Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2009

Part 2

Chapter 25,079 wordsPublic domain (Wikisource)

Còn có một số cộng đồng tôn giáo nhỏ hơn, lớn nhất trong số đó là cộng đồng người Hindu. Có khoảng 50.000 người Chăm ở miền duyên hải Nam Trung Bộ theo một nhánh của đạo Hindu. Khoảng 4.000 người Hindu khác sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, một số là dân tộc Chăm, nhưng phần lớn là người Ấn Độ hoặc thế hệ con cháu lai Việt-Ấn.

Ước tính có khoảng 7.000 tín đồ theo đạo Baha’i, phần lớn tập trung ở miền Nam. Mặc dù các tín đồ đạo Baha’i có mặt tại Việt Nam trước năm 1975 nhưng trong giai đoạn 1975-1992, việc hành đạo công khai bị cấm và nhóm này chỉ được công nhận ở cấp độ quốc gia như một tôn giáo mới vào năm 2008. Tháng 5/2009 Hội Baha’i tổ chức đại hội toàn quốc lần thứ hai với đại diện từ 73 giáo đoàn đã đăng ký.

Có khoảng 1000 tín đồ của Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (hay còn gọi là giáo phái Mormons) sống rải rác trên cả nước. Giáo hội có hai giáo đoàn được công nhận ở cấp địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Ít nhất có 50 giáo đoàn thuộc phái Chứng nhân Giê-hô-va đang hoạt động. Một số đã được đăng ký ở địa phương với số lượng khoảng vài trăm tín đồ mỗi giáo đoàn. Phần lớn những giáo đoàn này ở miền Nam với ít nhất 10 giáo đoàn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Ở Thành phố Hồ Chí Minh có một nhà thờ Do Thái. Mặc dù thành viên của nhà thờ này chủ yếu là Việt kiều sống ở nước ngoài, nhưng số lượng thành viên của giáo đoàn này đang tăng lên.

Khoảng 14 triệu người, chiếm khoảng 17% dân số hoặc hơn, được cho là không theo một tôn giáo có tổ chức nào cả. Chính phủ không coi những người chỉ đi lễ vào những ngày lễ hội là tín đồ. Theo định nghĩa này thì số người không theo đạo có thể cao hơn nữa, lên đến 50 triệu. Không có số liệu nào thống kê về mức độ tham gia các nghi lễ tôn giáo chính thức, nhưng người ta cho rằng con số này vẫn tiếp tục tăng lên từ đầu những năm 1990.

Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số. Về mặt lịch sử, các dân tộc thiểu số duy trì những tín ngưỡng truyền thống khác với người Kinh. Nhiều dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc H’mong, Dao và Gia Rai ở Tây Bắc và Tây Nguyên đang cải đạo theo Tin Lành.

Phần II: Mức độ tôn trọng quyền tự do tôn giáo của Chính phủ

Khung pháp lý/chính sách

Hiến pháp, các văn bản pháp luật, và nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng năm 2003 về tôn giáo đều quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Tuy nhiên, vẫn có những hạn chế trong chính sách và thực tiễn. Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 là văn bản pháp luật cơ bản quy định hoạt động tôn giáo. Pháp lệnh khẳng định công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có thể theo hoặc không theo một tôn giáo nào, và nghiêm cấm việc xâm phạm quyền tự do đó. Tuy nhiên, Pháp lệnh cũng nhấn mạnh việc “lợi dụng” tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhằm mục đích “phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước” là phạm pháp và cảnh báo sẽ đình chỉ các hoạt động tôn giáo nếu ảnh hưởng tiêu cực tới các truyền thống văn hóa dân tộc.

Pháp lệnh này tiếp tục duy trì sự quản lý và giám sát của Chính phủ đối với các tổ chức tôn giáo. Theo các quy định trong pháp lệnh, các giáo đoàn phải được chính thức công nhận hoặc đăng ký; các hoạt động và chức sắc của từng giáo đoàn phải được cấp chính quyền “phù hợp” ở cấp thấp hơn chấp thuận. Việc thành lập các chủng viện, tổ chức và tuyển sinh vào các lớp học tôn giáo cũng phải được các cấp chính quyền “phù hợp” chấp thuận. Việc phong chức linh mục hoặc các chức sắc tôn giáo khác phải được sự chấp thuận của chính quyền khi có liên quan đến “yếu tố nước ngoài”, chẳng hạn như Tòa thánh Vatican. Pháp lệnh cấm ép buộc cải đạo, đồng thời cũng đã nới lỏng ở một mức độ nhất định sự giám sát của Chính phủ đối với tôn giáo. Ví dụ, các tổ chức tôn giáo chỉ cần thông báo với các cấp chính quyền phù hợp về hoạt động hàng năm hoặc về việc phong chức hay thuyên chuyển giáo sĩ, trong khi trước đây những việc này phải được sự chấp thuận chính thức. Hơn nữa, Pháp lệnh cũng khuyến khích các nhóm tôn giáo tổ chức các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, hai lĩnh vực trước đây bị hạn chế.

Năm 2005, Thủ tướng ban hành “Chỉ thị về một số công tác đối với đạo Tin Lành”, yêu cầu các cấp chính quyền hỗ trợ các giáo hội Tin Lành đã được công nhận trong việc xây dựng nhà thờ, đào tạo và bổ nhiệm mục sư, đồng thời chỉ đạo các cấp chính quyền phải giúp đỡ những giáo đoàn chưa được công nhận đăng ký để họ có thể hành đạo công khai, tiến tới đáp ứng các yêu cầu để được công nhận đầy đủ. Chỉ thị hướng dẫn các cấp chính quyền ở Tây Nguyên và Tây Bắc giúp đỡ các nhóm tín đồ Tin Lành đăng ký các hoạt động tôn giáo và hành đạo tại gia hoặc tại những “địa điểm phù hợp”, ngay cả khi “họ chưa đáp ứng đủ điều kiện để thành lập một giáo đoàn chính thức. Chỉ thị cũng hướng dẫn cán bộ địa phương cho phép các “nhà thờ tại gia” chưa đăng ký được hoạt động nếu họ “cam kết tuân thủ các quy định” và không liên kết với các phong trào chính trị ly khai.

Nghị định số 22, cũng được đưa ra năm 2005, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Nghị định quy định chi tiết thủ tục để một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận có thể đăng ký nơi thờ tự, các giáo sĩ, các hoạt động của tổ chức, và từ đó có thể hoạt động công khai. Nghị định còn hướng dẫn thủ tục để các nhóm tôn giáo này đăng ký để được Chính phủ công nhận chính thức để hưởng thêm các quyền lợi khác. Nghị định quy định cụ thể một tổ chức tôn giáo phải có 20 năm “hoạt động tôn giáo ổn định” ở Việt Nam mới được Chính phủ công nhận chính thức, và các hoạt động trong quá khứ có thể được tính để đạt được mức yêu cầu này. Nghị định còn quy định khung thời gian cụ thể cho Chính phủ xét đơn của các tổ chức tôn giáo, và yêu cầu cán bộ chuyên trách phải giải thích bằng văn bản trong trường hợp bác đơn của các tổ chức.

Nghị định số 22 cũng quy định rõ những thủ tục mà các tổ chức tôn giáo và từng giáo đoàn phải thực hiện để được chính thức công nhận. Về nguyên tắc, các giáo đoàn được công nhận sẽ được phép mở cửa, hoạt động và cải tạo lại nơi thờ tự, đào tạo chức sắc, và được xin phép xuất bản tài liệu. Để được công nhận chính thức, trước hết giáo đoàn đó phải đăng ký ở cấp quốc gia. Theo khung pháp lý, một tổ chức tôn giáo phải trải qua một số thủ tục pháp lý mới được đăng ký ở cấp quốc gia. Thứ nhất, tổ chức tôn giáo đó phải đệ đơn và được chấp thuận đăng ký ở khu vực hành chính địa phương nơi họ hoạt động. Tổ chức tôn giáo phải gửi thông tin lên các cấp chính quyền liên quan về cơ cấu, lãnh đạo và hoạt động của mình. Chính quyền có 45 ngày để chất vấn hoặc nêu quan ngại. Thời gian xét đăng ký ở cấp quốc gia mất 60 ngày. Ban Tôn giáo Chính phủ phải cấp giấy phép trước khi một tổ chức được xem là đã được đăng ký. Sau khoảng thời gian chờ đợi một năm, tổ chức tôn giáo có thể đệ đơn xin công nhận chính thức về mặt pháp lý và phải được Chính phủ chấp thuận về lãnh đạo, cơ cấu và phạm vi hoạt động.

Nghị định 22 còn quy định cụ thể rằng các cấp chính quyền phù hợp phải trả lời bằng văn bản đối với các đơn xin công nhận chính thức trong vòng 30, 45, 60 hoặc 90 ngày tùy theo mức yêu cầu. Trong trường hợp từ chối, văn bản phúc đáp phải nêu rõ lý do từ chối, nhưng có vẻ như quy định này cũng không được áp dụng một cách nhất quán. Hơn nữa, Pháp lệnh không quy định một cơ chế cụ thể nào về việc xem xét lại, cũng như nêu rõ lý do từ chối.

Nghị định 22 quy định các Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải chấp thuận việc xây dựng các cơ sở tôn giáo mới. Việc trùng tu hoặc nâng cấp các cơ sở tôn giáo cũng đòi hỏi phải thông báo cho chính quyền, mặc dù không nhất thiết là phải được phép, vấn đề phụ thuộc vào mức độ trùng tu. Nghị định quy định rằng chính quyền phải trả lời đơn xin phép xây dựng trong vòng 20 ngày.

Ban Tôn giáo Chính phủ có trách nhiệm phổ biến thông tin về khung pháp lý mới cho các cấp chính quyền ở tỉnh, huyện, thôn, xã để đảm bảo sự tuân thủ đồng bộ. Việc thực hiện khung pháp lý ở các cấp chính quyền thấp hơn vẫn phức tạp. Trong thời gian báo cáo này tường trình, chính quyền trung ương và tỉnh đã tổ chức một số lớp tập huấn dành cho cán bộ cấp thấp hơn về những bộ luật mới để họ hiểu và tuân thủ khung pháp lý.

Chính phủ không chính thức ưu tiên một tôn giáo cụ thể nào. Hầu hết các cán bộ cấp cao của Đảng và Chính phủ, cũng như phần lớn các đại biểu Quốc hội đều chính thức “không theo tôn giáo nào”. Tuy nhiên, nhiều quan chức Đảng và Chính phủ vẫn công khai thờ cúng tổ tiên và đi lễ chùa. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định có hàng chục nghìn trong số hơn ba triệu đảng viên theo đạo. Vị thế nổi trội truyền thống của đạo Phật không ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự do tôn giáo của người khác, kể cả những người không muốn theo một tôn giáo nào cả.

Việc theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào đó nhìn chung không ảnh hưởng nghiêm trọng tới các cá nhân trong đời sống dân sự, kinh tế và thế tục, mặc dù nó có thể cản trở con đường tiến thân của các quan chức trong Đảng hoặc trong hàng ngũ quân đội. Quân đội không có chức tuyên uý. Những người theo đạo thuộc các nhóm tôn giáo khác nhau vẫn giữ các vị trí trong chính quyền địa phương và cấp tỉnh, và là đại biểu Quốc hội. Một số giáo sĩ và các tín đồ là thành viên của tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các quan chức Đảng và Chính phủ thường xuyên đi lễ đền, chùa, nhà thờ, đến chúc mừng và thăm các giáo hội Thiên Chúa và Tin Lành nhân dịp Giáng sinh và Phục sinh.

Chính phủ chính thức công nhận các tổ chức Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài, Baha’i, Hồi giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Phật đường Nam tông Minh sư Đạo, và Minh Lý Đạo Tam tông miếu là các tổ chức tôn giáo. Các giáo đoàn thuộc các tổ chức tôn giáo đã đăng ký hoặc được công nhận nhưng thành lập sau khi Khung pháp lý về tôn giáo có hiệu lực cũng phải đăng ký. Một số Phật tử, tín đồ Tin Lành, Hòa Hảo và Cao Đài khác không tham gia các tổ chức tôn giáo đã đăng ký hoặc được Chính phủ công nhận.

Chính phủ cho phép đi lại vì các mục đích tôn giáo. Đối với một số chức sắc tôn giáo muốn ra nước ngoài dự các hội nghị tôn giáo và các khoá tập huấn phải được chính quyền cho phép. Các tín đồ Hồi giáo được dự lễ hành hương về thánh địa Méc-ca, các chức sắc Phật giáo, Công giáo và Tin Lành nhìn chung được ra nước ngoài học tập và dự hội nghị. Các chức sắc Công giáo thường xuyên tới Vatican để tham vấn. Các chức sắc tôn giáo không chính thức khác thường xuyên ra nước ngoài.

Chính phủ yêu cầu tất cả các ấn phẩm tôn giáo phải do Nhà xuất bản Tôn giáo, hoặc các nhà xuất bản thuộc sự quản lý của Chính phủ ấn hành sau khi Chính phủ đã duyệt nội dung ấn phẩm. Trong giai đoạn 2006-2008, Nhà xuất bản Tôn giáo đã xuất bản 1.777 đầu sách và các ấn phẩm khác với tổng cộng là 4.511.900 bản. Một loạt kinh thánh, kinh phật, các tài liệu và các ấn phẩm tôn giáo khác đã được xuất bản và phát hành công khai. Kinh được in bằng tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, tiếng Êđê, Giarai, Banar, M'nong, và tiếng Anh. Trong giai đoạn 2006-2008 Nhà Xuất bản Tôn giáo đã xuất bản 30.000 bản kinh bằng các thứ tiếng dân tộc Bana, Êđê và Giarai.

Điều 35, Nghị định 22 yêu cầu các nhóm truyền giáo nước ngoài phải được phép của Chính phủ khi truyền đạo và quy định những hoạt động đó phải được tiến hành dưới sự bảo trợ của một tổ chức tôn giáo địa phương hoặc quốc gia. Nghị định không cho phép tổ chức hoạt động truyền giáo công khai ngoài các trung tâm thờ tự được công nhận. Một số nhà truyền giáo đã thăm Việt Nam bất chấp lệnh cấm chính thức và tiến hành các hoạt động truyền giáo không chính thức.

Việt Nam không có ngày lễ tôn giáo quốc gia.

Chính phủ không cho phép giảng dạy về tôn giáo trong các trường công. Tuy nhiên, Chính phủ cho phép giới tăng lữ được dạy tại các trường đại học những môn mà họ có đủ trình độ. Các hòa thượng được giảng tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trường chính trị chính của Đảng Cộng sản. Một số nữ tu và ít nhất một linh mục được dạy tại các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh. Họ không được mặc trang phục tôn giáo khi giảng bài hoặc xưng là người tu hành. Các nhóm Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo và Phật giáo được phép giảng dạy về tôn giáo cho trẻ em. Hoạt động giảng dạy Công giáo được phép tiến hành vào cuối tuần hoặc các buổi tối ở hầu hết các vùng và gia tăng trong những năm gần đây tại các giáo hội trên cả nước. Các Phật tử Nam Tông người Khmer và các tín đồ Hồi giáo người Chăm thường xuyên tổ chức các lớp học tôn giáo và ngôn ngữ bên ngoài giờ học chính khóa tại chùa hoặc nhà thờ của họ. Các nhóm tôn giáo không được phép điều hành trường tư, ngoại trừ các trường mầm non. Thần học không được giảng dạy một cách chính thức tại các trường.

Việc có theo đạo hay không được ghi trên chứng minh thư của công dân và “hộ khẩu gia đình”. Trên thực tế, nhiều công dân coi mình là người theo đạo nhưng lại không ghi trên chứng minh thư nhân dân, và do vậy chính phủ liệt họ vào danh sách những người không theo đạo. Mặc dù có thể thay đổi mục tôn giáo trên chứng minh thư nhân dân nhưng những người cải đạo thấy thủ tục thay đổi phức tạp hoặc sợ bị chính quyền phạt. Chính phủ không quy định ghi tôn giáo trong hộ chiếu.

Các biện pháp hạn chế tự do tôn giáo

Chính phủ yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải đăng ký mọi hoạt động và dùng quy định này để hạn chế và cản trở tín đồ tham gia những tổ chức tôn giáo chưa được công nhận, bao gồm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và một số nhóm Tin Lành, Hòa Hảo và Cao Đài.

Hành động của Chính phủ và trở ngại từ bộ máy công quyền hạn chế quyền tự do tôn giáo. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định trong Hiến pháp tiếp tục bị giải thích và thực hiện một cách không đồng bộ.

Do thiếu quy trình pháp lý đúng đắn và sự kiểm soát thiếu nhất quán, các hoạt động tôn giáo có thể bị phụ thuộc vào cán bộ địa phương. Trong một số trường hợp, có tin là cán bộ địa phương nói với các chức sắc tôn giáo rằng luật của nhà nước không áp dụng đối với thẩm quyền của họ. Trong các trường hợp khác, cùng một luật nhưng các tỉnh lại áp dụng khác nhau. Trong một số trường hợp, các nhóm Tin Lành được công nhận và chưa được công nhận thành công trong việc tránh bị sách nhiễu ở địa phương và lật ngược được những quyết định tiêu cực của địa phương sau khi khiếu nại lên chính quyền cấp cao hơn.

Hàng trăm điểm nhóm thuộc Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc tiếp tục chờ đợi đơn đăng ký của họ được giải quyết. Lý do khiến việc đăng ký chậm chễ hoặc bị bác đơn đăng ký thường là cản trở hành chính, chẳng hạn như chưa đúng thủ tục hoặc khai chưa đúng mẫu. Đôi khi các nhà chức trách địa phương đưa ra những lý do mơ hồ về an ninh hoặc nói rằng thẩm quyền chính trị của họ có thể bị đe dọa hoặc xung đột sẽ xảy ra giữa những tín đồ truyền thống và những người mới cải đạo sang Thiên chúa giáo.

Ở một số tỉnh, các nhà thờ tại gia được yêu cầu phải cung cấp danh sách tất cả những người hành đạo như một thủ tục trong quá trình đăng ký hoạt động. Điều này trái với khung pháp lý về tôn giáo. Tình hình này có vẻ diễn ra phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng cũng rất đáng lưu ý ở tỉnh Thanh Hóa thuộc Bắc Trung bộ. Trong một số trường hợp, các chính quyền đã bỏ yêu cầu này sau khi bị các nhóm đăng ký phản đối; trong một số trường hợp khác yêu cầu này vẫn được giữ nguyên, làm chậm lại quá trình đăng ký.

Ở Đắc Lắc, có hơn 100 “địa nhóm” của Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam chưa được đăng ký.

Vẫn còn những cản trở khác đối với sự phát triển và đào tạo tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được chính thức công nhận còn gặp một số khó khăn khi muốn nhận hoặc xuất bản tài liệu giảng dạy, mở rộng cơ sở đào tạo, truyền bá tín ngưỡng, xây dựng nơi thờ tự mới, mở rộng đào tạo giới tăng lữ do yêu cầu ngày càng tăng từ các giáo đoàn. Tuy nhiên, so với những năm trước Chính phủ tiếp tục nới lỏng những biện pháp hạn chế này.

Không có quy định chính thức nào cấm việc cải đạo. Tuy nhiên, sự phức tạp trong quá trình xin cấp chứng minh thư mới với tôn giáo mới có thể cản trở một số cá nhân muốn cải đạo. Có báo cáo cho biết cán bộ địa phương ở các xã vùng nông thôn vẫn cản trở việc cải đạo sang Tin Lành, đe doạ những người cải đạo sẽ gặp khó khăn khi xin cấp các loại giấy tờ liên quan tới bản thân hoặc không được nhận trợ cấp xã hội và trợ cấp giáo dục.

Tháng 6/2009, cán bộ sân bay tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ngăn không cho một mục sư đi Mỹ. Họ đã tịch thu hộ chiếu và yêu cầu vị mục sư phải trình báo công an. Trong năm 2008 một mục sư thuộc nhà thờ tại gia cũng không được cấp hộ chiếu.

Chính sách của Chính phủ không cho phép thành viên thuộc các nhóm tôn giáo không chính thức được công khai phát ngôn về tín ngưỡng của họ, tuy nhiên một số nhóm tiếp tục đào tạo tôn giáo và hành lễ mà không bị sách nhiễu. Tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo đã đăng ký được phép công khai theo tín ngưỡng của mình và có thể thuyết phục những người khác theo tôn giáo của họ tại những nơi thờ tự đã đăng ký, nhưng họ không được làm việc đó ở những nơi khác. Chính phủ kiểm soát và theo dõi tất cả các hình thức tụ họp nơi công cộng, trong đó có tụ họp tổ chức các hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, trong thời gian báo cáo này tường trình, một số cuộc tụ họp tôn giáo quy mô lớn vẫn được cho phép tổ chức.

Vẫn như những năm trước, Chính phủ cản trở những nỗ lực tổ chức các hoạt động từ thiện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và hạn chế việc đi lại của một số chức sắc của Giáo hội mặc dù Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất điều hành nhiều chùa mà không bị hạn chế. Như trong các báo cáo của các năm trước, có tin là các chức sắc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị buộc phải hạn chế đi lại nhưng vẫn được tiếp đón các nhà ngoại giao nước ngoài tới thăm, gặp gỡ các thành viên khác của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và giữ liên lạc với các hội đoàn ở nước ngoài. Tuy nhiên, những hoạt động này vẫn bị giám sát chặt chẽ. Các chức sắc cấp tỉnh của Giáo Hội ở miền Nam cho biết các nhà chức trách địa phương thường xuyên theo dõi và hạn chế việc đi lại của họ và hạn chế gặp gỡ những người khác. Hoà thượng Thích Quảng Độ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất khẳng định ông được phép rời khỏi chùa để đi khám bệnh một hoặc hai lần mỗi tháng và có thể gặp gỡ những người khác bên ngoài chùa.

Chính phủ tiếp tục theo dõi và cản trở hoạt động của một số nhóm tôn giáo bởi các hoạt động chính trị của họ. Các điều khoản an ninh quốc gia và đoàn kết dân tộc trong Hiến pháp được đề cao hơn luật và các quy định về tự do tôn giáo. Có tin là những điều khoản này được viện dẫn nhằm cản trở các cuộc tụ họp tôn giáo và phổ biến tín ngưỡng tôn giáo cho các nhóm dân tộc thiểu số.

Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 1997 quy định hình phạt đối với những tội danh mơ hồ như “cố tình phá hoại đoàn kết dân tộc” bằng cách “gây chia rẽ giữa những người theo đạo và không theo đạo”. Chính phủ tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo độc lập và của các cá nhân bị coi là mối đe doạ đối với quyền lực của Đảng.

Năm 1999, Chính phủ đã thành lập và công nhận một cơ quan chính thức của đạo Hòa Hảo là Hội đồng Trị sự Hòa Hảo. Một số chức sắc trong cộng đồng Hòa Hảo, kể cả những chức sắc thời kỳ trước năm 1975, công khai chỉ trích Hội đồng này. Họ cho rằng Hội đồng này quỵ lụy Chính phủ. Những tín đồ Hoà Hảo không tham gia Hội đồng Trị sự phải chịu một số hạn chế về các hoạt động tôn giáo và chính trị từ năm 1975, một phần vì Đảng Cộng sản vẫn nghi ngờ hoạt động vũ trang chống đối của họ từ thời thực dân Pháp còn cai trị.

Chính phủ vẫn lo ngại về một số nhóm dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đang điều hành “Hội thánh Đề-ga” tự phong, có tin là tổ chức này phối hợp hành đạo với hoạt động chính trị kích động ly khai trong nhóm người dân tộc thiểu số. Sự việc này làm phức tạp và gây chậm trễ cho quá trình đăng ký các nhà thờ khác trong khu vực.

Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam và các nhà thờ tại gia ở các tỉnh Tây Nguyên như Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước và Đắc Nông vẫn bị chính quyền giám sát chặt chẽ do sợ họ liên kết với các nhóm ly khai ở nước ngoài.

Nhà xuất bản Tôn giáo vẫn chưa giải quyết yêu cầu từ lâu là cho phép in Kinh thánh bằng tiếng H’mông do Chính phủ vẫn công nhận bản tiếng H’mông cổ mà ngày nay không còn thông dụng nữa và người H’mông thường không đọc được.

Chính phủ cho phép và trong một số trường hợp còn khuyến khích các tổ chức tôn giáo đã được chính thức công nhận liên kết với các nhóm theo cùng tôn giáo ở nước ngoài; tuy nhiên, Chính phủ tích cực ngăn chặn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tiếp xúc với những Phật tử ủng hộ họ ở nước ngoài. Mặc dù bị ngăn cản nhưng tiếp xúc giữa một số tổ chức Tin Lành chưa đăng ký với những thành phần ủng hộ ở nước ngoài vẫn diễn ra thường xuyên, kể cả đào tạo, hỗ trợ tài chính và cung cấp tài liệu tôn giáo. Chính phủ vẫn lo ngại về việc tiếp xúc giữa các tín đồ Tin Lành “Đề-ga” ly khai ở Tây Nguyên với những người ủng hộ ở hải ngoại.

Những khó khăn cụ thể bao gồm những vụ đòi trả lại tài sản chưa được giải quyết của tất cả các giáo hội Công giáo, Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam và Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc. Chính quyền các tỉnh đã trả lại một ít tài sản của các tổ chức tôn giáo bị tịch thu sau năm 1975 và tiếp tục thảo luận về những tài sản khác. Rất nhiều cơ sở đất đai bị tịch thu trước kia là các trường đào tạo về tôn giáo và bệnh viện đã được sát nhập vào hệ thống trường và bệnh viện công.

Vấn đề đất đai trở nên phức tạp do yếu tố lịch sử và sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong những năm gần đây. Như trong trường hợp địa điểm Tòa Khâm sứ cũ tại Hà Nội, cả Phật tử và người Công giáo đều đòi lại do khu đất này trước đây là của một ngôi chùa Phật giáo nhưng sau đó trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị lại được giao cho Giáo hội Công giáo. Đất đai ngày càng là một hàng hóa có giá trị ở Việt Nam, và Chính phủ ưu tiên phát triển kinh tế. Các chức sắc tôn giáo ngày càng cho rằng các cuộc tranh chấp đất đai của họ là vấn đề kinh tế hơn là phân biệt tôn giáo.

Mặc dù Chính phủ và Giáo hội Công giáo đã nhất trí trả lại một khu đất năm 2008, nhiều tài sản khác vẫn chưa được giải quyết. Tháng 6/2009, một tu viện trên một khu đất tranh chấp thuộc Dòng các tu huynh Thánh gia ở Long Xuyên, tỉnh An Giang đã bị phá dỡ.

Tháng 2/2009 tại tỉnh Quảng Bình, giám mục giáo phận Vinh đã tổ chức lễ cầu nguyện tại khu đất bị tranh chấp của Nhà thờ Tam Toà, nơi đã bị đánh bom năm 1968. Chính quyền tỉnh đã chiếm giữ nhà thờ vào năm 1996 và xây dựng thành một đài tưởng niệm chiến tranh để “gìn giữ và bảo vệ cho các thế hệ sau tưởng nhớ về những tội ác chiến tranh của Mỹ”. Ngày 23/10/2008, vị Giám mục đã ký một Biên bản ghi nhớ với các quan chức tỉnh công nhận giá trị lịch sử của nhà thờ và đồng ý đổi lấy một địa điểm phù hợp để xây lại nhà thờ. Tuy nhiên, khi chính quyền địa phương đề nghị năm khu đất để xây nhà thờ mới thì giáo phận đã bác bỏ vì cho rằng không tương xứng.

Tháng 1/2009, tu viện của Giáo đoàn Dòng nữ tu Thánh Paul thành Chartres ở tỉnh Vĩnh Long đã bị phá dỡ để xây dựng một công viên công cộng.

Các cuộc biểu tình quy mô lớn đã xảy ra tại Hà Nội, có tới 15.000 người công giáo tham gia một buổi lễ cầu nguyện đặc biệt do Tổng Giám mục Hà Nội tổ chức ngày 21/9/2008, sau vụ tranh chấp đất đai tại Toà Khâm xứ cũ ở Hà Nội mà Chính phủ đã tịch thu. Ngày 19/9, các quan chức thành phố thông báo họ sẽ xây dựng khu đất này thành một công viên công cộng, còn toà Khâm xứ cũ sẽ trở thành thư viện. Các quan chức thành phố ngay lập tức phá dỡ các toà nhà hành chính trên khu đất đó.

Từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2008, các tín đồ công giáo đã tổ chức các buổi lễ cầu nguyện lớn trên khu đất tranh chấp trước đây thuộc giáo xứ Thái Hà tại Hà Nội. Tám người đã bị bắt hồi tháng 8 và tháng 9. Tháng 12 họ bị kết án bằng đúng thời gian bị giam giữ vì tội phá hoại tài sản công cộng và gây rối trật tự công cộng.