Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2009

Part 1

Chapter 15,129 wordsPublic domain (Wikisource)

← Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2008

Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2009  (2009)  của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam dịch Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2010 →

- thông tin về bản này . 

Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2009 của Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, công bố ngày 26 tháng 10 năm 2009.

của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 13772 Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2009 2009 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

LỜI TỰA

Vì sao các báo cáo được soạn thảo

Báo cáo này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đệ trình lên Quốc hội, theo quy định tại mục 102(b) của Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế (IRFA) ban hành năm 1998. Theo quy định của luật này, Ngoại trưởng Mỹ, với sự hỗ trợ của Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế, sẽ trình lên Quốc hội “Báo cáo Thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế, bổ sung các báo cáo mới nhất về Nhân quyền với những thông tin chi tiết về các vấn đề liên quan tới tự do tôn giáo quốc tế”.

Báo cáo được soạn thảo như thế nào

Để chuẩn bị các dự thảo báo cáo ban đầu, các đại sứ quán Mỹ thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm thông tin từ các quan chức chính phủ và các chức sắc tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo, các nhà hoạt động nhân quyền, các nhóm tôn giáo và giới học thuật. Quá trình thu thập thông tin có thể rất mạo hiểm. Cán bộ ngoại giao Hoa Kỳ thường phải nỗ lực hết mình, đôi khi ở trong những hoàn cảnh rất nguy hiểm để tiến hành điều tra báo cáo về vi phạm nhân quyền, giám sát các cuộc bầu cử, và hỗ trợ những người gặp nguy hiểm vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế phối hợp thu thập và phân tích thông tin để báo cáo về tình hình từng nước, dựa trên nguồn tin của các văn phòng khác trong Bộ Ngoại giao, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ khác, nguồn tin từ các quan chức chính phủ nước ngoài, đại diện Liên Hợp Quốc, các tổ chức và các thể chế quốc tế và khu vực khác cùng với giới học giả và truyền thông. Khi soạn thảo và biên tập báo cáo về tình hình các nước, Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia về các vấn đề phân biệt và ngược đãi tôn giáo, tham khảo các chức sắc tôn giáo thuộc nhiều tôn giáo khác nhau và các chuyên gia về luật pháp. Nguyên tắc chỉ đạo của Văn phòng là đảm bảo mọi thông tin liên quan được đánh giá một cách khách quan, toàn diện và công bằng nhất có thể.

Bản báo cáo sẽ được các bộ, ngành, cơ quan trong Chính phủ Mỹ sử dụng để xây dựng chính sách, triển khai công tác ngoại giao, hỗ trợ, đào tạo và phân bổ các nguồn lực khác, đồng thời giúp xác định những nước vi phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc dung túng “các vụ vi phạm đặc biệt nghiêm trọng” về quyền tự do tôn giáo, để đưa những nước này vào danh sách cần quan tâm đặc biệt.

Về việc sử dụng từ ngữ

Khi báo cáo này khẳng định một chính phủ “nhìn chung là tôn trọng” quyền tự do tôn giáo trong giai đoạn báo cáo tường trình, có nghĩa là chính phủ đó đã cố gắng bảo vệ quyền tự do tôn giáo một cách đầy đủ nhất. Do vậy, cụm từ “nhìn chung là tôn trọng” thể hiện mức tôn trọng cao nhất đối với quyền tự do tôn giáo nêu tại báo cáo này. Cụm từ “nhìn chung là tôn trọng” được sử dụng vì việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo là một nỗ lực liên tục, không thể nói một cách chính xác chính phủ nào tôn trọng đầy đủ quyền này trong cả năm thực hiện báo cáo, ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất.

Lời cảm ơn

Báo cáo năm 2009 được thực hiện từ 1/7/2008 đến 30/6/2009, phản ánh một năm đầy nỗ lực của hàng trăm cán bộ và nhân viên ngoại giao tại Bộ Ngoại giao và các sứ quán Hoa Kỳ ở nước ngoài. Chúng tôi xin cảm ơn các viên chức ngoại giao tại các sứ quán và lãnh sự quán của Hoa Kỳ ở nước ngoài vì đã giám sát và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, và theo dõi chi tiết tình hình tự do tôn giáo. Bên cạnh nỗ lực của họ, chúng tôi ghi nhận sự lao động miệt mài và đấu tranh không mệt mỏi cho quyền tự do tôn giáo của các nhân viên Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế, những người đã giúp hoàn thành bản báo cáo này, trong đó có Clarissa Adamson, Ali Aghaebrahim, Sylvia Ayub, Nasreen Badat, Judson Birdsall, M. A. Borst, Alexandra Brewer, Mark Carlson, Barbara Cates, Warren Cofsky, Courtney Cook, Graham Couturier, Kate Dailey, Doug Dearborn, Kurt Donnelly, Brian Fabbi, Augustine Fahey, Nathan Godsey, A. T. Gombis, Nancy Hewett, Olivia Hilton, Nathan Hitchen, Victor Huser, Alicia Juskewycz, Emilie Kao, Justin Kern, Sarah Kim, Peter Kovach, Gwendolyn Mack, Safia Mohamoud, Fidel Mahangel, Alexander McLaren, Joannella Morales, Sarah Nelson, Aaron Pina, David Rodearmel, Lana Salih, Tarika Sethi, Andrea Sidari, Lauren Smith, và Abdelnour Zaiback. Việc làm của tất cả những cá nhân này thúc đẩy sự nghiệp tự do, đảm bảo tính chính xác trong báo cáo và mang lại hy vọng cho những người bị đàn áp trên toàn thế giới.

GIỚI THIỆU

Tự do Tôn giáo là điều cốt yếu để mọi dân tộc chung sống với nhau

— Tổng thống Barack Obama

Trong bài phát biểu quan trọng tại Đại học Cairo, Ai Cập, Tổng thống Obama đã đưa ra tầm nhìn về “một sự khởi đầu mới” giữa nước Mỹ và người Hồi giáo trên khắp thế giới – một mối quan hệ dựa trên lợi ích chung và tôn trọng lẫn nhau. Tổng thống khẳng định, việc xây dựng một mối quan hệ chặt chẽ hơn đòi hỏi “nỗ lực bền bỉ, cùng lắng nghe, học hỏi và tôn trọng lẫn nhau và tìm kiếm điểm tương đồng”. Mối quan hệ mới này buộc chúng ta phải “thẳng thắn đối mặt với những bất đồng, căng thẳng” thay vì né tránh chúng và hợp tác cùng nhau giải quyết những vấn đề đó trên tư cách là những đối tác.

Bộ Ngoại giao soạn thảo Báo cáo Thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế theo tinh thần đối thoại và hợp tác này. Tôn giáo là một hiện tượng toàn cầu; mọi quốc gia đều phải đối mặt với những thách thức và cơ hội do đa dạng tôn giáo đem lại và không một quốc gia nào đạt được thành tích hoàn hảo về tự do tôn giáo. Người Mỹ có quyền tự hào về di sản tự do tôn giáo của chúng ta; vô số người tị nạn vì lý do tôn giáo đã tìm cách thoát khỏi tình trạng bị ngược đãi trên chính quê hương họ và tìm nơi trú ẩn ở đất nước chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta không khỏi đau lòng vì trong quá khứ, chính chúng ta cũng ngược đãi các nhóm thiểu số. Xã hội Mỹ từ lâu đã đấu tranh để thích ứng với sự đa dạng tôn giáo, đặc biệt sau những vụ hành quyết công khai những người theo giáo phái Quây-cơ giữa thế kỷ 17 ở Vịnh Massachusetts đến việc trục xuất những người theo giáo phái Moóc-môn khỏi Missouri những năm 1838-39, và tình trạng phân biệt đối xử đối với nhiều người Hồi giáo sau sự kiện 11/9. Tuy nhiên, chúng ta cũng học được bài học kinh nghiệm rằng việc chính quyền chấp nhận sự đa nguyên và xã hội cũng đi theo hướng đó đã giúp đất nước, dân tộc ta trở nên phồn thịnh. Thông qua Báo cáo Thường niên này và các nỗ lực ngoại giao khác, chúng ta kêu gọi tất cả các quốc gia hãy bảo vệ tự do tôn giáo và thúc đẩy khoan dung tôn giáo đối với tất cả các nhóm và cá nhân. Như Tổng thống Obama đã phát biểu ở Cairo:

“Người dân ở mọi quốc gia phải được tự do lựa chọn và sống với đức tin của mình theo tiếng gọi của trái tim, linh hồn và lý trí. Khoan dung tôn giáo là điều cực kỳ cần thiết để tôn giáo phát triển, tuy nhiên chính sự khoan dung đó đang bị thách thức trên nhiều phương diện”.

Báo cáo Thường niên này điều tra “những phương diện khác nhau” đó tại 198 quốc gia và vùng lãnh thổ. Với việc đề cập cả những tiến bộ lẫn những tiêu cực về thực trạng của việc tôn trọng tự do tôn giáo của các chính phủ và xã hội, mục tiêu của Báo cáo Thường niên là phản ánh tình hình một cách toàn diện, cân bằng, có xét đến sự đa dạng và động lực của truyền thống tôn giáo thế giới và bối cảnh chính trị-xã hội. Mặc dù các cộng đồng tôn giáo trên toàn thế giới đối mặt với những điều kiện khác nhau, nhưng về nguyên tắc và thực tiễn, cơ sở để bảo vệ quyền tự do của các cộng đồng tôn giáo đều giống nhau: tự do tôn giáo là quyền cơ bản, là lợi ích xã hội, là nhân tố ổn định và là chìa khóa của an ninh quốc tế. Các bài phát biểu của Tổng thống trong năm qua đều đề cập đến những vấn đề xung quanh bốn lý do này.

Thứ nhất, tự do tôn giáo là quyền của tất cả mọi người ngay từ khi mới sinh ra, dù theo hay không theo tôn giáo nào. Được ghi nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu và các văn kiện quốc tế khác, quyền tự do theo đạo, hành đạo và truyền đạo của mỗi người phải được mọi xã hội, mọi chính phủ tôn trọng. Hoa Kỳ thực hiện nghĩa vụ này hết sức nghiêm túc. Trong thông điệp gửi người Hồi giáo nhân Lễ Ramadan, Tổng thống Obama đã phát biểu: “Hoa Kỳ sẽ luôn ủng hộ quyền phổ quát của người dân được công khai tín ngưỡng của mình, được hành đạo, đóng góp đầy đủ cho xã hội và có niềm tin vào pháp quyền”.

Thứ hai, tự do tôn giáo tăng cường quyền năng cho các cộng đồng tôn giáo nhằm thúc đẩy những lợi ích chung. Tương tự, tự do có xu hướng biến đức tin và sự sùng đạo thành những hành động phục vụ và tham gia tích cực vào đời sống công cộng. Ở Mỹ, rất nhiều nhóm tôn giáo, từ những giáo đoàn lớn nhất cho tới những giáo đoàn địa phương nhỏ nhất, tất cả đều biến đức tin của họ thành hành động thực tế và giúp xây dựng một xã hội công bằng hơn, bao dung hơn. Khi thông báo về việc thành lập Văn phòng Nhà Trắng phụ trách các mối quan hệ đối tác khu vực và dựa trên tôn giáo, Tổng thống Obama khẳng định: “Có một động lực hướng tới những điều tốt đẹp còn lớn hơn cả chính phủ. Đó là biểu hiện của đức tin, mong muốn được cống hiến, khao khát hướng tới mục tiêu lớn hơn những mục tiêu của bản thân chúng ta. Đức tin đó không chỉ hiện diện ở những nơi hành đạo mà còn ở các trại và trung tâm trợ giúp, các trường học và các bệnh viện”.

Thứ ba, tự do tôn giáo không chỉ là quyền của con người và lợi ích xã hội mà còn là động lực quyết định sự ổn định của quốc gia. Các chế độ độc tài đàn áp các nhóm tôn giáo và các lý tưởng tôn giáo với lý do duy trì sự ổn định quốc gia tạo ra những điều kiện đi ngược lại với những mục tiêu mà họ đưa ra. Đàn áp dẫn tới sự quá khích. Can thiệp tuỳ tiện và mang tính cưỡng ép đối với hoạt động hành đạo hòa bình càng tạo nên tâm lý hận thù chống lại nhà nước và là nguồn gốc dẫn tới ly khai và nổi dậy. Ngược lại, như Tổng thống phát biểu trước Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ: “tự do tôn giáo và tự do bày tỏ giúp xây dựng một xã hội dân sự mạnh và bền vững, góp phần củng cố nhà nước… Cam kết lâu dài đối với pháp quyền là con đường duy nhất để có được an ninh vì đảm bảo công lý cho tất cả mọi người”.

Thứ tư, khi các nhóm khủng bố reo rắc hận thù trên khắp thế giới, tự do tôn giáo có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh quốc tế. Như Tổng thống đã phát biểu ở Cairo “khi những phần tử cực đoan hoạt động trên các sườn núi, thì tất cả người dân bên bờ đại dương đều bị lâm nguy”. Các chính phủ phải đảm bảo rằng các chính sách tôn giáo của họ không có những hệ lụy quốc tế tiêu cực. Chế độ nào lũng đoạn tôn giáo hoặc đẩy các nhóm thiểu số ra ngoài lề chỉ càng làm gia tăng căng thẳng giữa các tôn giáo và thổi bùng ngọn lửa tư tưởng tôn giáo cấp tiến. Mặt khác, việc tạo môi trường thuận lợi cho quyền tự do tôn giáo phát triển sẽ thúc đẩy sự hòa thuận cộng đồng và khuyến khích những quan điểm ôn hòa nhằm công khai bác lại lý lẽ của những kẻ cực đoan vì lý do tôn giáo.

Dưới góc độ lợi ích tự do tôn giáo và những nguy hiểm nếu phủ nhận quyền tự do đó, Hoa Kỳ thúc đẩy quyền phổ quát này với tư cách một mục tiêu chủ chốt trong chính sách đối ngoại. Báo cáo Thường niên này đi tiên phong trong nỗ lực thực hiện mục tiêu này. Báo cáo thông tin về các chính sách song phương và các chiến lược ngoại giao của chúng ta, nêu rõ những chính phủ vi phạm tự do tôn giáo, và mang lại hy vọng cho hàng triệu người bị tổn hại vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng. Báo cáo cũng là nguồn tài liệu phong phú, chi tiết về vấn đề tôn giáo trong xã hội. Chúng tôi đánh giá cao đóng góp của các nhà hoạt động xã hội và các học giả cho các báo cáo của chúng ta và làm phong phú thêm hiểu biết về những nguyên nhân phức tạp và tác động của vấn đề tự do tôn giáo và ngược đãi tôn giáo. Chúng tôi hoan nghênh sử dụng các báo cáo này nhằm phục vụ việc nghiên cứu, phân tích sâu hơn nữa, đồng thời tiếp nhận phê bình về chính sách tự do tôn giáo trong nước và quốc tế của Mỹ. Chúng tôi hy vọng rằng Báo cáo Thường niên này sẽ khích lệ đối thoại toàn cầu và khuyến khích hoạt động hợp tác hướng tới một thế giới công bằng và an toàn hơn.

Michael Posner

Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Dân chủ, Nhân quyền và Lao động

VIỆT NAM

Hiến pháp quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều nhóm tôn giáo.

Trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình, việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo và hành đạo tiếp tục được cải thiện nhưng vẫn còn tồn tại những vấn đề nghiêm trọng. Chính phủ triển khai thêm các biện pháp nhằm thực hiện Pháp lệnh Tôn giáo và Tín ngưỡng năm 2004 và các nghị định bổ sung về chính sách tôn giáo ban hành năm 2005 (gộp lại là khung pháp lý tôn giáo của Chính phủ). Chính phủ cũng hỗ trợ xây dựng các cơ sở đào tạo mới, từ đó tăng cường giáo dục cho hàng nghìn hoà thượng, linh mục và mục sư. Các giáo đoàn mới đã được đăng ký tại nhiều tỉnh trên tổng số 64 tỉnh, thành trên cả nước; một số tổ chức tôn giáo mới được đăng ký và công nhận ở cấp quốc gia; nhìn chung Chính phủ cho phép công dân hành đạo một cách tự do hơn. Giáo hội Công giáo, các hội thánh Tin Lành và các giáo đoàn nhỏ hơn cho biết việc tụ họp và hành đạo được cải thiện và nhìn chung Chính phủ đã nới lỏng hạn chế về việc bổ nhiệm tăng lữ mới. Chính phủ cũng cho phép Phật tử, tín đồ Công giáo và Tin Lành được tổ chức các buổi lễ tôn giáo lớn trên cả nước, với trên 10.000 tín đồ tham dự trong mỗi sự kiện. Giáo hội Công giáo cho biết Chính phủ đã cho thành lập thêm một chủng viện nữa ở tỉnh Nam Định. Các tín đồ Tin Lành và Công giáo toàn miền Bắc cho biết đã có cải thiện trong thái độ của phần lớn các quan chức đối với tôn giáo và nhìn chung các tín đồ Tin Lành và Công giáo được phép tụ họp hành đạo mà không bị sách nhiễu, mặc dù vẫn còn xảy ra một số vụ việc nhỏ lẻ.

Trong giai đoạn báo cáo này tường trình, Chính phủ đã công nhận ở cấp quốc gia đối với năm tổ chức Tin Lành gồm Hội thánh Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Nam Phương), Hội thánh Báp-tít Ân điển Nam phương ), Hội thánh Trưởng Lão Việt Nam, và Hội thánh Mennonite Việt Nam. Chính phủ cũng công nhận thêm bốn tôn giáo nữa gồm: Đạo Hồi dòng Bani, Phật đường Nam tông Minh sư Đạo, Minh Lý Đạo Tam tông miếu, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội, và Cộng đồng Baha’i. Cũng trong giai đoạn thực hiện báo cáo này, Chính phủ đã cấp giấy đăng ký sinh hoạt cấp Giáo hội cho một hệ phái Tin Lành nữa là Liên hữu Tin Lành Việt Nam, và hai nhóm tôn giáo nữa là Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Mặc dù có những tiến bộ trong giai đoạn báo cáo này tường trình, vẫn còn tồn tại những vấn đề nghiêm trọng trong việc thực hiện khung pháp lý về tôn giáo, đặc biệt ở cấp tỉnh và xã. Những vấn đề này bao gồm việc chậm trễ, thậm chí không thực hiện việc đăng ký các giáo đoàn Tin Lành ở miền bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên; áp dụng không đồng bộ các thủ tục đăng ký giáo đoàn; những yêu cầu pháp lý phức tạp, gây cản trở và hạn chế đối với việc thu nhận tín đồ. Ở một số vùng nơi hoạt động đăng ký diễn ra chậm chạp, các giáo đoàn Tin Lành bị sách nhiễu, như ở tỉnh Trà Vinh thuộc đồng bằng sông Cửu Long và những vùng xa xôi, hẻo lánh ở Tây Bắc. Một số giới chức cấp tỉnh chủ động trong việc thực thi trong khuôn khổ pháp lý về tôn giáo, nhưng một số khác tỏ ra không coi việc áp dụng đồng bộ khung pháp lý là một ưu tiên, số khác nữa, đặc biệt là ở Tây Bắc, còn không chịu thực hiện. Sau ba năm, Chính quyền trung ương vẫn chưa chấp thuận một bản dịch Kinh thánh bằng tiếng H’mông.

Chính phủ vẫn duy trì vai trò chủ đạo trong việc kiểm soát các tôn giáo đã được chính thức công nhận. Các nhóm tôn giáo phải chịu những hạn chế khắt khe nhất khi tham gia các hoạt động mà Chính phủ cho là thách thức quyền lực của Đảng Cộng sản. Chính phủ tiếp tục không cho đăng ký và cản trở việc tham gia vào một giáo phái không được công nhận của các phật tử Hoà Hảo. Chức sắc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất cho biết Chính phủ tiếp tục giám sát chặt chẽ các hoạt động của Giáo hội và hạn chế việc đi lại của các chức sắc giáo hội. Các nhà chức trách đã thả năm Hoà thượng Khơ-me bị tù vì bị cáo buộc dính líu đến tổ chức các cuộc biểu tình đòi đất ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2007.

Trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình, ít xảy ra các vụ bạo lực xã hội có liên quan đến lý do tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc hành đạo. Tháng 4, mục sư Tin Lành Thạch Thanh No thuộc Hiệp hội Thông công Tin Lành các dân tộc Việt Nam đã bị các tín đồ Phật giáo Khơ-me Krom giết hại sau khi gặp gỡ một nhóm tín đồ thuộc nhà thờ của ông. Có những cáo buộc rằng ông đã bị giết hại vì lý do tín ngưỡng nhưng Chính phủ phản đối cáo buộc này. Nhiều tín đồ Công giáo và Tin Lành cũng cho biết những người theo đạo Thiên chúa không được xem xét cất nhắc vào các vị trí cao trong chính quyền do có sự phân biệt không chính thức trong Chính phủ.

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn duy trì đối thoại thường xuyên với các quan chức cấp cao cũng như các quan chức chuyên trách của Chính phủ nhằm thúc đẩy hơn nữa quyền tự do tôn giáo. Các quan chức Hoa Kỳ cũng gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo, kể cả các nhà hoạt động tôn giáo nằm trong danh sách theo dõi của Chính phủ. Đại sứ Mỹ và các quan chức Mỹ khác, kể cả Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế, đều bày tỏ lo ngại với Thủ tướng, Phó Thủ tướng, các thành viên chính phủ, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và các quan chức cao cấp ở địa phương và những người khác về việc các tổ chức tôn giáo gặp khó khăn trong việc được công nhận chính thức, những vấn đề mà các tín đồ Tin Lành ở Tây Nguyên và Tây Bắc gặp phải và những hình thức hạn chế tự do tôn giáo khác. Trong các buổi hội kiến với các quan chức chính phủ trong thời gian báo cáo này tường trình, Cựu Ngoại trưởng Rice kêu gọi cải thiện hơn nữa quyền tự do tôn giáo. Tự do tôn giáo cũng được đề cập đến trong Đối thoại Nhân quyền song phương Mỹ-Việt năm 2008.

Phần I: Các tôn giáo

Việt Nam có diện tích khoảng 127.000 dặm vuông với dân số khoảng 86 triệu người. Ước tính cho thấy ít nhất có khoảng hơn một nửa dân số trên danh nghĩa theo Đạo Phật. Giáo hội Công giáo chiếm 8-10% dân số. Một số tổ chức của đạo Cao Đài chiếm 1,5-3% dân số, giáo phái Hòa Hảo chiếm 1,5-4% dân số, các hệ phái Tin Lành chiếm 0,5-2% dân số, và một tổ chức Hồi giáo chiếm chưa đầy 0,1% dân số. Hầu hết số công dân còn lại tự nhận mình không theo tôn giáo nào, mặc dù nhiều người trong số họ vẫn giữ các tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng tổ tiên và các anh hùng dân tộc.

Nhiều Phật tử thực hành những nghi thức là sự kết hợp của Phật giáo Đại thừa, Đạo Lão và Nho giáo mà đôi khi được gọi là “tam giáo”. Ban Tôn giáo Chính phủ ước tính khoảng 10 triệu người (12% dân số) theo Phật giáo Đại thừa, phần lớn là người Kinh (nhóm đa số đồng thời được gọi là người Việt), sống ở khắp nơi trên cả nước, mặc dù nhiều người cho rằng con số ước tính này thấp hơn thực tế. Số lượng phật tử ở một số vùng cao ít hơn, mặc dù việc người Kinh di cư đến các vùng này đang phần nào làm thay đổi sự phân bố tín đồ. Chỉ riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 1000 chùa đang hoạt động. Nhóm Khơ-me thiểu số ở miền Nam theo Phật giáo dòng Nam tông có hơn 570 ngôi chùa. Với số lượng khoảng hơn 1 triệu người, hầu hết họ sống tập trung ở châu thổ sông Cửu Long.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam được công nhận chính thức ra đời năm 1981 trên cơ sở sáp nhập tất cả tổ chức Phật giáo Đại Thừa, Nam Tông và Tiểu thừa. Tất cả các nhóm Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam đều có đại diện tính theo tỉ lệ trong hàng ngũ lãnh đạo và trong tổ chức. Trên thực tế các vị sư sãi dòng Nam Tông thường họp riêng để quyết định các vấn đề như giáo lý, giáo dục và đưa ra những yêu cầu khác của cộng đồng này trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Chính phủ yêu cầu tất cả vị sư sãi, kể cả các vị sư người Khơ-me theo Phật giáo dòng Nam Tông, phải được công nhận và hoạt động dưới sự quản lý của tổ chức phật giáo được chính phủ công nhận và bảo trợ là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Về lý thuyết, Ban Tôn giáo Chính phủ quản lý số lượng tăng ni sinh, dẫu vậy bên cạnh số bốn học viện tương đương với các trường đại học với chương trình bốn năm, số cơ sở đào tạo Phật giáo ở cấp địa phương và tỉnh đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây.

Kể từ khi sáp nhập tất cả các tổ chức tôn giáo vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chính phủ không công nhận tính hợp pháp của Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam. Có một số tổ chức tôn giáo mới được công nhận có ảnh hưởng Phật giáo, mặc dù họ không thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong số này, Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội có số lượng thành viên đông nhất với hơn 1,3 triệu phật tử.

Ước tính cả nước có khoảng 8 triệu tín đồ Công giáo, mặc dù con số thống kê của Chính phủ là 6,15 triệu. Tín đồ Công giáo sinh sống trên khắp mọi miền đất nước, nhưng tập trung đông nhất ở các tỉnh miền Nam xung quanh Thành phố Hồ Chí Minh, một vài nơi ở Tây Nguyên và ở các tỉnh phía Đông Nam Hà Nội. Trong những năm gần đây, Công giáo đã được khôi phục lại ở nhiều khu vực với nhiều nhà thờ được xây mới hoặc cải tạo lại, và số người muốn trở thành linh mục hoặc tu sỹ ngày một gia tăng.

Theo con số thống kê của Chính phủ, có 2,3 triệu tín đồ theo đạo Cao Đài, mặc dù các chức sắc đạo Cao Đài thường xuyên khẳng định phải có tới 5 triệu tín đồ. Các nhóm Cao Đài hoạt động sôi nổi nhất ở tỉnh Tây Ninh, nơi toạ lạc “Toà thánh” Cao đài Tây Ninh, ở Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long. Đạo Cao Đài có nhiều giáo phái riêng biệt với giáo phái lớn nhất là phái Tây Ninh, chiếm hơn một nửa số tín đồ đạo Cao Đài và hơn 40% dân số của tỉnh này. Đạo Cao Đài là một sự dung hợp các yếu tố của nhiều đức tin khác nhau.

Theo Chính phủ, có khoảng 1,3 triệu tín đồ Hòa Hảo, trong khi con số do những chi nhánh hải ngoại thống kê lên tới 3 triệu. Các tín đồ Hòa Hảo tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là ở các tỉnh như An Giang và Đồng Tháp, nơi mà trước năm 1975 giáo phái Hòa Hảo nổi lên với tư cách một lực lượng xã hội, chính trị, và quân sự. Ban Trị sự Hòa Hảo được Chính phủ công nhận thành lập năm 1999. Một số tín đồ Hòa Hảo theo các chi phái khác đối lập với Ban Trị sự Hòa Hảo.

Hai Hội thánh Tin Lành lớn nhất được chính thức công nhận là Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam và Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc nhỏ hơn. Hội Thánh Báp-tít Ân Điển, Hội thánh Cơ đốc Truyền giáo, Hội thánh Mennonite Việt Nam, Hội thánh Trưởng Lão Việt Nam, Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Báp-típ miền Nam), Hội thánh Cơ đốc Phục lâm Việt Nam cũng được chính thức công nhận. Các hệ phái Tin Lành khác cũng được công nhận, trong đó có Liên hữu Cơ đốc (đã được chính thức công nhận). Ước tính số tín đồ Tin Lành dao động từ 900.000 theo thống kê của Chính phủ đến 2 triệu theo ước tính của các giáo hội. Giai đoạn 1996-2000 là giai đoạn số tín đồ Tin Lành tăng mạnh nhất. Một số tín đồ cải đạo mới thuộc các nhà thờ tại gia không đăng ký. Theo tính toán của các tín đồ, 2/3 tín đồ Tin Lành là người dân tộc thiểu số, trong đó có các nhóm thiểu số khác vùng Tây Bắc (H’mông, Dao, Thái và các dân tộc khác) và Tây Nguyên (Ê-đê, Gia-rai, Mơ-nông và các dân tộc khác).

Các nhà thờ Hồi giáo phục vụ một lượng tín đồ Hồi giáo ít ỏi, ước tính có khoảng 60 đến 80 nghìn người hành đạo ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, tỉnh miền tây An Giang, và các tỉnh duyên hải phía Nam. Chính phủ ước tính có khoảng 73 nghìn tín đồ Hồi giáo. Cộng đồng người Hồi giáo chủ yếu là người dân tộc Chăm, tuy nhiên ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh An Giang có cả một số tín đồ là người Kinh và người di cư từ Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Ấn Độ. Khoảng 40% tín đồ Hồi giáo theo dòng Sunni, 60% còn lại theo dòng Bani, một dòng đạo Hồi riêng biệt của người Chăm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ.