Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2009

Part 4

Chapter 44,825 wordsPublic domain (Wikisource)

Công an và các cán bộ khác ở Tây Bắc hợp tác với các chức sắc nhà thờ tại gia ở một số vùng để thông báo cho họ các quy định về tôn giáo. Năm 2009, Chính phủ đã ký một thoả thuận với Viện Liên kết Toàn cầu - một tổ chức phi chính phủ ở Mỹ - tổ chức chín khoá tập huấn chung cho cán bộ địa phương và các chức sắc tôn giáo trong năm 2009. Ban Tôn giáo Chính phủ cũng đã tổ chức các khoá tập huấn cho cán bộ tỉnh và huyện, cùng các chức sắc tôn giáo về các quy định mới về tôn giáo nhằm đảm bảo họ sẽ “thực hiện nhất quán những quy định này”. Nguồn tin từ Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc ở Tây Bắc khẳng định theo Chỉ thị 2005 của Thủ tướng Chính phủ, chính quyền cho phép hầu hết các giáo đoàn chưa đăng ký được hành đạo tại gia và gặp gỡ nhau công khai. Tháng 5/2009, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã gặp gỡ lãnh đạo của Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc để chúc mừng ban lãnh đạo mới được bầu và bàn về những vấn đề mà giáo hội đang gặp phải. Chính phủ thông báo đã mời Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo sang thăm Việt Nam trong năm 2009.

Trước những quan ngại của các nhà ngoại giao và các đại diện nước ngoài, Chính phủ tiếp tục chỉnh sửa tài liệu tập huấn do Ban Tôn giáo soạn thảo dành cho cán bộ địa phương ở Tây Bắc trong đó có những từ ngữ miệt thị đạo Tin Lành và chỉ thị cho cán bộ khuyến khích những người cải đạo sang Tin Lành quay trở về với tín ngưỡng truyền thống. Tài liệu tập huấn này được xuất bản lần đầu năm 2006. Việc chỉnh sửa tài liệu này là nhằm bỏ đi những ngôn từ gây tranh cãi mà Chính phủ thừa nhận là không phù hợp với các quy định. Tài liệu mới có sửa đổi khẳng định “tuyệt đối cấm” việc cưỡng ép bỏ đạo. Tài liệu tập huấn này thẳng thắn ghi nhận những bất cập trong việc thực hiện khung pháp lý về tôn giáo. Một số Hội thánh Tin Lành cho rằng tài liệu tập huấn vẫn trao cho cán bộ địa phương quá nhiều quyền hành trong việc giải quyết tranh chấp và khuyến khích giải tán các giáo đoàn không đăng ký.

Chính phủ bầy tỏ sẵn sàng cho phép các tổ chức tôn giáo đào tạo thế hệ lãnh đạo kế cận, ví dụ như cho phép xây dựng các chương trình giảng dạy quy mô lớn cho người Công giáo, Phật tử, và Tin Lành. Hội thánh Báp-tít Việt Nam đã thực hiện chương trình đào tạo về thần học hệ chính quy bốn năm. Nhóm gồm 19 sinh viên đầu tiên tốt nghiệp đầu năm 2009 với bằng cử nhân về thần học. Nhóm thứ hai gồm 30 sinh viên được tuyển vào năm 2007. Hội thánh Báp-tít Việt Nam còn tổ chức các khoá học chuyên sâu về thần học tại các cơ sở địa phương ở Thành phố Hồ Chí Minh, vùng đồng bằng sông Mê Kông, Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Phòng. Hơn 100 mục sư trên toàn quốc tham gia chương trình này. Nếu hoàn thành 40 khoá đào tạo thần học theo hình thức bán thời gian, mục sư sẽ nhận được bằng cử nhân về thần học.

Kể từ khi được chính thức công nhận năm 2007, Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam đã đào tạo hơn 210 nhà truyền giáo, riêng năm 2008 đã đạo tạo được hơn 160 người trong số đó. Do hầu hết các mục sư truyền giáo thuộc Giáo hội là người thiểu số làm nông nghiệp, Giáo hội xây dựng chương trình đào tạo bán thời gian với 10 ngày/tháng, thời gian học kéo dài 5 tháng. Giáo hội cung cấp chỗ ở và tiền ăn hàng tháng cho các mục sư tham gia loại hình đào tạo này và quản lý chương trình từ trụ sở tại Đà Nẵng. Ban Tôn giáo tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo thông qua đăng ký chương trình, hỗ trợ xây dựng chương trình đào tạo, giới thiệu giảng viên và tài trợ. Giáo hội cũng điều hành chương trình đào tạo thần học hệ chính quy bốn năm với 30 sinh viên sẽ tốt nghiệp với bằng cử nhân thần học trong năm 2010. Nếu nhận được thêm quỹ đất, Giáo hội có kế hoạch mở một học viện thần học chung cho các giáo phái khác nhau.

Trong giai đoạn báo cáo này tường trình, Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam đã tổ chức ba khoá đào tạo thần học quy mô lớn cho các mục sư truyền đạo ở Tây Nguyên, kết quả là hàng trăm mục sư mới đã được thụ phong. Khóa học thứ tư với 120 người tham gia bắt đầu tháng 9/2009. Tương tự, Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc cũng tổ chức nhiều hoạt động đào tạo cho hàng trăm mục sư người dân tộc thiểu số (H’mông và Dao).

Giáo hội Công giáo cho biết Chính phủ tiếp tục nới lỏng kiểm soát đối với việc phong phẩm, bổ nhiệm của Giáo hội, và nhiều chủng sinh mới được thu nhận đã được thụ phong linh mục. Chính phủ không còn hạn chế số học viên tuyển vào các đại chủng viện hàng năm. Giáo hội Công giáo có bảy đại chủng viện, với khoảng 1.500 học viên và một chương trình đào tạo mới đặc biệt cho các học viên lớn tuổi hơn. Tất cả học viên phải được chính quyền địa phương chấp thuận khi tuyển vào một đại chủng viện và phải được đăng ký trước khi được thụ phong linh mục, mặc dù Giáo hội cho biết không ai trong số những người hoàn tất quá trình đào tạo lại bị cấm không được thụ phong. Các chức sắc Giáo hội thừa nhận rằng mặc dù số học viên được thụ phong vẫn chưa đủ để đáp ứng số Giáo dân ngày càng gia tăng, nhưng Giáo hội không đủ khả năng để mở thêm các chủng viện và tuyển học viên mới.

Chính phủ đã cho phép mở một chủng viện mới ở Nam Định, nhưng do Giáo hội không đủ khả năng nên đại chủng viện này chưa được mở. Năm 2008, Giáo hội mở một trung tâm mục vụ ở Thành phố Hồ Chí Minh để đào tạo các trợ tế và những người đảm nhận các vị trí không cần thụ phong. Nhu cầu nghiên cứu thần học vượt quá dự tính và trung tâm đang hoạt động hết công suất. Chính phủ cũng tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo hàng trăm linh mục ở nước ngoài. Giáo hội Công giáo ước tính Việt Nam là nước đưa nhiều linh mục ra nước ngoài nhiều thứ ba sau Phi-líp-pin và Ấn Độ.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam có bốn học viện, tám trường cao đẳng, 30 trường trung cấp và 25 trường sơ cấp dạy về Phật học cho hàng nghìn phật tử và các tăng ny đang trong quá trình đào tạo. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết cả nước có khoảng 50.000 vị tăng ny.

Năm 2008, các lớp học tập trung đầy đủ đầu tiên đã bắt đầu tại học viện mới tương đương đại học, tập trung hoàn toàn vào Phật giáo Nam Tông Khơ-me, tại Cần Thơ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam mở trường này năm 2007. Chính phủ cấp đất cho xây dựng và mở rộng học viện này. Bên cạnh đó, Chính phủ đã mở rộng trường trung học ngôn ngữ Pali tại tỉnh Sóc Trăng và tiếp tục cung cấp các tài liệu giảng dạy ngôn ngữ Pali cho các hoà thượng Khơ-me Krom và khuyến khích các cơ sở đào tạo ngôn ngữ Pali địa phương tại các chùa trên toàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Chính phủ chi trả học phí cho các hoà thượng Khơ-me tại tất cả các trường đại học trên cả nước, như đã làm với người dân tộc thiểu số Khơ-me.

Nhiều mục sư của các giáo đoàn Tin Lành như Hội thánh Cơ đốc Phục Lâm, dòng Mennonite, các hệ phái Báp-tít, Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, và Phúc âm Ngũ tuần không muốn gia nhập Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam hoặc Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc do những khác biệt về tín lý. Ở nhiều vùng trên cả nước, đặc biệt các khu vực đô thị, những giáo đoàn này và các giáo đoàn Tin Lành khác cho biết họ được hành đạo công khai và có sự thừa nhận của cán bộ địa phương. Mặc dù vẫn còn một số trường hợp ngoại lệ, nhưng mức độ sách nhiễu của cán bộ địa phương đối với các nhà thờ tại gia chưa được công nhận thuộc các hệ phái nằm ngoài Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam và Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc tiếp tục giảm trên phạm vi cả nước. Chính phủ đã tiến hành đối thoại về vấn đề đăng ký và công nhận với chức sắc của một số hệ phái Tin Lành, Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô, và Hội thánh nhân chứng Jehovah.

Việc tham dự các buổi lễ tôn giáo trên cả nước tiếp tục gia tăng trong giai đoạn báo cáo này đề cập. Số nhà sư của đạo Phật, linh mục Công giáo, và mục sư Tin Lành cũng tiếp tục gia tăng. Hạn chế đối với các buổi hành lễ của các tín đồ Tin Lành tiếp tục giảm đi. Tín đồ Công giáo trên cả nước được phép tổ chức lễ Giáng sinh và Phục sinh mà không bị can thiệp. Một số ít các giáo đoàn Tin Lành ở Tây Nguyên gặp khó khăn trong việc tổ chức các buổi lễ vào dịp Giáng sinh, nhưng cho biết họ được phép tổ chức lễ Phục sinh mà không gặp phải khó khăn nào.

Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc tiếp tục phát triển ở Tây Bắc, đặc biệt là ở Điện Biên và Sơn La. Mặc dù trong giai đoạn báo cáo này tường trình cán bộ địa phương và cấp tỉnh chỉ đăng ký rất ít giáo đoàn Tin Lành, các giáo đoàn ở hai tỉnh này cho biết hạn chế đã được nới lỏng và họ có thể tổ chức các buổi lễ và các hoạt động tôn giáo mà không xảy ra vấn đề gì. Các giáo đoàn này đã tổ chức lễ Giáng sinh và Phục sinh mà không gặp rắc rối nào. Đây là một tiến bộ rõ rệt so với những năm qua.

Bất chấp các cuộc biểu tình xung quanh vấn đề tranh chấp đất đai, mối quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và Chính phủ tiếp tục cải thiện trong giai đoạn báo cáo này tường trình. Các chức sắc công giáo thường xuyên viếng thăm Vatican để tham vấn. Tháng 6/2009, 30 giám mục công giáo đã gặp gỡ Giáo Hoàng và mời Giáo hoàng tới thăm Việt Nam trong năm 2010. Chính phủ cũng tiếp tục hợp tác với Giáo hội Công giáo trong việc để cử nhân sự cho việc bổ nhiệm giám mục. Ví dụ, Chính phủ tạo điều kiện cho việc thụ phong ba giám mục ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Buôn Ma Thuột. Lần đầu tiên, chính quyền tỉnh Hà Giang đăng ký hộ khẩu thường trú cho một linh mục quản xứ. So với những năm trước, tín đồ Công giáo huyện Mộc Châu, Sơn La không gặp ít khó khăn hơn và đã được phép tổ chức Lễ Giáng sinh và Phục sinh cho 500-600 tín đồ. Họ cũng cho biết một linh mục được phép tổ chức thánh lễ và cho cho các tín đồ chịu mình Thánh vào các thứ bảy tại một địa điểm chưa đăng ký với hơn 100 tín đồ công giáo thường xuyên tham dự. Tương tự, các nhà chức trách cho phép một linh mục thỉnh giảng được tổ chức thánh lễ tại huyện Mai Sơn vào ngày Chủ nhật trước lễ Phục sinh.

Ngày 16-17/2/2009, Chính phủ và Toà thánh Vatican đã tổ chức vòng đối thoại đầu tiên tại Hà Nội theo khuôn khổ mới được thiết lập là “Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam - Vatican” về thiết lập quan hệ ngoại giao. Hai bên đã ra tuyên bố chung sau các cuộc thảo luận, khẳng định cuộc thảo luận tích cực và mô tả kế hoạch cho các vòng đối thoại tương lai, và nhấn mạnh “đời sống tôn giáo ở Việt Nam đã đạt được những tiến bộ tích cực”. Sau các cuộc hội đàm chính thức, phái đoàn Vatican, dẫn đầu là Thứ trưởng Ngoại giao Toà thánh, cho biết ông mong muốn được thấy Giáo hoàng đến thăm Việt Nam vào cuối năm 2010. Chính phủ duy trì đối thoại thường xuyên với Vatican về hàng loạt vấn đề, như bình thường hoá quan hệ ngoại giao, lãnh đạo Giáo hội địa phương, các hoạt động có tổ chức, các vấn đề đất đai, và đối thoại liên tôn giáo. Chính phủ cũng chấp thuận và hợp tác với Quỹ Ford để tài trợ một cuộc triển lãm lớn về Công giáo tại Bảo tàng Dân tộc tại Hà Nội. Buổi triển lãm tập trung vào những khía cạnh của đời sống Công giáo và khẳng định “Văn hoá Công giáo là một phần quan trọng trong nền văn hoá Việt Nam”.

Ngày 9/5/2009 tại Hà Nội, hơn 2.000 vị sư sãi cùng đại diện của Thành uỷ, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội và các tu viện đã tham dự Đại lễ Phật Đản. Cũng trong ngày 9/5 các buổi lễ quy mô lớn tương tự với sự tham gia của các quan chức cao cấp của chính quyền và hàng nghìn tín đồ cũng đã được tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Vĩnh Long, Ninh Thuận, Hậu Giang và An Giang.

Tháng 5/2009, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã gặp gỡ Tổng thư ký Hội nghị Cấp cao Phật giáo Thế giới để bàn về kế hoạch tổ chức Hội nghị Cấp cao Phật giáo Thế giới tại Việt Nam năm 2010. Tổng thư ký đã đi thị sát các địa điểm dự định tổ chức ở Hà Nội, Hạ Long, Quang Ninh và Ninh Bình.

Ngày 5/7/2008, Hoà thượng Thích Huyền Quang của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã qua đời tại nơi trụ trì tại tỉnh Bình Định sau nhiều năm bị hạn chế đi lại. Nhiều chức sắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, trong đó có Thích Quảng Độ, được phép từ Bình Định tới thăm ông trong những ngày cuối cùng và dự đám tang của ông ngày 11/7/2008, với sự có mặt của rất nhiều công an.

Mục sư thuộc các Hội thánh Tin Lành miền Nam, Hội thánh Giám lý, Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, và Liên đoàn Truyền giáo Phúc âm tỉnh Bình Phước và Quảng Nam, và Hội thánh Tin Lành giám lý liên hiệp tại tỉnh Hải Dương cho biết đã có sự cải thiện về môi trường tự do tôn giáo và có quan hệ tốt hơn với cán bộ địa phương.

Tháng 5/2009, Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến thăm của phái đoàn Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Mỹ. Các thành viên của Uỷ ban và nhân viên đã gặp gỡ các quan chức Chính phủ và chức sắc tôn giáo hàng đầu, đồng thời một lần nữa được tiếp xúc với các tù nhân chính trị, những người bất đồng chính kiến và gia đình họ. Phái đoàn được đi lại tự do ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh tây bắc Điện Biên và Sơn La.

Chính phủ cho biết trong giai đoạn 2005-2008 có 3.277 địa điểm hành đạo được xây mới hoặc trùng tu. Chính phủ còn tiếp tục cấp giấy phép sử dụng đất cho các cơ sở tôn giáo. Các nhóm Công giáo và Tin Lành cho biết đã có những tiến bộ trong việc giải quyết tranh chấp đất đai. Mùa thu 2008, cán bộ tỉnh và tổng giám mục Huế đã đạt được một thoả thuận về việc đổi khu đất của Công giáo là khu rừng phòng vệ ở xã An Bằng gần Huế.

Trong giai đoạn báo cáo này tường trình, một số nhà thờ đã mở rộng các hoạt động từ thiện của họ. Sau 32 năm gián đoạn, tháng 10/2008 Chính phủ đã cho đăng ký Uỷ ban Bác ái Xã hội Việt Nam (Caritas Việt Nam), một tổ chức phi chính phủ của Công giáo với hoạt động tập trung chủ yếu giúp đỡ người tàn tật, trẻ mồ côi, người thiểu số và trẻ em nghèo; phụ nữ, đặc biệt là những người sống trong nghèo đói và nạn nhân của bạo hành và buôn người; những người sử dụng ma tuý, và những người đang sống chung với HIV/AIDS. Tổ chức Dịch vụ Cứu trợ Công giáo (Catholic Relief Service) cũng kỷ niệm 15 năm hoạt động ở Việt Nam vào tháng 3/2009. Tại Thành phố Hồ Chí Minh và Huế, Giáo hội Công giáo phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong việc hỗ trợ các trung tâm khám chữa bệnh và dịch vụ tư vấn dành cho thanh niên.. Giáo hội cũng có một trung tâm hỗ trợ dành cho các bà mẹ nhiễm HIV và trẻ em bị lây nhiễm HIV. Trong sáu tháng cuối năm 2008, một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã tổ chức các khoá đào tạo cho các linh mục và các nữ tu về quy trình chăm sóc các bệnh nhân HIV/AIDS. Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh và Giáo hội Công giáo tiếp tục bàn về việc chính thức phê chuẩn các sáng kiến về công tác xã hội tư cách pháp nhân để Giáo hội thực hiện các hoạt động liên quan đến HIV/AIDS và việc quản lý một trại trẻ mồ côi, trong khi vẫn cho phép Giáo hội âm thầm theo đuổi những sáng kiến này.

Tương tự, tỉnh Thái Bình tiếp tục khuyến khích các nỗ lực của nhà thờ Công giáo về vấn đề HIV/AIDS và điều trị những người bệnh và người tàn tật. Chính quyền Hải Phòng cũng tiếp tục hợp tác với nhà thờ Công giáo về điều trị cai nghiện và các chương trình HIV/AIDS. Giáo phận Bùi Chu tại tỉnh Nam Định đã điều hành một trại trẻ mồ côi.

Các chức sắc Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc cho biết chính quyền các tỉnh Thanh Hoá và Nam Định tích cực khuyến khích các nhà thờ trên địa bàn tỉnh mở rộng hoạt động từ thiện, cụ thể đề nghị các nhà thờ này quyên góp để tài trợ cho một số hoạt động nhất định. Giáo Hội Phật giáo Việt Nam tham gia vào các hoạt động nhân đạo, trong đó có các chương trình chống ma tuý và phúc lợi dành cho trẻ em, các chương trình HIV/AIDS và các công việc từ thiện khác trên cả nước.

Có một thông lệ dành cho Giáo Hội Phật giáo Việt Nam được tổ chức và quản lý các trung tâm y tế cho người có thu nhập thấp trên cả nước. Thành phố Hà Nội cho phép một số chùa thuộc Giáo Hội Phật giáo Việt Nam được mở các trại trẻ mồ côi dành cho trẻ em bị bỏ rơi và trẻ em tàn tật và thực hiện các chương trình điều trị HIV/AIDS. Các chức sắc Hồi giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh cho biết các quan chức thành phố ủng hộ họ hỗ trợ cho người nghèo. Tại Huế, các xơ công giáo và các sư nữ thuộc Giáo Hội Phật giáo Việt Nam cùng nhau quản lý một cơ sở điều trị HIV/AIDS.

Các tổ chức Cao Đài và Hoà Hảo được công nhận chính thức cũng cho biết họ tham gia vào rất nhiều hoạt động từ thiện và các dự án phát triển ở địa phương.

Chính phủ tiếp tục công khai chính sách tự do và khoan dung tôn giáo mới thông qua các cơ quan quan liêu nhà nước. Ban Tôn giáo Chính phủ tiếp tục tập huấn cho cán bộ tuyên truyền của các tỉnh miền núi Tây Bắc để phổ biến thông tin về chính sách tôn giáo nhằm giảm bớt căng thẳng xã hội đang gia tăng giữa các tín đồ theo tín ngưỡng truyền thống của người dân tộc thiểu số với những người cải đạo sang Tin Lành.

Phần III. Phân biệt đối xử và kỳ thị trong xã hội

Trong thời gian báo cáo này tường trình, ít có những báo cáo về phân biệt đối xử xã hội hoặc bạo lực vì lý do tôn giáo.

Sự phát triển của đạo Tin Lành ở Tây Nguyên trở nên phức tạp do sự hiện diện của các phần tử ly khai "Đề-ga",nhóm chủ trương đấu tranh vì một nhà nước tự trị hoặc độc lập cho người thiểu số bản địa, đặc biệt ở các tỉnh Gia Lai, Đắc Nông và Đắc Lắc. Mối quan hệ giữa phong trào Đề-ga và các tín đồ Tin Lành thuộc Hội thánh Tin Lành miền Nam Việt Nam căng thẳng ở một số nơi ở Tây Nguyên. Có tin là các nhà hoạt động Đề-ga đã đe dọa các mục sư Hội thánh Tin Lành miền Nam không được phép hoạt động trong “nhà nước Đề-ga” trừ khi họ từ bỏ Hội thánh Tin Lành miền Nam Việt Nam. Các mục sư Tin Lành khác đã cáo buộc phong trào Đề-ga đang lợi dụng tôn giáo để phục vụ các mục tiêu chính trị.

Các tín đồ Tin Lành người Khmer cũng cho biết có tình trạng sách nhiễu, trả thù và trong một số trường hợp phá hoại tài sản và đánh đập do các Phật tử Khơ me thực hiện ở một số huyện ở tỉnh Trà Vinh. Họ cho biết chính quyền hầu như không làm gì để ngăn chặn những vụ việc này và trong một số trường hợp có thể còn tham gia hoặc kích động gây rối.

Phần IV. Chính sách của Chính phủ Mỹ

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tích cực và thường xuyên bày tỏ lo ngại về quyền tự do tôn giáo với các nhà lãnh đạo Đảng và các quan chức chính phủ, kể cả lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Công an, và các cơ quan khác tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh. Đại sứ quán cũng duy trì tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo và những người bất đồng chính kiến.

Đại sứ Mỹ, Tổng Lãnh sự Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh và các quan chức khác của Đại sứ quán và Lãnh sự quán đã nêu các vấn đề tự do tôn giáo với các thành viên cấp cao của Chính phủ, bao gồm Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ, các thứ trưởng Ngoại giao và Công an, các quan chức Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh, các quan chức cao cấp của chính phủ, chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh trên cả nước, và các quan chức khác, đặc biệt ở Tây Nguyên và Tây Bắc. Các quan chức của Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán duy trì tiếp xúc thường xuyên với các cơ quan chủ chốt của Chính phủ có trách nhiệm đảm bảo tôn trọng nhân quyền. Cán bộ sứ quán và lãnh sự quán liên tục thông báo với các quan chức chính phủ rằng tiến bộ về tự do tôn giáo và nhân quyền là bước quan trọng tiến tới cải thiện quan hệ song phương.

Viên chức đoàn ngoại giao Hoa kỳ đã thúc giục công nhận nhiều nhóm tôn giáo trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, các nhà thờ Tin Lành tại gia, và các nhóm Hoà Hảo và Cao Đài bất đồng. Họ cũng thúc giục Chính phủ giành quyền tự do nhiều hơn nữa cho các nhóm tôn giáo được công nhận và chấm dứt những hạn chế đối với các nhóm không đăng ký. Đại sứ cũng đã yêu cầu Chính phủ điều tra các cáo buộc về lạm dụng các tín đồ và trừng phạt những cán bộ có trách nhiệm. Cán bộ sứ quán cũng kêu gọi cho đăng ký và mở lại các nhà thờ tại gia từng bị đóng cửa và giải quyết các tranh chấp đất đai kéo dài.

Các đại diện của Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán giữ liên hệ thường xuyên với chức sắc của các cộng đồng tôn giáo lớn, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Baha’i, Cao Đài, Hoà Hảo và Hồi giáo. Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán cũng duy trì tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong đó có Thích Thanh Tứ, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Thích Gia Quang, Phó Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Thích Trí Quang, Trưởng Ban đại diện Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh; và Thích Đương Nhơ, Trưởng Ban đại diện Phật giáo tỉnh Sóc Trăng. Cán bộ Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán duy trì tiếp xúc thường xuyên với Thích Quảng Độ và các vị sư sãi khác của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Cán bộ Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán đã gặp gỡ vị hồng y của Thành phố Hồ Chí Minh, các tổng giám mục tại Huế và Hà Nội, và các giám mục tại các giáo phận ở Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Cần Thơ, Lạng Sơn, Sơn Tây, Thanh Hoá, Nam Định, Ninh Bình, Buôn Ma Thuột, và Hải Phòng, cũng như các thành viên khác của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Cán bộ Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán cũng liên tục gặp gỡ các chức sắc của Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam, Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc và của nhiều nhà thờ tại gia khác và các chức sắc của cộng đồng Hồi giáo. Khi đi ra ngoài Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán thường xuyên gặp gỡ các Ban Tôn giáo các tỉnh, những người cao tuổi ở các làng, giới tăng lữ địa phương và các tín đồ. Viên chức Đoàn ngoại giao Hoa kỳ tiếp tục khuyến khích và giám sát việc thực hiện thường xuyên khung pháp lý của Chính phủ về tôn giáo ở cấp quốc gia, tỉnh và địa phương.

Đại sứ quán tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến thăm của một viên chức từ Văn phòng Tự Do Tôn giáo Quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ. Chuyến thăm bao gồm các cuộc gặp với các quan chức chính phủ, các chức sắc tôn giáo và tín đồ tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh ở Tây Bắc và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn báo cáo này tường trình, Tổng thống Bush và Ngoại trưởng Rice kêu gọi cần tiếp tục có những cải thiện về tự do tôn giáo trong các cuộc gặp gỡ với những người đồng nhiệm. Quyền tự do tôn giáo cũng được đề cập đến trong Đối thoại Nhân quyền Mỹ-Việt năm 2008.

  Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với  bản quyền của nội dung gốc.

Bản gốc:

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105 ).

Public domain Public domain false false

Bản dịch:

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105 ).

Public domain Public domain false false