Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2010

Part 1

Chapter 14,949 wordsPublic domain (Wikisource)

← Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2009

Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2010  (2010)  của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam dịch Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế, giai đoạn từ tháng 7-12, 2010 →

- thông tin về bản này . 

Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2010, do Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố ngày 17/11/2010.

của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 13770 Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2010 2010 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Việt Nam

Hiến pháp quy định quyền tự do tôn giáo; tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều nhóm tôn giáo.

Trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình, việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo và hành đạo tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những vấn đề nghiêm trọng, trong đó bao gồm một số vụ việc chính quyền địa phương sách nhiễu và sử dụng vũ lực chống lại các nhóm tôn giáo tại một số khu vực và chậm trễ trong việc cấp đăng ký cho các chi hội Tin lành. Chính phủ đã triển khai thêm các biện pháp nhằm thực hiện Pháp lệnh Tôn giáo và Tín ngưỡng năm 2004 và các chính sách tôn giáo ban hành năm 2005 (gộp lại thành khung pháp lý của Chính phủ). Chính phủ cũng hỗ trợ xây dựng các nhà thờ, nhà nguyện, chùa chiền và các cơ sở đào tạo để tăng cường giáo dục cho hàng ngàn tăng ni, linh mục, nữ tu và mục sư. Các giáo đoàn mới đã được đăng ký tại nhiều tỉnh trên khắp 64 tỉnh thành trên cả nước. Chính phủ cũng cho phép các tổ chức tôn giáo mở rộng các hoạt động từ thiện. Thủ tướng Nguyễn Minh Triết đã hội kiến với Giáo hoàng Benedict XVI tại Tòa thánh Vatican. Việt Nam và Tòa thánh Vantican thống nhất sẽ bổ nhiệm một Đại diện không thường trú của Vatican tại Việt Nam, coi đây là động thái đầu tiên để tiến đến việc thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện giữa hai bên. Các giáo hội công giáo, các hội thánh Tin Lành và các giáo đoàn nhỏ hơn cho biết việc tụ họp và hành đạo nhìn chung đã được cải thiện, Chính phủ đã nới lỏng hạn chế về bổ nhiệm các chức sắc tôn giáo mới. Chính phủ cũng cho phép các Phật tử, tín đồ Công giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và Tin Lành được tổ chức các buổi lễ tôn giáo lớn trên cả nước, một số sự kiện có đến trên 100.000 người tham gia.

Mặc dù đã có những tiến bộ trong giai đoạn báo cáo này tường trình nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là ở cấp huyện và xã. Những vấn đề này bao gồm việc chậm trễ, trong một số trường hợp thậm chí còn không thực hiện việc đăng ký cho các giáo đoàn Tin Lành ở miền Bắc và Tây Bắc, nguyên nhân là do việc áp dụng không đồng bộ các thủ tục đăng ký. Sau năm năm trì hoãn việc đăng ký, đến nay chính quyền trung ương vẫn chưa chấp thuận bản dịch Kinh thánh bằng tiếng H’mông. Chính phủ vẫn duy trì vai trò chủ đạo trong việc kiểm soát tất cả các tôn giáo đã được chính thức công nhận. Các nhóm tôn giáo phải chịu những hạn chế khắt khe nhất khi tham gia vào các hoạt động mà Chính phủ cho là thách thức quyền lực của Đảng Cộng sản. Chính phủ tiếp tục không cho Phật tử Hòa Hảo và đạo Cao Đài đăng ký và ngăn chặn việc tham gia vào các giáo phái này do họ đã và đang ủng hộ các lực lượng chống lại Chính phủ. Chức sắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không được công nhận cho biết Chính phủ tiếp tục giám sát chặt chẽ các hoạt động của giáo hội và hạn chế việc đi lại của các chức sức giáo hội. Cũng có những trường hợp trong đó Chính phủ có tham gia hoặc cho phép sử dụng bạo lực chống lại các nhóm tôn giáo, trong đó có các vụ bạo lực đối với cộng đồng tín đồ phật giáo tại Làng Mai của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sử dụng bạo lực quá mức khi phá hủy thánh giá làm bằng bê tông tại khu vực tranh chấp tại giáo xứ Đồng Chiêm. Tại giáo xứ Cồn Dầu, những người biểu tình chống lại việc thực hiện thỏa thuận đóng cửa nghĩa trang giữa chính quyền và giáo hội công giáo đã bị tạm giữ do bị buộc tội khuấy động bạo lực và bị đối xử hà khắc.

Trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình, ít xảy ra các vụ bạo động xã hội có liên quan đến lý do tôn giáo, tín ngưỡng hay hành đạo. Nhiều tín đồ Công giáo và Tin Lành cho biết những người theo đạo Thiên Chúa bị phân biệt đối xử không chính thức khi ứng cử vào các vị trí trong Chính phủ.

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh nói chung đều duy trì đối thoại thường xuyên với các quan chức cấp cao cũng như các quan chức chuyên trách của Chính phủ nhằm thúc đẩy hơn nữa tự do tôn giáo. Các quan chức Hoa Kỳ cũng gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo, kể cả các nhà hoạt động tôn giáo nằm trong danh sách theo dõi của Chính phủ. Ngoại trưởng Clinton và các quan chức khác của Bộ Ngoại giao đều bày tỏ quan ngại về tự do tôn giáo và kêu gọi cải thiện hơn nữa quyền tự tôn giáo. Tự do tôn giáo cũng là một vấn đề trọng tâm được đề cập đến trong Đối thoại Nhân quyền song phương Mỹ - Việt năm 2009.

Phần I: Các tôn giáo

Việt Nam có diện tích 127.000 dặm vuông với dân số khoảng 89,6 triệu người. Ước tính cho thấy có khoảng hơn một nữa dân số trên danh nghĩa theo Đạo Phật. Giáo hội Công giáo chiếm 7% dân số. Một số tổ chức của đạo Cao Đài chiếm 2,5 – 4% dân số, giáo phái Hòa Hảo chiếm 1,5 -3%, các hệ phái Tinh Lành chiếm 1-2% dân số, và Hồi giáo chiếm chưa đến 0,1% dân số. Hầu hết công dân còn lại đều tự nhận mình không theo tôn giáo nào, mặc dù nhiều người trong số họ vẫn giữ các tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng tổ tiên và các anh hùng dân tộc.

Nhiều Phật tử theo trường phái kết hợp của Phật giáo Đại thừa, Đạo Lão và Nho giáo, hay còn được gọi là “tam giáo”. Ban Tôn giáo Chính phủ ước tính có khoảng 10 triệu người (11% dân số) theo Phật giáo Đại thừa, phần lớn là người Kinh (nhóm đa số của đất nước, còn được gọi là người Việt). Số lượng Phật tử ở một số vùng cao ít hơn, mặc dù việc người Kinh di cư đến các vùng này đang phần nào làm thay đổi sự phân bố tín đồ. Chỉ riêng ở thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 1000 chùa đang hoạt động. Cộng đồng người Khmer thiểu số ở miền Nam theo Phật giáo dòng Nam Tông có hơn 570 ngôi chùa. Với số lượng khoảng hơn 1 triệu người, họ hầu hết sống tập trung ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long.

Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được công nhận chính thức ra đời, trên cơ sở sáp nhập tất cả các tổ chức Phật giáo Đại thừa, Nam Tông và Tiểu thừa lại với nhau. Tất cả các nhóm Phật giáo trong Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đều có đại diện tính theo tỷ lệ trong hàng ngũ lãnh đạo và trong tổ chức. Trên thực tế, các vị sư sãi dòng Nam Tông thường họp riêng để quyết định các vấn đề giáo lý, giáo dục và đưa ra những yêu cầu của cộng đồng này trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Chính phủ yêu cầu tất cả các vị sư sãi, kể cả các vị sư người Khmer theo Phật giáo dòng Nam Tông phải được công nhận và hoạt động dưới sự quản lý của tổ chức Phật giáo được Chính phủ bảo trợ là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Về lý thuyết, Ban Tôn giáo Chính phủ có trách nhiệm quản lý số lượng tăng ni sinh, mặc dù số lượng các học viện Phật giáo ở cấp địa phương và tỉnh ngoài bốn học viện tương đương cấp đại học đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. Kể từ khi sáp nhập tất cả các tổ chức Phật giáo vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chính phủ không công nhận tính hợp pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Có một số tổ chức có ảnh hưởng của Phật giáo mới được công nhận, mặc dù họ không thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong số này, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội có số lượng thành viên đông nhất với hơn 1,3 triệu Phật tử.

Ước tính cả nước có khoảng 8 triệu tín đồ Công giáo, còn theo con số thống kê của Chính phủ là 6,28 triệu người. Các tín đồ Công giáo sinh sống trên khắp mọi miền đất nước nhưng tập trung đông nhất ở các tỉnh miền Nam xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, một vài nơi ở Tây Nguyên và ở một số tỉnh thành ở phía Đông Nam Hà Nội. Trong những năm gần đây, Công giáo đã được khôi phục lại, nhiều nhà thờ đã được xây mới hoặc cải tạo lại, số lượng người muốn trở thành linh mục hoặc tu sĩ ngày càng gia tăng. Cả nước có 3 tổng giám mục, 44 giám mục và gần 4.000 linh mục tại 26giáo phận. Có trên 10.000 nơi thờ tự, trong đó có sáu chủng viện và hai cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo. Theo Tòa thánh Vatican, số lượng chủng sinh chuẩn bị được thụ phong linh mục trong năm năm vừa qua đã tăng hơn 50%, hiện lên tới khoảng 1.500 người.

Theo Chính phủ, có khoảng 2,3 triệu tín đồ Cao Đài, trong khi con số do các chức sắc của đạo Cao Đài công bố là khoảng 3,9 triệu người. Các nhóm Cao Đài hoạt động sôi nổi nhất ở tỉnh Tây Ninh nơi tọa lạc “Tòa thánh” Cao Đài, ngoài ra còn có ở Thành phố Hồ Chí Minh và ở các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Đạo Cao Đài bao gồm nhiều giáo phái khác nhau, lớn nhất là phái Tây Ninh, chiếm hơn 40% dân số toàn tỉnh. Đạo Cao Đài là tôn giáo dung hợp các yếu tố của nhiều đức tin khác nhau.

Theo con số thống kê của Chính phủ, có 1,3 triệu tín đồ Hòa Hảo, trong khi con số do các chi nhánh ở hải ngoại thống kê lên đến 3 triệu người. Các tín đồ Hòa Hảo tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, nơi mà trước năm 1975 giáo phái Hòa Hảo nổi lên với tư cách là một lực lượng xã hội, chính trị và quân sự. Ban Trị sự Hòa Hảo được Chính phủ công nhận được thành lập năm 1999. Một số ít tín đồ Hòa Hảo theo các chi phái khác đối lập với Ban Trị sự Hòa Hảo chẳng hạn như Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy và Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Truyền thống.

Hai hội thánh Tin Lành lớn nhất được chính thức công nhận là Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam và Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc nhỏ hơn. Các hội thánh khác cũng đã chính thức được công nhận gồm có Hội thánh Báp-tít Ân điển Nam phương, Hội thánh Cơ đốc Truyền giáo, Hội thánh Mennonite miền Nam, Hội thánh Trưởng Lão Việt Nam, Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Báp-tít miền Nam), Hội thánh Cơ đốc Phục lâm Việt Nam và Liên hữu Cơ đốc Việt Nam. Ngoài ra còn có các hệ phái Tin Lành khác như Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam (đã đăng ký chính thức) và Hội thánh Giám lý Liên hiệp Việt Nam và các hội thánh khác đã đăng ký ở địa phương nhưng chưa đăng ký ở cấp độ quốc gia. Ước tính số tín đồ Tin Lành dao động từ 1 triệu theo thống kê của Chính phủ đến trên 2 triệu theo ước tính của các giáo hội. Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000 là giai đoạn số tín đồ Tin Lành tăng mạnh nhất. Một số tín đồ cải đạo mới thuộc các nhà thờ tại gia không đăng ký. Theo tính toán của các tín đồ, có đến 2/3 tín đồ Tin Lành là người dân tộc thiểu số, trong đó có các nhóm thiểu số vùng Tây Bắc (H’mông, Dao, Thái và các dân tộc khác) và ở Tây Nguyên (Ê-đê, Gia-rai, Sê-đăng, Mơ-nông và các dân tộc khác).

Số lượng tín đồ Hồi giáo khá ít ỏi, ước tính chỉ khoảng 60 đến 80 nghìn người, các nhà thờ Hồi giáo có mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, phía tây tỉnh An Giang và các tỉnh duyên hải phía Nam. Chính phủ ước tính có khoảng 73.000 người theo đạo Hồi. Cộng đồng người Hồi giáo chủ yếu là người dân tộc Chăm, tuy nhiên ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh An Giang còn có một số tín đồ người Kinh và người di cư từ Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Ấn Độ. Khoảng 40% tín đồ Hồi giáo theo dòng Sunni, 60% còn lại theo dòng Bani, một dòng đạo Hồi riêng biệt của người Chăm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ.

Ngoài ra còn có một số cộng đồng tôn giáo nhỏ hơn, lớn nhất trong số này là cộng đồng người Hindu. Có khoảng 50.000 người Chăm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ theo một nhánh của đạo Hindu. Khoảng 4.000 người Hindu khác sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, một số là người Chăm nhưng phần lớn là người Ấn Độ hoặc thế hệ con cháu lai Việt - Ấn.

Ước tính có khoảng 7.200 tín đồ theo đạo Baha’i, chủ yếu tập trung ở miền Nam. Mặc dù đạo Baha’i có mặt tại Việt Nam từ trước năm 1975 nhưng từ năm 1975 đến năm 1992 đạo này bị cấm hành đạo công khai và chỉ được công nhận ở cấp độ quốc gia với tư cách là một tôn giáo mới vào năm 2008. Tháng 5/2010, hội Baha’i tổ chức đại hội toàn quốc lần thứ 3 với hơn 300 đại diện từ 73 giáo đoàn đã đăng ký.

Có khoảng 1000 tín đồ của Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (hay còn gọi là giáo phái Mormons) sống rải rác trên cả nước. Giáo hội có hai giáo đoàn được công nhận ở cấp địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Có 55 giáo đoàn với khoảng 3.000 tín đồ thuộc phái Chứng nhân Giê-hô-va đang hoạt động tại 18 tỉnh thành trên cả nước. Có 32 địa điểm thờ tự được đăng ký ở cấp độ địa phương. Phần lớn các giáo đoàn đặt tại phía Nam, một nửa số tín đồ tại Thành phố Hồ Chí Minh và 500 tín đồ tại Hà Nội.

Thành phố Hồ Chí Minh có một nhà thờ Do Thái phục vụ khoảng 150 tín đồ Do Thái tại thành phố. Mặc dù hầu hết tín đồ đều là những người nước ngoài định cư nhưng giáo đoàn vẫn tiếp tục phát triển.

Có ít nhất 14 triệu người, chiếm khoảng 17% dân số hoặc hơn được cho là không theo một tôn giáo có tổ chức nào cả. Chính phủ không xếp những người chỉ đi chùa vào ngày lễ là tín đồ Phật giáo. Theo định nghĩa này, số người không theo đạo có thể cao hơn nữa và có thể lên đến 50 triệu người. Không có số lượng thống kê mức độ tham gia các nghi lễ tôn giáo, nhưng con số này được cho rằng vẫn đang tiếp tục tăng lên kể từ đầu thập niên 1990.

Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số. Về mặt lịch sử, các dân tộc này có những truyền thống tín ngưỡng khác biệt với người Kinh. Ngày càng có nhiều người dân tộc H’mông, Dao, Giarai, Ê-đê, Mơ-nông, Thái và Sê-đăng ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên cải đạo sang đạo Tin Lành.

Phần II: Mức độ tôn trọng quyền tự do tôn giáo của Chính phủ

Khung pháp lý/chính sách

Hiến pháp, các văn bản pháp luật và Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 2003 về tôn giáo đều quy định quyền tự do theo hoặc không theo tín ngưỡng và tôn giáo. Tuy nhiên cả trong chính sách và thực tế vẫn còn tồn tại các hạn chế. Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo 2004 (Pháp lệnh) là văn bản pháp luật cơ bản quy định về hoạt động tôn giáo. Pháp lệnh quy định công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào và nghiêm cấm việc xâm phạm quyền tự do đó. Tuy nhiên, Pháp lệnh cũng nhấn mạnh việc “lợi dụng” tự do tín ngưỡng tôn giáo nhằm mục đích “phá hoại hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước” là phạm pháp và cảnh báo sẽ đình chỉ các hoạt động tôn giáo nếu gây ảnh hưởng tiêu cực đến các truyền thống văn hóa của dân tộc.

Pháp lệnh quy định Chính phủ có quyền quản lý và giám sát các tổ chức tôn giáo. Các giáo đoàn phải được chính thức công nhận hoặc đăng ký, và phải được các chính quyền “thích hợp” ở cấp thấp hơn chấp thuận hoạt động và lãnh đạo của từng giáo đoàn tôn giáo. Việc thành lập các chủng viện, tổ chức và tuyển sinh vào các lớp học tôn giáo cũng phải được các chính quyền địa phương chấp thuận. Việc bổ nhiệm linh mục hoặc các chức sắc tôn giáo khác phải được sự chấp thuận của chính quyền khi có sự liên quan của các tổ chức tôn giáo nước ngoài cấp cao, chẳng hạn như Tòa thánh Vantican. Pháp lệnh nghiêm cấm ép buộc cải đạo. Pháp lệnh quy định các tổ chức tôn giáo chỉ cần thông báo với các cấp chính quyền phù hợp về các hoạt động thường niên hoặc về việc phong chức hay thuyên chuyển giáo sĩ mà không cần phải được sự chấp thuận của chính thức của chính quyền như trước đây. Pháp lệnh cũng khuyến khích các nhóm tôn giáo tổ chức các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, hai lĩnh vực trước đây bị hạn chế.

Năm 2005, Thủ tướng ban hành “Chỉ thị về một số công tác đối với đạo Tin Lành” (Chỉ thị), yêu cầu các cấp chính quyền hỗ trợ các giáo hội Tin Lành đã được công nhận xây dựng nhà thờ, đào tạo và bổ nhiệm mục sư, đồng thời chỉ đạo các cấp chính quyền phải giúp đỡ những giáo đoàn chưa được công nhận đăng ký để họ có thể hành đạo công khai, từ đó tiến đến đáp ứng các yêu cầu để được công nhận đầy đủ. Chỉ thị hướng dẫn các cấp chính quyền ở Tây Nguyên và Tây Bắc giúp đỡ các nhóm tín đồ Tin Lành đăng ký các hoạt động tôn giáo và hành đạo tại nhà hoặc tại “các địa điểm phù hợp”, ngay cả khi họ chưa đáp ứng đủ điều kiện để thành lập một giáo đoàn chính thức, chẳng hạn như điều kiện về số lượng tín đồ tối thiểu. Chỉ thị cũng hướng dẫn cán bộ địa phương cho phép các “nhà thờ tại gia” chưa đăng ký được hoạt động nếu họ “cam kết tuân thủ các quy định” và không liên kết với các phong trào chính trị ly khai.

Năm 2005, Nghị định số 22 cũng được ban hành, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo. Nghị định quy định chi tiết thủ tục để một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận đăng ký nơi thờ tự, các giáo sĩ, các hoạt động của tổ chức và từ đó có thể hoạt động công khai. Nghị định cũng hướng dẫn thủ tục để các nhóm này đăng ký để được Chính phủ công nhận chính thức để hưởng thêm các quyền lợi khác. Nghị định quy định cụ thể một tổ chức tôn giáo phải có 20 năm “hoạt động tôn giáo ổn định” ở Việt Nam mới được Chính phủ công nhận chính thức, các hoạt động trong quá khứ cũng được tính để đạt được mức yêu cầu này. Nghị định còn quy định khung thời gian cụ thể để Chính phủ xem xét đơn đề nghị của các nhóm tôn giáo và yêu cầu cán bộ chuyên trách phải giải thích bằng văn bản trong trường hợp bác đơn.

Nghị định 22 cũng quy định các thủ tục các tổ chức tôn giáo và từng giáo đoàn phải thực hiện để được chính thức công nhận. Về nguyên tắc, các giáo đoàn được công nhận sẽ được phép mở cửa, hoạt động và tu bổ lại nơi thờ tự, đào tạo chức sắc và được xin phép xuất bản tài liệu. Để được công nhận chính thức, giáo đoàn đó phải đăng ký ở cấp quốc gia, theo khung pháp lý thì phải trải qua một số thủ tục thì mới đăng ký được ở cấp độ này. Thứ nhất, tổ chức tôn giáo đó phải đệ đơn và được chấp thuận đăng ký ở khu vực hành chính nơi họ hoạt động. Tổ chức đó phải gửi thông tin về cơ cấu, lãnh đạo và hoạt động của mình đến các cấp chính quyền địa phương có thẩm quyền. Chính quyền có 45 ngày để chất vấn hoặc nêu lên các quan ngại. Thời gian xét đăng ký ở cấp quốc gia là 60 ngày. Ban Tôn giáo Chính phủ phải cấp giấy phép trước khi một tổ chức được xem là đã đăng ký. Sau khoảng một năm đăng ký ở cấp độ quốc gia, nhóm tôn giáo đủ điều kiện có thể đệ đơn xin công nhận chính thức về mặt pháp lý sau khi tổ chức hội nghị toàn quốc để bầu ra ban lãnh đạo. Các chức sắc, cơ cấu, hiến chương và hoạt động của tổ chức tôn giáo này phải được Chính phủ thông qua.

Nghị định còn quy định rằng các cấp có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản đối với các đơn xin công nhận chính thức của các tổ chức tôn giáo trong vòng 30, 45, 60 hoặc 90 ngày tùy theo phạm vi của đơn đề nghị. Trong trường hợp bác đơn, văn bản phúc đáp cần nêu rõ lý do, tuy nhiên quy định này có vẻ như không được áp dụng một cách nhất quán. Pháp lệnh không quy định cơ chế cụ thể về việc xem xét lại cũng như lý do từ chối.

Nghị định 22 và Luật Đất đai quy định các giáo hội không được mua đất với tư cách pháp nhân, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phải cấp đất và chấp thuận việc xây dựng các cơ sở tôn giáo mới. Thường thì một thành viên giáo đoàn sẽ mua đất rồi chuyển nhượng cho tỉnh, đất sau đó được cấp cho giáo hội. Giáo hội cũng phải thông báo cho chính quyền về việc trùng tu hay nâng cấp các cơ sở tôn giáo, tuy nhiên có thể không phải xin phép tùy theo mức độ trùng tu. Nghị định quy định chính quyền phải phúc đáp đơn xin phép xây dựng trong vòng 20 ngày.

Ban Tôn giáo Chính phủ cấp quốc gia có trách nhiệm phổ biên thông tin về khung pháp lý tôn giáo cho các cấp chính quyền ở tỉnh, huyện, thôn, xã để đảm bảo khung pháp lý được áp dụng đồng bộ. Việc thực hiện khung pháp lý ở các cấp chính quyền thấp hơn vẫn còn phức tạp. Trong thời gian báo cáo này tường trình, các chính quyền cấp trung ương và tỉnh đã tổ chức các khóa tập huấn cho các cán bộ ở cấp thấp hơn về các bộ luật mới để họ nắm rõ và tuân thủ đúng theo Pháp lệnh.

Chính phủ không chính thức ưu tiên một tôn giáo cụ thể nào. Hầu hết tất cả các cán bộ cấp cao của Đảng và Chính phủ cũng như phần lớn các đại biểu Quốc hội đều chính thức “không theo tôn giáo nào”. Nhiều cán bộ Đảng và Chính phủ công khai thờ cúng tổ tiên và đi chùa; tuy nhiên chỉ có một số cán bộ đi thăm viếng các chùa Phật giáo hay chùa Cao Đài. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định có hàng chục nghìn hoặc hơn trong số ba triệu Đảng viên theo đạo. Vị thế nổi trội truyền thống của đạo Phật không ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự do tôn giáo của những người khác, kể cả những người không theo tôn giáo nào.

Việc theo tín ngưỡng tôn giáo nhìn chung không ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cá nhân trong đời sống dân sự, kinh tế và thế tục, tuy vậy nó có thể cản trở việc thăng tiến của các quan chức trong Đảng và quân đội. Những người theo đạo thuộc các nhóm tôn giáo khác nhau vẫn giữ các vị trí trong chính quyền địa phương và cấp tỉnh và là đại biểu Quốc hội. Một số tổ chức tôn giáo chẳng hạn như Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các chức sắc tôn giáo và các tín đồ là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức xã hội chính trị rộng lớn của Đảng Cộng sản. Các quan chức Chính phủ cấp cao thường chúc mừng và đến thăm nhà thờ vào dịp Giáng sinh và Phục sinh cũng như tham dự các hoạt động trong ngày lễ Phật Đản.

Chính phủ chính thức công nhận các tổ chức Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài, Baha’i, Hồi giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Minh Lý Đạo Tam tông miếu và Phật đường Nam tông Minh sư Đạo là các tổ chức tôn giáo. Từng giáo đoàn trực thuộc các nhóm tôn giáo đã được công nhận nêu trên cũng phải đăng ký. Một số Phật tử, tín đồ Tin Lành, Hòa Hảo và Cao Đài khác không tham gia các tổ chức tôn giáo đã đăng ký hoặc được chính phủ công nhận.

Chính phủ cho phép các vị chức sắc tôn giáo được đi lại vì các mục đích tôn giáo, nhưng khi họ muốn ra nước ngoài tham dự hội nghị hoặc các khóa tập huấn thì phải được chính quyền cho phép. Các tín đồ Hồi giáo được dự lễ hành hương về thánh địa Méc-ca, các chức sắc Phật giáo, Công giáo và Tin Lành nhìn chung được phép ra nước ngoài học tập và dự hội nghị. Các chức sắc Công giáo thường xuyên tới Vatican để tham vấn. Các chức sắc tôn giáo không chính thức khác thường xuyên ra nước ngoài.

Chính phủ yêu cầu tất cả các ấn phẩm tôn giáo đều phải thông qua Nhà xuất bản Tôn giáo hoặc các nhà xuất bản thuộc sự quản lý của Chính phủ ấn hành sau khi Chính phủ đã duyệt nội dung ấn phẩm. Từ năm 2006 đến năm 2008, Nhà xuất bản Tôn giáo đã xuất bản gần 1.800 đầu sách và các ấn phẩm khác với tổng cộng 4,5 triệu bản. Số liệu này chưa được cập nhật tính đến thời gian báo cáo. Kinh thánh, kinh phật và các ấn phẩm tôn giáo khác đã được xuất bản và phát hành công khai. Kinh thánh được xuất bản bằng tiếng Việt, Trung Quốc, tiếng Ê-đê, Giarai, Banar, Mơ-nông và tiếng Anh. Kinh thánh cũng được xuất bản bằng tiếng dân tộc Bana, Ê-đê, K’hor và Giarai, tuy vậy Chính phủ vẫn chưa phê duyệt việc xuất bản Kinh thánh bằng tiếng H’mông. Từ năm 1994, sau khi được Chính phủ cấp phép, Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam đã phân phối 50.000 cuốn Kinh bằng tiếng Việt, tiếng K’hor và tiếng Ê-đê.

Điều 35 của Nghị định quy định các nhóm truyền giáo nước ngoài phải được phép của Chính phủ khi truyền đạo và hoạt động đó phải được một tổ chức tôn giáo quốc gia hoặc địa phương bảo trợ. Nghị định không cho phép hoạt động truyền giáo công khai ngoài các trung tâm thờ tự được công nhận. Một số nhà truyền giáo đã đến Việt Nam bất chấp lệnh cấm chính thức và tiến hành các hoạt động truyền giáo không chính thức.

Việt Nam không có ngày lễ tôn giáo quốc gia.