toàn thời gian lần đầu tiên đã được tổ chức tại cơ sở đào tạo bậc đại học ở Cần Thơ, chuyên giảng dạy về Phật Giáo Nam Tông. Học viện Phật giáo Nam Tông Khmer này được Giáo hội Phật giáo Việt Nam mở ra từ năm 2007. Chính phủ đã cấp đất đai để xây dựng và mở rộng hơn nữa học viện này. Trong thời gian bản báo cáo tường trình, học viện đã tuyển sinh 240 học viên và dự kiến khóa học sẽ tốt nghiệp vào năm 2011. Ngoài ra, Chính phủ còn mở rộng trường trung học ngôn ngữ Pali ở tỉnh Sóc Trăng và tiếp tục cung cấp tài liệu giảng dạy cho các nhà sư Khơ-me Krom để hỗ trợ cho các viện đào tạo ngôn ngữ Pali tại các chùa chiền trên toàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Chính phủ chi trả học phí cho các nhà sư Khơ-me đang theo học tại tất cả các trường đại học trên toàn quốc như đã làm với người dân tộc thiểu số Khơ-me. Trường đã đào tạo 823 học viên và số lượng học viên hiện đang theo học là 150. Cả học viện và trường trung học này đều tuyển sinh hết chỉ tiêu và tổ chức các kỳ thi tuyển sinh đầu vào cạnh tranh.

Nhiều mục sư của các giáo đoàn Tin Lành như Hội thánh Cơ đốc Phục Lâm, dòng Mennonite, các hệ phái Báp-tít, Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam và Phúc âm Ngũ tuần không muốn gia nhập Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam hoặc Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc do khác biệt về tín lý. Các Giáo đoàn trên và một số giáo đoàn khác cho biết họ được công khai hành đạo và được chính quyền địa phương thừa nhận, đặc biệt là ở khu vực đô thị. Mặc dù vẫn có một số trường hợp ngoại lệ nhưng nhìn chung mức độ sách nhiễu của chính quyền đối với các giáo hội tại gia chưa được công nhận trực thuộc các hệ phái nằm ngoài Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam và Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc tiếp tục giảm. Chính Phủ đã tiến hành đối thoại về thủ tục đăng ký và công nhận với các chức sắc của một số hệ phái Tin Lành như Hội thánh Giám lý Liên hiệp Việt Nam, Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô và phái Chứng nhân Giê-hô-va.

Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc tiếp tục phát triển ở khu vực Tây Bắc, đặc biệt là ở tỉnh Điện Biên và Sơn La. Mặc dù trong giai đoạn báo cáo này tường trình cán bộ tỉnh chỉ cấp đăng ký cho một số ít giáo đoàn Tin Lành, nhưng các giáo đoàn ở hai tỉnh này cho biết các hạn chế đã được nới lỏng, họ có thể hành đạo, tổ chức các hoạt động tôn giáo khác mà không gặp phải trở ngại nào. Cũng như năm trước, các giáo đoàn này đã tổ chức lễ Giáng sinh và Phục sinh mà không gặp khó khăn nào, đây là một tiến bộ rõ rệt so với các năm trước đây. Cộng đồng Do Thái cũng tổ chức nghi lễ cắt bao quy đầu cho trẻ em đầu tiên ở Việt Nam.

Mặc dù vẫn có các cuộc biểu tình xung quanh vấn đề tranh chấp đất đai trong thời gian bản báo cáo tường trình nhưng mối quan hệ giữa Giáo hội tôn giáo và Chính phủ vẫn tiếp tục được cải thiện. Tháng 12/2009, lần đầu tiên Chủ tịch nước có chuyến công du đến Vantican gặp gỡ Giáo hoàng, Tòa thánh Vantican gọi đây là “một giai đoạn mới cho mối quan hệ song phương với Việt Nam”.

Các chức sắc công giáo thường xuyên viếng thăm Tòa thánh Vantican để tham vấn. Tháng 6/2009, 30 giám mục Công giáo đã yết kiến Giáo hoàng và mời Giáo hoàng sang thăm Việt Nam trong năm 2010. Chính phủ cũng tạo điều kiện để tổ chức Hội thảo của Liên Hội đồng Giám mục Á Châu lần đầu tiên được tổ chức ở Việt Nam với sự tham dự của 40 giám mục và linh mục từ Bangladesh, Ấn Độ, Nhật Bản, Ma Cao, Malaysia, Philipin, Hàn Quốc, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam.

Khác với những năm trước đây, các giáo dân ở tỉnh Sơn La được phép công khai tổ chức lễ Phục sinh và Giáng sinh cho hàng ngàn giáo dân tại một số nhà thờ tại gia lớn, một linh mục được được phép hành lễ. Vị linh mục này cũng được tổ chức cho rước lễ tại một điểm nhóm chưa đăng ký vào mỗi ngày thứ bảy với hơn 100 tín đồ Công giáo thường xuyên tham dự.

Ngày 23-24/6/2010, Chính phủ và Tòa thánh Vantican đã tổ chức cuộc họp vòng 2 của “Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam – Vantican” ở Roma về việc thiết lập lại quan hệ ngoại giao giữa hai bên. Hai bên ghi nhận những bước phát triển đáng khích lệ trên nhiều lĩnh vực của đời sống Công giáo ở Việt Nam, lập kế hoạch cho các vòng đối thoại tiếp theo. Hai bên nhất trí sẽ cử Đặc Phái viên không thường trú của Vatican tại Việt Nam. Chính phủ duy trì đối thoại thường xuyên với Vantican về hàng loạt vấn đề như lãnh đạo giáo hội, hoạt động có tổ chức, các vấn đề đất đai và đối thoại liên tôn giáo.

Tháng 5/2010, hơn 2.000 vị tăng ni và Phó Thủ tưởng Chính phủ, chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện của Thành ủy, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội và các tu viện đã tham dự Đại lễ Phật Đản. Các quan chức chính phủ cấp cao và hàng nghìn tín đồ cũng tham dự các buổi lễ quy mô lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Ninh Thuận, Hậu Giang và An Giang.

Tháng 5/2010, Phó Thủ tướng kiệm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm công bố kế hoạch chuẩn bị cho Hội nghị Cấp cao Phật giáo Thế giới tại Việt Nam dự kiến tổ chức vào tháng 11/2010 tại Hà Nội. Các cuộc họp liên quan khác sẽ được tổ chức ở Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh và tỉnh Ninh Bình.

Tháng 3, nhà truyền giáo Phúc âm người Mỹ nổi tiếng thế giới Luis Palau đã đến thăm Việt Nam, Chính phủ đã cho phép ông tổ chức một buổi truyền giảng Phúc Âm cho trên 500 tín đồ Tin Lành ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện cho hầu như toàn bộ các giáo đoàn Tin Lành trên cả nước. Hàng trăm tín đồ khác cũng theo dõi trực tiếp buổi truyền giảng qua Internet. Tháng 5, Tổ chức Thông công Doanh nhân Cơ đốc thế giới đã tổ chức hội nghị thường niên lần thứ hai tại Thành phố Hồ Chí Minh, hội nghị đã thu hút sự tham gia của hơn 100 doanh nhân, trong đó có nhiều người nước ngoài đang sinh sống tại Việt Nam.

Nhiều nhóm tôn giáo đã mở rộng hoạt động từ thiện và được Chính phủ chấp thuận. Các Phật tử, tín đồ Công giáo, tín đồ đạo Cao Đài và Tin Lành đã tham gia các chương trình viện trờ và đóng góp được tổng cộng trên 15 triệu đô-la. Các lĩnh vực các nhóm tôn giáo tham gia gồm có giúp đỡ người nhiễm HIV/AIDS, cứu trợ thiên tai và hỗ trợ trẻ em mồ côi và trẻ em có nguy cơ cao. Nhiều tổ chức phi chính phủ tôn giáo cũng đã tiến hành nhiều hoạt động từ thiện với sự giúp đỡ, ủng hộ của các nhà tài trợ tư nhân, các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước.

Uỷ ban Bác ái Xã hội Việt Nam trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt nam (Caritas Việt nam) đã tổ chức các khóa tập huấn cho những người làm công tác xã hội để họ hỗ trợ những người bị nhiễm HIV/AIDS và những người bị bạo hành. Ủy ban cũng tổ chức các hoạt động cứu trợ thiên tai như hỗ trợ nạn nhân lũ lụt. Tính đến cuối năm 2009, số tiền Caritas Việt nam đóng góp đã lên đến gần 500.000 đô-la Mỹ (9,2 tỷ đồng) và dự kiến sẽ đóng góp khoảng 1,15 triệu đô-la Mỹ (21,84 tỷ đồng) vào năm 2010. Tháng 3/2009, Tổ chức Cứu trợ Công giáo đã kỷ niệm 15 năm hoạt động ở Việt Nam. Tại Thành phố Hồ Chí Minh và Huế, Giáo hội Công giáo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phối hợp hỗ trợ các trung tâm khám chữa bệnh cho những người nhiễm HIV/AIDS và dịch vụ tư vấn cho thanh thiếu niên. Giáo hội cũng có một trung tâm hỗ trợ cho các bà mẹ nhiễm HIV và trẻ em bị lây nhiễm HIV. Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh và Giáo hội Công giáo vẫn tiếp tục thảo luận về cách thức để các sáng kiến mới trong lĩnh vực hoạt động xã hội được thông qua.

Tương tự, cán bộ tỉnh Thái Bình cũng khuyến khích các giáo đoàn Công giáo hỗ trợ hoạt động điều trị HIV/AIDS và chăm sóc người tàn tật. Chính quyền Thành phố Hải Phòng khuyến khích Giáo hội Công giáo hỗ trợ điều trị cai nghiện và các chương trình HIV/AIDS. Giáo xứ Công giáo Nam Định cũng đang điều hành một trại trẻ mồ côi. Giáo hội Phật Giáo Việt Nam cũng tham gia các hoạt động từ thiện trên khắp cả nước, chẳng hạn như các chương trình phòng chống ma túy, chăm sóc trẻ em và các chương trình phòng chống HIV/AIDS. Giáo hội Phật giáo Việt Nam có rất nhiều cơ sở khám chữa bệnh cho người có thu nhập thấp trên khắp cả nước. Thành phố Hà Nội cho phép một số chùa trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam được mở các trại trẻ mồ côi dành cho trẻ em bị bỏ rơi và trẻ em tàn tật và điều trị HIV/AIDS. Các chức sắc Hồi giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh cho biết chính quyền thành phố ủng hộ các hoạt động hỗ trợ người nghèo của họ. Các nữ tu Công giáo và các sư nữ thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng cùng phối hợp điều hành một cơ sở điều trị HIV/AIDS ở Huế.

Nhiều nỗ lực liên tôn giáo cũng đã được triển khai để thực hiện các chương trình từ thiện. Các Phật tử, các giáo hội Cao Đài, Hòa Hảo, Công giáo và Tin Lành tiếp tục hợp tác trong cuộc chiến chống HIV/AIDS. Tháng 10, VFF, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) đã tổ chức hội thảo quốc gia về chiến lược phòng chống HIV/AIDS, hỗ trợ nạn nhân của đại dịch và đã tiến hành tập huấn cho các sư sãi và nữ tu trên toàn quốc. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, các Phật tử và tín đồ Công giáo đã hợp tác chặt chẽ với nhau để cùng hổ trợ các trẻ em đường phố, trẻ mồ côi, người nghèo, bệnh nhân AIDS và nạn nhân của các thảm họa thiên tai. Tổng cộng có đến 115 trung tâm giúp đỡ người tàn tật và người già và 23 trung tâm hỗ trợ các bệnh nhân tâm thần, người nghiện ma túy và bệnh nhân AIDS. Các chức sắc Phật giáo và Công giáo cũng hợp tác với nhau để nâng cao nhận thức về vấn đề bảo vệ môi trường. Tại một cơ sở khám chữa bệnh tại tỉnh Kiên Giang, các bác sỹ Công giáo và Phật giáo cùng với các tín đồ đạo Cao Đài đã cùng nhau sản xuất các loại thuốc nam dược. Các tín đồ Tin Lành đến thăm và tặng quà còn các tín đồ đạo Hòa Hảo thì cung cấp bữa ăn miễn phí cho trên 300 bệnh nhân và người nhà của họ.

Hội đồng trị sự Giáo hội Hòa Hảo tiếp tục tham gia tích cực vào các dự án từ thiện và phát triển ở địa phương, trong đó có dự án xây dựng 800 ngôi nhà cho các gia đình nghèo, bất kể các gia đình đó theo tôn giáo nào. Các tín đồ cũng đóng góp nhiều công sức để điều hành các cơ sở khám chữa bệnh địa phương. Trong năm 2009, họ đã đóng góp hơn 2 triệu đô-la Mỹ (39 tỷ đồng) cho các hoạt động từ thiện và dự định sẽ chi khoảng 1,5 triệu đô-la (29 tỷ đồng) trong năm 2010.

Chủ tịch của Viện Liên kết Toàn cầu, một tổ chức phi chính phủ của Mỹ đã hội kiến với Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và thảo luận về tầm quan trọng của tự do tôn giáo và để thắt chặt thêm mối quan hệ giữa hai bên. Phái đoàn của Viện Liên kết Toàn cầu cũng gặp gỡ các cán bộ địa phương ở tỉnh Điện Biên và thảo luận về việc mở rộng tự do tôn giáo. Phái đoàn cũng tiếp xúc với một nhà thờ tại gia chưa đăng ký tại đây. Cựu Tổng thư ký Ủy hội Quốc gia các Giáo Hội và cựu nghị sỹ Bob Edgar cũng dẫn đầu một phái đoàn liên tôn giáo đến thăm Việt Nam để tìm hiểu về ảnh hưởng của hậu quả chiến tranh Việt Nam.

Một số thành phố như Cần Thơ, Huế và các thành phố lớn đã tích cực khuyến khích các hoạt động từ thiện liên tôn giáo. Thành phố Cần Thơ đã tổ chức một ngày liên tôn giáo khu vực nhân dịp 5 năm thực hiện Nghị định về tôn giáo và mời các chức sắc của đạo Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo và Công giáo tham dự. Tương tự, tỉnh Sóc Trăng và các tỉnh khác cũng tổ chức ngày liên tôn giáo chống đói nghèo, các nhóm tôn giáo khác nhau đã cùng quyên góp tiền để giúp đỡ người nghèo và thực hiện các chương trình đã đề ra.

Chính phủ tiếp tục tuyên truyền chính sách tự do và khoan dung tôn giáo đến tất cả các cơ quan Nhà nước. Tháng 7/2009, ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tham dự một Hội nghị của Đảng để rà soát quá trình năm năm thực hiện nghị quyết của Đảng Cộng sản về việc cho phép tăng cường đa dạng tôn giáo. Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và ông Trương Tấn Sang đều nhấn mạnh cần phải tăng cường tuyên truyền và phổ biến nghị quyết của Đảng về vấn đề tôn giáo nhằm đảm bảo các bộ luật và quy định về tôn giáo được triển khai đầy đủ. Ban Tôn giáo Chính phủ tiếp tục tập huấn cho nhiều cán bộ tuyên truyền cấp tỉnh ở vùng Tây Bắc hơn nữa để phổ biến các chính sách về tự do tôn giáo nhằm giảm nhẹ tình trạng căng thẳng giữa những người theo tín ngưỡng truyền thống và những người đã chuyển sang đạo Tin Lành.

Phần III. Tình hình tôn trọng quyền tự do tôn giáo

Trong thời gian báo cáo này tường trình, ít có các báo cáo về tình trạng phân biệt đối xử hoặc bạo lực vì lý do tôn giáo.

Sự xuất hiện của các phần tử ly khai “Đề-ga” đã làm sự phát triển của đạo Tin Lành ở Tây Nguyên trở nên phức tạp. Nhóm này chủ trương đấu tranh vì một nhà nước tự trị hoặc độc lập cho người thiểu số ở khu vực, đặc biệt là ở các tỉnh Gia Lai, Đắc Nông và Đắc Lắc. Mối quan hệ giữa phong trào Đề-ga và các tín đồ Tin Lành trực thuộc Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam đã trở nên căng thẳng ở một số nơi ở Tây Nguyên. Các nhà hoạt động Đề-ga đã đe dọa các mục sư Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam không được phép hoạt động trong địa phận “Nhà nước Đề-ga” trừ khi họ từ bỏ Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam. Các mục sư Tin Lành khác đã cáo buộc phong trào Đề-ga đang lợi dụng tôn giáo để phục vụ các mục tiêu chính trị.

Các tín đồ Tin Lành người Khmer cho biết họ bị các Phật tử người Khmer Krom ở một số huyện ở tỉnh Trà Vinh sách nhiễu, trả thù và trong một số trường hợp còn phá hoại tài sản và đánh đập. Họ cho biết chính quyền địa phương hầu như không làm gì để ngăn chặn những vụ việc này, thậm chí trong một số trường hợp còn tham gia hoặc kích động gây rối.

Hồng y Phạm Minh Mẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức một buổi tọa đàm liên tôn giáo và dạ tiệc Giáng sinh tại tổng giáo phận và mời các chức sắc của giáo hội Tin Lành, Phật giáo, Hồi giáo và đạo Cao Đài đến dự. Hồng y Phạm Minh Mẫn thay mặt Giáo hội Công giáo Việt Nam đã chính thức xin lỗi về các hiểu lầm trước đây và kêu gọi mở ra một thời kỳ mới của đối thoại liên tôn giáo.

Phần IV. Chính sách của Chính phủ Mỹ

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tích cực và thường xuyên bày tỏ quan ngại về quyền tự do tôn giáo với các nhà lãnh đạo Đảng và các quan chức Chính phủ, kể cả lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Công an, và các cơ quan khác tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh. Đại sứ quán cũng duy trì tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo và những người bất đồng chính kiến và định kỳ viếng thăm các chức sắc tôn giáo trên cả nước.

Ngoại trưởng Mỹ Clinton trong các cuộc tiếp xúc với quan chức Chính phủ trong năm ngoái đã kêu gọi cải thiện hơn nữa tự do tôn giáo. Tự do tôn giáo cũng là trọng tâm chính của Đối thoại Nhân quyền song phương Mỹ - Việt năm 2009. Thứ trưởng Ngoại giao, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa kỳ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Đại sứ Hoa kỳ, Tổng lãnh sự Hoa kỳ ở Thành phố Hồ Chí Minh và các cán bộ tại Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán cũng thảo luận về các vấn đề về tự do tôn giáo với các quan chức cấp cao, kể cả Chủ tịch nước, Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng bộ Ngoại giao, Trưởng ban Tôn giáo Trung ương, các Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và Bộ Công an, các quan chức Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh, các quan chức chính phủ cấp cao, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh trên cả nước và các quan chức, cán bộ khác, đặc biệt là ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

Các quan chức của Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán thường xuyên có các cuộc thăm viếng đến các khu vực trên khắp đất nước, đặc biệt là ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long để theo dõi môi trường tự do tôn giáo và thường xuyên nhấn mạnh rằng sự tiến triển trong vấn đề tự do tôn giáo và nhân quyền là nhân tố quan trọng để thúc đẩy quan hệ song phương giữa hai nước.

Các viên chức của Đại sứ quán Hoa Kỳ thúc giục công nhận nhiều nhóm tôn giáo, trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, các nhà thờ Tin Lành tại gia và các nhóm Hoà Hảo và Cao Đài bất đồng. Họ cũng thúc giục Chính phủ trao quyền tự do nhiều hơn nữa cho các nhóm tôn giáo được công nhận và chấm dứt những hạn chế đối với các nhóm không đăng ký. Đại sứ và các viên chức trong Đại sứ quán cũng nêu các vụ việc cụ thể mà Chính phủ sách nhiễu các tín đồ Công giáo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cộng đồng Phật giáo ở Làng Mai, các giáo hội Hòa Hảo và Cao Đài chưa được công nhận và các giáo hội Tin Lành lên Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an. Đại sứ cũng đã yêu cầu Chính phủ điều tra các cáo buộc về việc lạm dụng các tín đồ một cách vô lý và trừng phạt các cán bộ có liên quan. Các viên chức Sứ quán cũng kêu gọi cho đăng ký và mở cửa trở lại các nhà thờ tại gia từng bị đóng cửa và giải quyết các tranh chấp đất đai kéo dài một cách hòa bình.

Với trường hợp của pháp môn Phật giáo Làng Mai, cán bộ lãnh sự quán đã đến thăm làng Mai và tiếp xúc với người đứng đầu Cộng đồng Làng Mai sau vụ bạo lực ở Tây Nguyên. Đại sứ và Phó Đại sứ cũng đã có trên mười cuộc tiếp xúc với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Ban Tôn giáo Chính phủ kêu gọi sự khoan dung, đề nghị đăng ký cho pháp môn này và chấm dứt tình trạng sách nhiễu. Ngoại trưởng Clinton và các quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao đã bày tỏ quan ngại về việc đối xử với các Phật tử ở Làng Mai trong các cuộc họp cả ở Mỹ và ở Việt Nam.

Đại sứ Mỹ và các viên chức của Đại sứ quán cũng tiếp xúc với các quan chức Chính phủ sau khi cây thánh giá lớn bằng bê tông ở Đồng Chiêm bị phá dỡ và các tín đồ Công giáo bị đánh đập. Đại sứ và Phó Đại sứ đã nhiều lần tiếp xúc với tổng giám mục Hà Nội, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Ban Tôn giáo Chính phủ để yêu cầu ngừng việc ngược đãi và tìm giải pháp hòa bình cho tranh chấp về đất đai. Các viên chức Đại sứ quán cũng thường xuyên tiếp xúc với các tín đồ ở Đồng Chiêm.