Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2008

Part 2

Chapter 25,036 wordsPublic domain (Wikisource)

Khoảng 14 triệu người, chiếm khoảng 17% dân số hoặc hơn, được cho là không theo một tôn giáo có tổ chức nào cả. Một số nguồn tin khác cho rằng những người chỉ đi lễ vào những ngày lễ hội thì không phải là phật tử. Theo định nghĩa này thì số người không theo đạo sẽ cao hơn nữa, có thể lên đến 50 triệu. Không có số liệu nào thống kê về mức độ tham gia vào các nghi lễ tôn giáo chính thức, nhưng người ta cho rằng con số này vẫn tiếp tục tăng lên từ đầu những năm 1990.

Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số. Về lịch sử, các dân tộc thiểu số giữ những tín ngưỡng truyền thống khác với người Kinh. Nhiều dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc H’mong, Dao và Gia Rai ở Tây Bắc và Tây Nguyên đã cải đạo theo Tin Lành.

Phần II. Hiện trạng về tự do tôn giáo

Khung pháp lý/chính sách

Hiến pháp, các văn bản pháp luật, và nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng năm 2003 về tôn giáo đều quy định công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 là văn bản pháp luật cơ bản quy định hoạt động tôn giáo. Pháp lệnh này khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, có thể theo hoặc không theo một tôn giáo nào, và nghiêm cấm việc xâm phạm quyền tự do đó. Tuy nhiên, Pháp lệnh cũng nhấn mạnh việc “lợi dụng” tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhằm mục đích “phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước” là phạm pháp và cảnh báo đình chỉ các hoạt động tôn giáo nếu ảnh hưởng tiêu cực tới các truyền thống văn hóa của dân tộc.

Pháp lệnh này tiếp tục duy trì sự quản lý và giám sát của chính phủ đối với các tổ chức tôn giáo. Theo các quy định trong pháp lệnh, các giáo đoàn phải được chính thức công nhận hoặc đăng ký; các hoạt động và chức sắc của từng giáo đoàn phải được chính quyền cấp thấp hơn chấp thuận. Việc thành lập các trường dòng, tổ chức và tuyển sinh vào các lớp học phải được các cấp chính quyền phù hợp chấp thuận. Việc phong chức linh mục hoặc các chức sắc tôn giáo khác phải được phép của chính quyền chỉ khi có liên quan đến “yếu tố nước ngoài”, chẳng hạn như Tòa thánh Vatican. Pháp lệnh cấm ép buộc cải đạo, đồng thời cũng đã nới lỏng ở một mức độ nhất định sự giám sát của chính phủ đối với tôn giáo. Ví dụ, các tổ chức tôn giáo chỉ cần thông báo với các cấp chính quyền về hoạt động hàng năm hoặc về việc phong chức hay thuyên chuyển giáo sĩ, trong khi trước đây những việc này phải được sự chấp thuận chính thức. Hơn nữa, Pháp lệnh cũng khuyến khích các nhóm tôn giáo tổ chức các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, hai lĩnh vực trước đây bị hạn chế.

Tháng 2/2005, Thủ tướng ban hành “Chỉ thị về một số công tác đối với đạo Tin Lành”, kêu gọi các cấp chính quyền hỗ trợ các giáo hội Tin Lành được công nhận xây dựng nhà thờ, đào tạo và bổ nhiệm mục sư, đồng thời chỉ đạo các cấp chính quyền phải giúp đỡ những giáo đoàn chưa được công nhận đi đăng ký để họ có thể hành đạo công khai, tiến tới đáp ứng các yêu cầu để được công nhận đầy đủ. Chỉ thị hướng dẫn các cấp chính quyền ở Tây Nguyên và Tây Bắc giúp đỡ các nhóm tín đồ Tin Lành đăng ký các hoạt động tôn giáo và hành đạo tại gia hoặc tại những “địa điểm phù hợp”, ngay cả khi “họ chưa đáp ứng đủ điều kiện để thành lập một giáo đoàn chính thức. Chỉ thị cũng hướng dẫn cán bộ địa phương cho phép các “nhà thờ tại gia” chưa đăng ký được hoạt động nếu họ “cam kết tuân thủ các quy định” và họ không liên kết với các phong trào chính trị ly khai.

Tháng 3/2005, Chính phủ ra nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo (Nghị định số 22). Nghị định quy định chi tiết thủ tục để một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận có thể đăng ký nơi thờ tự, giới giáo sĩ, các hoạt động của tổ chức, và từ đó có thể hoạt động công khai. Nghị định còn hướng dẫn thủ tục để các nhóm tôn giáo này đăng ký để được Chính phủ công nhận chính thức và hưởng thêm các quyền khác. Nghị định quy định cụ thể một tổ chức tôn giáo phải có 20 năm “hoạt động tôn giáo ổn định” ở Việt Nam mới được Chính phủ công nhận chính thức, và các hoạt động trong quá khứ có thể được tính để đạt được mức yêu cầu này. Nghị định còn quy định khung thời gian cụ thể Chính phủ xét đơn của các tổ chức tôn giáo, và yêu cầu cán bộ chuyên trách phải giải thích bằng văn bản nếu họ bị bác đơn.

Nghị định số 22 cũng quy định rõ những thủ tục mà các tổ chức tôn giáo và từng giáo đoàn phải thực hiện để được chính thức công nhận. Về nguyên tắc, các hệ phái được công nhận sẽ được phép mở cửa, hoạt động và cải tạo lại nơi thờ tự, đào tạo chức sắc tôn giáo, và được xin phép xuất bản tài liệu. Để được công nhận chính thức, trước hết hệ phái đó phải đăng ký ở cấp quốc gia. Theo khuôn khổ pháp lý, một tổ chức tôn giáo phải trải qua một số thủ tục pháp lý mới được đăng ký ở cấp quốc gia. Thứ nhất, tổ chức tôn giáo đó phải đệ đơn và được chấp thuận đăng ký ở khu vực hành chính địa phương nơi tổ chức hoạt động. Tổ chức tôn giáo phải gửi thông tin lên các cấp chính quyền liên quan về cơ cấu, lãnh đạo và hoạt động của giáo đoàn. Chính quyền có 45 ngày để chất vấn hoặc nêu quan ngại. Đăng ký ở cấp quốc gia mất 60 ngày. Ban Tôn giáo Chính phủ phải cấp giấy phép trước khi một tổ chức được xem xét đăng ký. Sau khoảng thời gian chờ đợi tối thiểu là một năm, một tổ chức đủ điều kiện có thể đệ đơn xin công nhận chính thức và phải được Chính phủ chấp thuận về lãnh đạo, cơ cấu và phạm vi hoạt động.

Nghị định 22 còn quy định cụ thể rằng các cấp chính quyền phải trả lời bằng văn bản đối với các đơn xin công nhận chính thức trong vòng 30, 45, 60 hoặc 90 ngày tùy theo mức yêu cầu. Tuy nhiên, trên thực tế hiếm khi các quan chức chính quyền tuân thủ quy định đúng khung thời hạn này. Trong trường hợp bị từ chối, văn bản phúc đáp phải nêu rõ lý do từ chối, nhưng có vẻ như quy định này cũng không được áp dụng một cách có hệ thống. Hơn thế nữa, Pháp lệnh không quy định một cơ chế cụ thể nào về việc xem xét lại, cũng như không nêu rõ lý do từ chối.

Ban Tôn giáo Chính phủ có nhiệm vụ phổ biến thông tin về khung pháp lý mới cho cơ quan chức năng các cấp từ tỉnh, quận, huyện, đến thôn xã và đảm bảo thống nhất tuân thủ khung pháp lý này. Việc triển khai khung pháp lý mới ở cấp dưới vẫn còn phức tạp. Tuy nhiên, trong thời gian báo cáo này đề cập, chính quyền trung ương và tỉnh đã tổ chức một số khóa tập huấn cho cán bộ cấp dưới về các điều luật mới để đảm bảo họ nắm được và tuân thủ đúng khung pháp lý này. Chính quyền ở một số khu vực đã tích cực huy động các chức sắc tôn giáo thực hiện những thay đổi, đặc biệt là trong việc đăng ký cho các nhóm Tin Lành và mở lại các nhà thờ bị đóng cửa ở Tây Nguyên. Chính quyền ở các khu vực khác, đặc biệt ở vùng núi Tây Bắc bị động hơn khi áp dụng những quy định mới của cấp Trung ương, mặc dù điều kiện hoạt động của các tín đồ Tin Lành trên cả nước nhìn chung đã được cải thiện trong thời gian báo cáo này tường trình.

Chính phủ không chính thức ưu tiên một tôn giáo cụ thể nào và hầu hết các cán bộ cấp cao của Đảng và Chính phủ, cũng như phần lớn các đại biểu Quốc hội đều chính thức “không theo tôn giáo nào”. Tuy nhiên nhiều quan chức Đảng và Chính phủ vẫn công khai thờ cúng tổ tiên và đi lễ chùa. Vị thế nổi trội truyền thống của đạo Phật không gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự do tôn giáo của người khác, kể cả những người không muốn theo một tôn giáo nào cả.

Chính phủ chính thức công nhận các tổ chức Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài, Baha’i, Hồi giáo và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội. Các giáo đoàn thuộc các tổ chứ tôn giáo đã đăng ký hoặc công nhận nhưng được thành lập sau khi Khuôn khổ pháp lý về tôn giáo có hiệu lực cũng phải đăng ký. Một số Phật tử, tín đồ Tin Lành, Hòa Hảo và Cao Đài khác không tham gia các tổ chức tôn giáo đã đăng ký hoặc được Chính phủ công nhận.

Vào cuối thời gian báo cáo này tường trình, Chính phủ cho biết đã công nhận tổng số 19 tổ chức tôn giáo thuộc 7 tôn giáo được công nhận (Phật giáo, Hồi giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội). Chính phủ cũng đã cho 10 tổ chức tôn giáo đăng ký cấp quốc gia gồm năm nhóm tôn giáo khác nhau và năm hệ phái Tin Lành.

Việt Nam không có ngày lễ tôn giáo quốc gia.

Chính phủ không cho phép giảng dạy về tôn giáo trong các trường công. Tuy nhiên, chính phủ cho phép giới tăng lữ được dạy tại các trường đại học những môn mà họ có đủ trình độ. Các hòa thượng được giảng tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trường chính trị chính của Đảng Cộng sản. Một số nữ tu và ít nhất một linh mục được dạy tại các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh. Họ không được mặc trang phục tôn giáo khi giảng bài hoặc xưng là người tu hành.

Các nhóm Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo và Phật giáo được phép giảng dạy về tôn giáo cho trẻ em. Hoạt động giảng dạy Công giáo được phép tiến hành vào cuối tuần hoặc các buổi tối ở hầu hết các vùng và gia tăng trong những năm gần đây tại các giáo hội trên cả nước. Các Phật tử Nam Tông người Khmer và các tín đồ Hồi giáo người Chăm thường xuyên tổ chức các lớp học tôn giáo và ngôn ngữ bên ngoài giờ học chính khóa tại chùa hoặc nhà thờ của họ. Các nhóm tôn giáo không được phép điều hành trường tư, ngoại trừ các trường mầm non. Thần học không được giảng dạy một cách chính thức tại các trường.

Những biện pháp hạn chế tự do tôn giáo

Chính phủ yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải đăng ký hoạt động và dùng quy định này để ngăn cấm và cản trở tín đồ tham gia những tổ chức tôn giáo chưa được công nhận, bao gồm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và một số nhóm Tin Lành, Hòa Hảo và Cao Đài.

Chính phủ tiếp tục phản đối nỗ lực hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không được công nhận và hạn chế việc đi lại của các chức sắc Giáo hội này. Các nhà ngoại giao nước ngoài được tới thăm Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang và một số chức sắc Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất khác. Trong thời gian báo cáo này tường trình, Thích Quảng Độ đã có dịp gặp gỡ với các thành viên khác của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất. Thích Quảng Độ và một số chức sắc khác của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất được giữ liên lạc với các cơ sở ở nước ngoài. Tuy nhiên, lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất ở các tỉnh ở miền nam liên tục bị chính quyền địa phương theo dõi và hạn chế đi lại cũng như gặp gỡ nhau.

Hành động của chính phủ và trở ngại từ bộ máy công quyền dẫn đến những hạn chế đối với quyền tự do và sự phát triển của tôn giáo. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định trong Hiến pháp tiếp tục được giải thích và thực hiện không đồng bộ. Ở một số vùng, cán bộ địa phương cho phép tín đồ được hoạt động tương đối tự do; ở một số tỉnh khác các tín đồ đôi khi bị cán bộ địa phương sách nhiễu.

Do thiếu quy trình pháp lý đúng đắn và sự kiểm soát thiếu nhất quán, nên các hoạt động tôn giáo phụ thuộc vào cán bộ địa phương có thẩm quyền.. Trong một số trường hợp, có tin là cán bộ địa phương nói với các chức sắc tôn giáo rằng luật của nhà nước không áp dụng đối với thẩm quyền của họ. Trong các trường hợp khác, cùng một luật nhưng các tỉnh lại áp dụng khác nhau. Ví dụ, tỉnh Gia Lai ở Tây Nguyên theo sát các chính sách của Chính phủ và đăng ký tất cả các điểm nhóm” của Hội thánh Tin lành Việt nam miền Nam trong tỉnh, làm chậm lại khả năng họ được công nhận trong tương lai. Trong khi đó tại các tỉnh giáp ranh là Đắc Lắc và Bình Phước, nhiều “điểm nhóm” của Hội thánh Tin lành Việt nam miền Nam vẫn chưa được đăng ký. Trong một số trường hợp, các nhóm Tin Lành được công nhận và chưa được công nhận tránh được sự sách nhiễu ở địa phương và có thể lật ngược được những quyết định tiêu cực của địa phương nếu họ thỉnh cầu lên chính quyền cấp cao hơn. Mặc dù địa điểm tụ họp của Hội thánh Truyền giáo Ekklesia Phục hưng tại Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận được giấy chứng nhận đăng ký năm 2006, nhưng 5 địa điểm tụ họp khác ở Hà Tây lại không được chấp nhận.

Hàng trăm giáo đoàn thuộc Hội thánh Tin lành Việt nam miền Bắc đã nộp đơn đăng ký hoạt động trong thời gian báo cáo này tường trình nhưng hầu hết hồ sơ đăng ký chưa được giải quyết. Lý do khiến việc đăng ký chậm chễ hoặc bị bác đơn đăng ký thường là cản trở hành chính, chẳng hạn như chưa đúng thủ tục hoặc khai chưa đúng mẫu, hoặc thông tin chưa đầy đủ. Đôi khi các nhà chức trách địa phương đưa ra những lý do mơ hồ về an ninh hoặc nói rằng thẩm quyền chính trị của họ có thể bị đe dọa hoặc xung đột sẽ xảy ra giữa những tín đồ truyền thống và những người mới cải đạo sang Thiên chúa giáo ở một số khu vực. Mặc dù trong thời gian báo cáo này tường trình, một số giáo đoàn ở Tây Bắc đã đăng ký được nhưng nhiều việc còn phải làm để tiến hành đăng ký đối với các giáo đoàn Tin Lành và Công giáo ở đây.

Những cản trở khác đối với sự phát triển và đào tạo tôn giáo vẫn còn. Các tổ chức tôn giáo được chính thức công nhận gặp một số khó khăn khi muốn nhận hoặc xuất bản tài liệu giảng dạy, mở rộng cơ sở đào tạo, truyền bá tín ngưỡng, xây dựng nơi thờ tự mới, xuất bản tài liệu tôn giáo, mở rộng đào tạo giới tăng lữ do yêu cầu ngày càng tăng từ các giáo đoàn. Tuy nhiên, so với những năm trước Chính phủ tiếp tục nới lỏng những biện pháp hạn chế này.

Trong số những vướng mắc cụ thể có việc Hội thánh Tin lành Việt nam miền Bắc khiếu nại đòi đất đai nhưng chưa được giải quyết, gây trở ngại cho việc xây dựng một trung tâm đào tạo mục sư. Bên cạnh đó, chính quyền tỉnh Điện Biên, Lai Châu và Sơn La không cho đăng ký các giáo xứ ở địa phương, còn chính quyền tỉnh Hà Giang không trao quyền cư trú hợp pháp cho một linh mục giáo xứ.

Ở một số tỉnh, các nhà thờ tại gia được yêu cầu phải cung cấp danh sách tất cả những người hành đạo như một thủ tục trong quá trình đăng ký hoạt động. Điều này trái với quy định pháp lý về tôn giáo. Tình hình này có vẻ diễn ra phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng cũng rất đáng lưu ý ở tỉnh Thanh Hóa thuộc vùng Bắc Trung bộ. Trong một số trường hợp, các chính quyền đã bỏ yêu cầu này sau khi bị các nhóm đăng ký phản đối; trong một số trường hợp khác yêu cầu này vẫn được giữ nguyên, cản trở quá trình đăng ký.

Chính phủ yêu cầu tất cả các nhà sư, kể cả các nhà sư Khmer Krom theo Phật giáo Nam Tông phải được chấp thuận và hoạt động trong khuôn khổ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được công nhận chính thức. Số lượng các học viên Phật giáo do Ban Tôn giáo quản lý và giới hạn, mặc dù số lượng các học viện Phật giáo ở các tỉnh và địa phương tăng lên nhiều trong những năm gần đây ngoài một số học viện tương đương với trường đại học.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, các nguồn tin đáng tin cậy cho biết ít nhất 10 hòa thượng Khmer đã bị tước lễ phục và bị phạt, bị giam hoặc bị bắt tại chùa vì đã tham gia vào những cuộc biểu tình chống chính quyền hồi đầu năm 2007.

Chính phủ tiếp tục phản đối hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không được công nhận và hạn chế việc đi lại của các chức sắc Giáo hội này, trừ một số ngoại lệ. Tháng 8/2006, Chính phủ cho phép Hòa thượng Thích Huyền Quang đến Thành phố Hồ Chí Minh để chữa bệnh trong hai tháng, nhưng năm 2007 lại cản trở không muốn cho ông trở lại đây. Tháng 4/2008,Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất cho biết một số hòa thượng ở tỉnh Lâm Đồng bị đuổi ra khỏi một ngôi chùa và sau đó ngôi chùa này được trao cho Giáo hội Phật giáo Việt nam quản lý. Trong một trường hợp khác, một sư nữ tại văn phòng đại diện của Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất ở tỉnh Khánh Hòa bị sách nhiễu từ đầu tháng 3/2006 và có tin là bị buộc ra khỏi chùa nơi bà xây dựng. Các chức sắc ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được tổ chức lễ Phật đản vào tháng 5/2008. Khi Hòa thượng Thích Huyền Quang của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất từ trần tại tu viện ở tỉnh Bình Định ngày 5/7/2008, nhiều hòa thượng Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất, trong đó có Thích Quảng Độ, được phép tới Bình Định để thăm ông vào những ngày cuối đời và hành lễ tại lễ tang của ông ngày 11/7/2008 với sự có mặt của rất đông công an.

Giáo hội Công giáo điều hành bảy đại chủng viện với hơn 1.000 đại chủng sinh, cộng với một khóa đào tạo đặc biệt dành cho những học viên “lớn tuổi hơn”. Tất cả học viên đều phải được chính quyền địa phương chấp thuận trước khi nhập học và trước khi được phong chức linh mục. Giáo hội cho rằng số lượng học viên được thụ phong hiện không đủ để phục vụ dân số Công giáo đang ngày càng tăng. Họ muốn mở thêm nhiều đại chủng viện và tuyển mộ học viên thường xuyên hơn nhưng các chức sắc cho biết Giáo hội không đủ khả năng làm việc đó. Năm 2008, Giáo hội mở một trung tâm mục vụ tại Thành phố Hồ Chí Minh để đào tạo những người làm trợ tế hoặc đảm nhận những vai trò khác không phải thụ phong. Nhu cầu nghiên cứu thần học đang vượt quá mong đợi và trung tâm đã hoạt động ở mức độ tối đa.

Chính phủ tiếp tục giám sát và đã kiểm soát được, ở những mức độ thành công khác nhau, giới chức sắc và các hoạt động tôn giáo thông qua các Ban Tôn giáo ở cấp trung ương và địa phương. Ví dụ, về pháp lý Chính phủ vẫn duy trì quyền phủ quyết đối với việc Va-ti-căng bổ nhiệm các giám mục. Tuy nhiên, trong giai đoạn báo cáo này tường trình, thực tế Chính phủ đã hợp tác với Giáo hội Công giáo trong việc bổ nhiệm giám mục.

Không có quy định chính thức nào cấm việc cải đạo. Tuy nhiên, nhiều người cải đạo ngại việc xin làm lại chứng minh thư nhân dân trong đó ghi nhận tôn giáo mới của họ vì thủ tục quá phức tạp hoặc họ sợ bị chính quyền trừng phạt. Một số báo cáo cho biết cán bộ địa phương ở các vùng nông thôn tiếp tục cản trở việc cải đạo sang Tin Lành bằng cách đe dọa là họ sẽ gặp khó khăn khi xin các giấy tờ liên quan hoặc bị cắt phúc lợi xã hội và giáo dục.

Trong tài liệu tập huấn của Ban Tôn giáo Chính phủ năm 2006 dành cho cán bộ địa phương ở miền Tây Bắc lại có những lời lẽ miệt thị Đạo Tin Lành và chỉ thị cho cán bộ khuyến khích những người mới cải đạo sang Tin Lành quay về tín ngưỡng truyền thống của họ. Sau những cam kết với các nhà ngoại giao và các đại diện nước ngoài, Chính phủ cho biết tài liệu tập huấn đó đã được chỉnh sửa vài lần và những lời lẽ gây tranh luận đó cũng đã bị cắt bỏ, và thừa nhận nội dung đó không phù hợp với các quy định. Vào cuối thời gian báo cáo này tường trình, phiên bản mới nhất năm 2007 của tài liệu tập huấn này đang được xem xét, chỉnh sửa.

Điều 35 Nghị định 22 quy định các nhóm truyền giáo hải ngoại phải được chính quyền cho phép mới được tiến hành các hoạt động truyền đạo. Các hoạt động đó phải diễn ra dưới sự bảo trợ của một tổ chức tôn giáo trung ương hoặc địa phương. Nghị định này ngăn cản việc truyền đạo công khai ngoài các trung tâm thờ tự đã được công nhận. Một số nhà truyền giáo đã đến thăm Việt Nam bất chấp quy định cấm chính thức này và đã tiến hành một số hoạt động truyền đạo không chính thức.

Chính sách của chính phủ không cho phép thành viên thuộc các nhóm tôn giáo không chính thức được công khai phát ngôn về tín ngưỡng của họ, tuy nhiên một số tín đồ tiếp tục đào tạo tôn giáo và hành lễ mà không bị sách nhiễu. Tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo đã đăng ký được phép công khai tín ngưỡng của mình và có thể thuyết phục những người khác theo tôn giáo của họ tại những nơi thờ tự đã đăng ký, nhưng họ không được làm việc đó ở những nơi khác. Chính phủ kiểm soát và theo dõi tất cả các hình thức tụ họp nơi công cộng, trong đó có tụ họp tổ chức các hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, trong thời gian báo cáo này tường trình, một số cuộc tụ họp tôn giáo quy mô lớn cũng đã được phép tổ chức.

Mặc dù không phải chính sách chính thức của Chính phủ nhưng các tín đồ Thiên chúa giáo cho biết những ai theo Công giáo hoặc Tin Lành không được xem xét để cất nhắc vào các vị trí cấp cao trong Đảng và Chính phủ.

Trong giai đoạn báo cáo này tường trình, Chính phủ tiếp tục giám sát và cản trở hoạt động của một số nhóm tôn giáo vì hoạt động chính trị của họ. Những điều khoản về an ninh quốc gia và đoàn kết dân tộc ghi trong Hiến pháp quan trọng hơn các điều luật và quy định về tự do tôn giáo. Những quy định này được áp dụng để ngăn cản các buổi tụ họp tôn giáo và phổ biến tín ngưỡng tôn giáo cho các nhóm sắc tộc thiểu số. Bộ Luật hình sự sửa đổi năm 1997 quy định các hình phạt đối với tội danh được định nghĩa rất mơ hồ, trong đó có tội “cố ý phá hoại sự đoàn kết dân tộc” thông qua “chia rẽ những người theo đạo và không theo đạo”. Chính phủ tiếp tục hạn chế đáng kể hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo độc lập và những cá nhân bị coi là mối đe dọa đối với quyền lực của đảng.

Giáo phái Hòa Hảo chịu một số hạn chế về các hoạt động tôn giáo và chính trị từ năm 1975, một phần vì Đảng Cộng sản vẫn nghi ngờ hoạt động chống đối vũ trang của họ từ thời thực dân Pháp còn cai trị. Sau 1975, tất cả cơ sở hành chính, nơi thờ tự, các thể chế văn hóa, xã hội liên quan đến đạo Hòa Hảo đều bị đóng cửa. Các tín đồ tiếp tục hành đạo tại nhà riêng, nhưng do không được đến những nơi công cộng, nên cộng đồng Hòa Hảo bị cô lập và phân tán. Năm 1999, một cơ quan chính thức của đạo Hòa Hảo, Hội đồng Trị sự Hòa Hảo, được thành lập. Mùa xuân năm 2005, Hội đồng Trị sự Hòa Hảo mở rộng và đổi tên thành Ban Điều hành Phật giáo Hòa Hảo. Một số chức sắc trong cộng đồng Hòa Hảo, kể cả những chức sắc thời kỳ trước năm 1975, công khai chỉ trích Ban Điều hành. Họ cho rằng Ủy ban này quỵ lụy Chính phủ và đòi quyền được chính thức công nhận đối với tổ chức của riêng họ - Giáo hội Phật giáo Trung ương Hòa Hảo. Các tín đồ Giáo hội Phật giáo Trung ương Hòa Hảo bị đàn áp mạnh, mâu thuẫn giữa một số nhà hoạt động Hòa Hảo và quan chức chính quyền ở vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn tiếp tục.

Chính phủ vẫn lo ngại về một số nhóm dân tộc thiểu số hoạt động ở vùng này đang điều hành “Hội thánh Đề-ga” tự phong mà có tin là tổ chức này phối hợp hành đạo với hoạt động chính trị và kích động ly khai trong nhóm người dân tộc thiểu số. Sự việc này làm phức tạp và gây chậm chễ cho quá trình đăng ký và công nhận các giáo hội khác ở Tây Nguyên. Mặc dù tình hình được cải thiện trong thời gian báo cáo này đề cập, nhưng Hội thánh Tin Lành miền Nam và các nhà thờ tại gia ở các tỉnh Tây Nguyên như Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước và Đắc Nông vẫn bị Chính quyền giám sát chặt chẽ.

Chính phủ yêu cầu tất cả các ấn phẩm tôn giáo phải do Nhà xuất bản Tôn giáo, trực thuộc Ban Tôn giáo, ấn hành, hoặc phải do các nhà xuất bản được Chính phủ cho phép in ấn nhưng phải được Chính phủ phê duyệt nội dung trước. Năm 2007, Nhà xuất bản Tôn giáo đã in khoảng 800 đầu sách và các ấn phẩm khác với tổng số 1,3 triệu bản. Một loạt bộ kinh, kinh phật và các ấn phẩm, tài liệu tôn giáo khác được in và phát hành công khai. Nhà xuất bản Tôn giáo đã in 250.000 bản kinh phật Hòa Hảo, cùng 100.000 bộ những lời giảng và tiên tri của nhà sáng lập. Tuy nhiên, các tín đồ Hòa Hảo cho biết Chính phủ vẫn hạn chế việc phát hành toàn bộ kinh Phật, đặc biệt là tập thơ của nhà sáng lập. Ban Đại diện Hội Phật giáo Hòa Hảo chính thức nói rằng đó là do thiếu kinh phí chứ không phải do Chính phủ hạn chế không cho in toàn bộ kinh phật Hòa Hảo. Kinh thánh được in bằng tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, tiếng Êđê, Jarai, Bannar và tiếng Anh. Nhà xuất bản Tôn giáo đang xem xét yêu cầu in bộ Kinh bằng tiếng H’mông.

Chính phủ cho phép đi lại vì mục đích tôn giáo, nhưng để tham gia vào các hội nghị tôn giáo và các khóa đào tạo ở nước ngoài thì phải được các cơ quan chức năng phê chuẩn. Các tín đồ Hồi giáo được phép hành hương đến thánh địa Mecca, các chức sắc Phật giáo, Công giáo, Tin Lành nhìn chung được đi ra nước ngoài học tập và dự hội nghị. Các chức sắc tôn giáo không chính thức khác thì đi nước ngoài thường xuyên. Những người theo đạo sau khi đi nước ngoài về thỉnh thoảng bị chất vấn về hoạt động của họ và phải nộp lại hộ chiếu. Tuy nhiên, việc này ngày càng ít đi.