Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2008

Part 1

Chapter 15,093 wordsPublic domain (Wikisource)

 

Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2008  (2008)  của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam dịch Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2009 →

Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2008 của Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, công bố ngày 19/9/2008.

của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 13774 Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2008 2008 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

LỜI TỰA

Vì sao các báo cáo được soạn thảo

Báo cáo này được Bộ Ngoại giao đệ trình lên Quốc hội, theo quy định tại mục 102(b) của Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế (IRFA) ban hành năm 1998. Theo quy định của luật này, Ngoại trưởng Mỹ, với sự hỗ trợ của Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế, sẽ trình lên Quốc hội “Báo cáo Thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế, bổ sung cho các báo cáo mới nhất về Nhân quyền với những thông tin chi tiết về các vấn đề liên quan tới tự do tôn giáo quốc tế”.

Báo cáo được soạn thảo như thế nào?

Để chuẩn bị các dự thảo báo cáo đầu tiên, các đại sứ quán Mỹ thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm thông tin từ các quan chức chính phủ và các chức sắc tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo, các nhà hoạt động nhân quyền, các nhóm tôn giáo và giới học thuật. Quá trình thu thập thông tin có thể rất mạo hiểm. Cán bộ ngoại giao Hoa Kỳ thường phải nỗ lực hết mình, đôi khi ở trong những hoàn cảnh rất nguy hiểm để tiến hành điều tra báo cáo về vi phạm nhân quyền, giám sát các cuộc bầu cử, và hỗ trợ những người gặp nguy hiểm vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế phối hợp thu thập và phân tích thông tin cho báo cáo về tình hình từng nước, dựa trên nguồn tin của các văn phòng khác trong Bộ Ngoại giao, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ khác, nguồn tin từ các quan chức chính phủ nước ngoài, đại diện Liên Hợp Quốc, các tổ chức và các thể chế quốc tế và khu vực khác, giới học giả và truyền thông. Khi soạn thảo và biên tập báo cáo tình hình các nước, Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia về các vấn đề phân biệt và ngược đãi tôn giáo, tham khảo các chức sắc tôn giáo thuộc nhiều tín ngưỡng khác nhau và các chuyên gia về luật pháp. Nguyên tắc chỉ đạo của Văn phòng là đảm bảo mọi thông tin liên quan được đánh giá khách quan, toàn diện và công bằng nhất có thể.

Bản báo cáo sẽ được các bộ, ngành, cơ quan trong Chính phủ Mỹ sử dụng để xây dựng chính sách, triển khai công tác ngoại giao, hỗ trợ, đào tạo và phân bổ các nguồn lực khác, đồng thời giúp xác định những nước vi phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc dung túng “các vụ vi phạm đặc biệt nghiêm trọng” quyền tự do tôn giáo, để đưa những nước này vào danh sách cần quan tâm đặc biệt.

Về việc sử dụng từ ngữ

Khi báo cáo này khẳng định một chính phủ “nhìn chung là tôn trọng” quyền tự do tôn giáo trong giai đoạn báo cáo tường trình, có nghĩa là chính phủ đó đã cố gắng bảo vệ quyền tự do tôn giáo một cách đầy đủ nhất. Do vậy, cụm từ “nhìn chung là tôn trọng” thể hiện mức tôn trọng cao nhất đối với quyền tự do tôn giáo nêu tại báo cáo này. Cụm từ “nhìn chung là tôn trọng” được sử dụng vì việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo là một nỗ lực liên tục, không thể nói một cách chính xác chính phủ nào tôn trọng đầy đủ quyền này trong cả năm thực hiện báo cáo, ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất. Lời cảm ơn

Báo cáo năm 2008 được thực hiện từ 1/7/2007 đến 30/6/2008, phản ánh một năm đầy nỗ lực của hàng trăm cán bộ và nhân viên ngoại giao tại Bộ Ngoại giao và các sứ quán Hoa Kỳ ở nước ngoài. Chúng tôi xin cảm ơn các viên chức ngoại giao tại các sứ quán và lãnh sự quán của Hoa Kỳ ở nước ngoài vì đã giám sát và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, và theo dõi chi tiết tình hình tự do tôn giáo. Bên cạnh nỗ lực của họ, chúng tôi ghi nhận sự lao động miệt mài và đấu tranh không mệt mỏi cho quyền tự do tôn giáo của các nhân viên Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế, những người đã giúp hoàn thành bản báo cáo này, trong đó có Clarissa Adamson, Judson Birdsall, Mary Anne Borst, Randy Brandt, Natalia Buniewicz, Barbara Cates, Keeley Chorn, Warren Cofsky, A. Jack Croddy, Doug Dearborn, Daniel DeVougas, Lauren Diekman, Lauren Doll, Augustine Fahey, Carrie Flinchbaugh, Albert Gombis, Hakim Hasan, Nancy Hewett, Victor Huser, Emilie Kao, Justin Kern, Gwendolyn Mack, Safia Mohamoud, Joannella Morales, Fatema Munis, Aaron Pina, David Rodearmel, Abigail Skeans, Lauren Smith, H. Knox Thames, Alexandra Tovar, Gregory Trunz, Raizza Ty, and Jessica Vu. Công việc của những cá nhân này thúc đẩy sự nghiệp tự do, đảm bảo độ chính xác của báo cáo và mang đến hy vọng cho những con người bị đàn áp trên toàn thế giới.

GIỚI THIỆU

Mọi người đều có quyền tự do tư duy, lương tri và tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng và tự mình hoặc cùng với những người khác công khai tôn giáo, tín ngưỡng thông qua giảng đạo, hành đạo, thờ cúng hoặc hành lễ ở nơi công cộng hoặc riêng tư.

— Điều 18, Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu

Quyền tự do tôn giáo hiện đang bị vi phạm, trong một số trường hợp bị vi phạm ngày càng nghiêm trọng ở nhiều nước trên thế giới. Hơn một nửa dân số thế giới đang sống dưới những chế độ hạn chế ngặt nghèo hoặc thậm chí cấm công dân học tập, tin theo tín ngưỡng, hành lễ và tự do hành đạo theo sự lựa chọn của họ. Các quyền tự do tôn giáo của các tín đồ và các cộng đồng tôn giáo đang bị vi phạm do có sự bảo trợ và dung túng của chính phủ.

— Đạo luật Tự do Tôn giáo 1998

Năm nay là năm kỷ niệm ngày ra đời của hai văn kiện có ý nghĩa quan trọng về tự do tôn giáo, đó là Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu năm 1948 và Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 1998. Trong sáu thập kỷ qua, Điều 18 của Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu là một chuẩn mực để chúng ta đánh giá mức độ tôn trọng quyền tự do tôn giáo thực sự của các chính phủ, đồng thời là biểu tượng hy vọng cho những ai bị sách nhiễu và ngược đãi. Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế được thông qua mười năm trước thể hiện sự quan tâm và định hướng mới đối với ưu tiên lâu đời của Mỹ là thúc đẩy tự do tôn giáo. Nỗ lực tăng cường này đã cho chúng ta những kết quả tốt. Rất nhiều tín đồ đã được hưởng những quyền tự do mới tìm thấy và ở một số nước chính sách tôn giáo của các chính phủ đã có những cải thiện. Tuy nhiên, dù đã có những tiến bộ, nhưng thực tiễn được ghi nhận trong Đạo luật và được trích dẫn ở trên vẫn là sự thể hiện chính xác nhất tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước trên thế giới.

Vì quyền tự do tôn giáo tiếp tục bị xâm phạm và liên tục xảy ra các vụ đàn áp thẳng tay, nên Chính phủ Hoa Kỳ kiên trì thúc đẩy tôn trọng quyền con người phổ quát này. Đạo luật Tự do Tôn giáo củng cố vị trí ưu tiên của mục tiêu chính sách đối ngoại quan trọng này thông qua bổ nhiệm vị trí Đại sứ Lưu động phụ trách Tự do Tôn giáo Quốc tế và thành lập Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế tại Bộ Ngoại giao và yêu cầu ra phúc trình thường niên này. Với những công cụ này và các công cụ khác có mục đích cổ xúy và bảo vệ tự do tôn giáo, Hoa Kỳ khuyến khích việc tuân thủ các cam kết và nghĩa vụ quốc tế, lên án các vụ vi phạm tự do tôn giáo, và thúc đẩy tôn trọng tự do tôn giáo với tư cách một quyền cơ bản của mọi người.

Báo cáo thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2008 là một trong những sản phẩm rõ nhất về nỗ lực này và là bằng chứng về sự hợp tác của rất nhiều nhân viên Bộ Ngoại giao tại các sứ quán và các lãnh sự quán trên toàn thế giới, tại các vụ khu vực và chức năng và tại Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế. Tất cả họ đã phấn đấu không mệt mỏi để hoàn thành báo cáo toàn diện này. Với độ dài hơn 800 trang và đề cập tình hình của 198 nước và vùng lãnh thổ, Báo cáo thường niên lần này là một bản tường trình đầy đủ nhất. Tuy nhiên, báo cáo không thể thực hiện được nếu không có sự đóng góp quan trọng của các nhóm tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ, và các cá nhân những người đã cống hiến cả cuộc đời để bảo vệ phẩm giá con người. Chúng ta cũng đánh giá cao sự ủng hộ liên tục của Quốc hội Mỹ. Tóm lại, chúng ta coi Báo cáo thường niên này là sự mở rộng hơn nữa sự ủng hộ của nhân dân Mỹ đối với những người đang âm thầm đấu tranh cho các quyền tự do tôn giáo của họ trên toàn thế giới.

Sự trùng hợp ngày kỷ niệm ra đời Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế và Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu nhắc nhở chúng ta về tính phổ quát của các quyền con người mà những văn kiện này bảo vệ. Trọng tâm về vấn đề tự do tôn giáo là Điều 18 của Tuyên ngôn Nhân quyền, theo đó quy định việc bảo vệ quyền bên trong tức là quyền được tin theo một tôn giáo, tín ngưỡng nào đó, và quyền bên ngoài tức là quyền hành đạo và quyền được chia sẻ, quyền cá nhân được lựa chọn tôn giáo, tín ngưỡng và quyền được làm điều đó mà không sợ bị chính phủ can thiệp hay làm tổn hại. Đáng chú ý là năm 1948, chính Charles Malik, một nhà ngoại giao Ả rập người Li-băng và Eleanor Roosevelt đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng điều khoản này. Malik đã nói rằng Tuyên ngôn Toàn cầu nhắc nhở mọi người rằng:

…con người được sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền; tạo hóa ban cho họ lý trí và lương tri, họ không thể bị giam cầm làm nô lệ, không bị bắt giữ tùy tiện, được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội; con người không thể bị xâm phạm, con người có quyền tự nhiên là được tự do tư duy, tự do lương tri, tự do tôn giáo và tự do bày tỏ.

Nhận thức được sự đồng thuận toàn cầu về tầm quan trọng của quyền tự do tôn giáo, Hoa Kỳ kêu gọi tất cả các chính phủ thực hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc tế của mình mà không nhất thiết phải theo quan điểm của Hoa Kỳ về vấn đề này. Bên cạnh Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu, quyền tự do tôn giáo còn được bảo vệ theo nhiều văn kiện quốc tế khác, trong đó có Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị, Tuyên bố về Xóa bỏ mọi hình thức không khoan dung và Phân biệt đối xử về lý do tôn giáo, tín ngưỡng, Thỏa ước Helsinki, Công ước châu Âu về bảo vệ Nhân quyền và các quyền Tự do cơ bản, Hiến chương châu Phi về quyền con người, và Công ước châu Mỹ về Nhân quyền. Các mục liên quan đến quyền tự do tôn giáo trong các văn kiện này có thể tìm thấy trong phần phụ lục của Báo cáo Thường niên này. Mặc dù năm nay là năm kỷ niệm một thập kỷ phấn đấu không mệt mỏi thực hiện Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế và 60 năm thực hiện các cam kết quốc tế về nhân quyền, chúng ta kỷ niệm những ngày này với nhận thức sâu sắc rằng vẫn còn rất nhiều việc chưa được giải quyết.

Tổng thống Bush gần đây đã phát biểu tại Nhà Trắng nhân kỷ niệm lần thứ 10 ngày ban hành Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế như sau:

Đạo luật này mà hôm nay chúng ta kỷ niệm được xây dựng dựa trên truyền thống vốn đã định hình nên dân tộc chúng ta. Khi các nhà lập quốc đưa ra Tuyên ngôn Nhân quyền, thì quyền tự do đầu tiên mà họ đề cao chính là quyền tự do tôn giáo. Họ nhận thức được rằng quyền tự do cơ bản nhất của con người là quyền tự do hành đạo…Họ được cầu nguyện để được sống ở một đất nước mà quyền tự do được tôn trọng. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, quyền bày tỏ tự do lại bị kiểm duyệt bởi sự đàn áp, độc tài và không khoan dung.

Lẽ dĩ nhiên, thúc đẩy tự do tôn giáo không chỉ là mục tiêu của Chính phủ Hoa Kỳ, mà đó là một mục tiêu chung của nhiều chính phủ khác, của các tổ chức tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ, và đặc biệt là của những người đang bị hại chỉ vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo của họ.

Hôm nay với vinh dự được trình bản Báo cáo Thường niên lần thứ bảy này, tôi cảm thấy ngỡ ngàng trước sự dũng cảm của nhiều cá nhân trên toàn thế giới, những người đã đứng lên đấu tranh cho tín ngưỡng của họ, ủng hộ quyền tự do tôn giáo và không chịu lùi bước trước bạo lực và trả thù. Đó chính những con người mà chúng ta phải hỗ trợ và là những người mà báo cáo này hướng tới. Tôi cũng rất vinh dự trong hơn sáu năm qua được làm việc với đội ngũ những người tận tâm, cổ xúy cho tự do tôn giáo của Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế. Những thành công mà chúng ta chứng kiến trong suốt thời kỳ này là minh chứng cho sự tận tụy của họ.

Vẫn còn nhiều việc phải làm và vì chúng ta nhận thức được rằng còn hàng triệu người khác đang bị chính phủ của họ tước bỏ quyền được tự do theo đạo và hành đạo, nên Hoa Kỳ sẽ tiếp tục kiên trì theo đuổi việc xây dựng và bảo vệ các quyền tôn giáo cho người dân ở mọi nơi. Chúng ta thực sự mong muốn rằng nỗ lực của chúng ta và của những người khác đấu tranh cho sự nghiệp này, sẽ mang lại cho họ niềm hy vọng mới đồng thời đóng góp vào việc phổ biến quyền tự do quý báu này mọi nơi trên trái đất.

John V. Hanford,

Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế

VIỆT NAM

Hiến pháp quy định quyền tự do tôn giáo; tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo.

Trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình, đã có những cải thiện đáng kể về tôn trọng quyền tự do tôn giáo và hành đạo. Chính phủ triển khai mạnh mẽ Pháp lệnh Tôn giáo, tín ngưỡng năm 2004 và các nghị định bổ sung về chính sách tôn giáo ban hành năm 2005 (khuôn khổ pháp lý tôn giáo của Chính phủ). Các giáo hội mới đã được đăng ký tại 64 tỉnh, thành trên cả nước; một số giáo đoàn được đăng ký ở cấp quốc gia; công dân nhìn chung được phép hành đạo một cách tự do hơn. Giáo hội Công giáo, nhiều giáo đoàn Tin lành và các giáo đoàn nhỏ hơn cho biết việc tụ họp và hành đạo được cải thiện và nhìn chung Chính phủ đã nới lỏng hạn chế về việc bổ nhiệm tăng lữ mới. Giáo hội Công giáo cho biết Chính phủ đã chấp thuận cho thành lập một đại chủng viện nữa.

Mặc dù có những tiến bộ trong thời gian báo cáo này đề cập, song việc thực hiện khuôn khổ pháp lý về tôn giáo vẫn còn một số vấn đề, chủ yếu ở cấp tỉnh và làng xã. Những vấn đề này bao gồm sự chậm trễ - trong một số trường hợp còn không thực hiện - trong việc đăng ký các hội thánh Tin Lành ở miền Bắc và Tây Bắc; áp dụng không nhất quán các thủ tục đăng ký giáo đoàn và các quy định pháp luật khác; hạn chế việc gia nhập các giáo đoàn; khó khăn khi muốn mở các khóa đào tạo mục sư Tin Lành. Một số chính quyền cấp tỉnh tỏ ra tích cực hơn, trong khi chính quyền ở các địa phương khác có vẻ như không coi việc thực hiện một cách tích cực và nhất quán khuôn khổ pháp lý về tôn giáo là một ưu tiên.

Chính phủ vẫn lo ngại rằng một số nhóm sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên đang điều hành một “Giáo hội Đề-ga” tự phong, có tin là tổ chức này kết hợp hành đạo với hoạt động chính trị và kêu gọi các nhóm sắc tộc thiểu số ly khai. Chính phủ cũng hạn chế chức sắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ( không được công nhận và khẳng định sẽ không công nhận tổ chức này với ban lãnh đạo hiện nay. Chính phủ duy trì vai trò giám sát chủ chốt các tôn giáo được công nhận. Các nhóm tôn giáo sẽ vấp phải những rào cản lớn nhất nếu tham gia vào các hoạt động mà Chính phủ cho là hoạt động chính trị hoặc thách thức quyền lực của chính phủ. Chính phủ tiếp tục cấm và hạn chế tham gia một giáo phái không được công nhận của Đạo Hòa Hảo. Giới chức chính phủ đã bỏ tù một phật tử người Khmer thiểu số vì bị cáo buộc tham gia tổ chức các cuộc biểu tình đòi đất đai ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2007.

Tuy nhiên, về tổng thể, việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo đã được cải thiện trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình. Việc tham gia các hoạt động tôn giáo trong cả nước tiếp tục gia tăng, và các tín đồ Tin Lành ở Tây Nguyên tiếp tục cho biết tình hình đã có tiến bộ đáng kể. Chính phủ tiếp tục cho đăng ký thành lập các giáo hội Tin Lành và các điểm nhóm trên cả nước. Tuy nhiên, hàng trăm đơn đăng ký khác vẫn chưa được giải quyết, đặc biệt ở Tây Nguyên.

Trong giai đoạn báo cáo này tường trình, Chính phủ đã công nhận ở cấp quốc gia hai Giáo hội Tin Lành là Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam và Hội Thánh Baptist Ân Điển, và một nhóm Phật giáo nữa là Tịnh độ Cư sĩ Phật hội. Cũng trong thời gian báo cáo này tường trình, Chính phủ đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cấp quốc gia cho bốn tổ chức Tin Lành và hai nhóm tôn giáo nữa là Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu và Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo. Trong giai đoạn thực hiện báo cáo này, Ban Tôn giáo Chính phủ và một số đại diện của Ban này ở cấp tỉnh đã tích cực giải quyết những vấn đề và những quan ngại liên quan đến tôn giáo. Tín đồ Tin Lành và Công giáo khắp miền Bắc cho biết có chuyển biến tốt trong thái độ của hầu hết các quan chức đối với tôn giáo của họ và nhìn chung các tín đồ Tin Lành và Công giáo được phép tụ họp cầu nguyện mà không bị sách nhiễu, mặc dù đôi khi vẫn xảy ra những vụ việc lẻ tẻ.

Trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình, ít xảy ra các vụ bạo lực hoặc phân biệt đối xử xã hội vì lý do tín ngưỡng. Tháng 10/2007, một nhóm tín đồ Tin Lành ở tỉnh Trà Vinh cho biết họ bị khoảng 50 người thiểu số Khmer đánh đập; các nhà thờ của họ bị hủy hoại. Cùng ngày hôm đó, khi được gọi tới trụ sở công an xã, họ lại bị một nhóm khoảng 200 người địa phương đánh đập tiếp ngay trước mặt một hòa thượng người Khmer và cán bộ xã. Nhiều tín đồ Công giáo và Tin Lành cũng cho biết những người theo đạo Thiên chúa không được xem xét cất nhắc vào các vị trí cao trong chính quyền do có sự phân biệt không chính thức trong Chính phủ.

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn duy trì đối thoại thường xuyên với các quan chức cấp cao cũng như các quan chức chuyên trách của Chính phủ nhằm thúc đẩy hơn nữa quyền tự do tôn giáo. Các quan chức Hoa Kỳ cũng gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo, kể cả các nhà hoạt động tôn giáo nằm trong danh sách theo dõi của Chính phủ. Đại sứ Mỹ và các quan chức Mỹ khác, kể cả Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế, đều bày tỏ lo ngại với Thủ tướng, Phó Thủ tướng, các thành viên chính phủ, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và các quan chức cao cấp ở địa phương về việc các tổ chức tôn giáo gặp khó khăn trong việc đăng ký và được công nhận, những khó khăn mà các tín đồ Tin Lành ở Tây Nguyên và Tây Bắc phải đối mặt và những hình thức hạn chế tự do tôn giáo khác. Trong các buổi hội kiến với những người đồng nhiệm trong thời gian báo cáo này tường trình, Tổng thống Bush và Ngoại trưởng Rice đều kêu gọi cải thiện hơn nữa quyền tự do tôn giáo. Tự do tôn giáo cũng được đề cập đến trong Đối thoại Nhân quyền song phương Mỹ-Việt năm 2008.

Phần I. Các tôn giáo

Việt Nam có diện tích khoảng 127.000 dặm vuông với dân số khoảng 83,5 triệu người. Ước tính cho thấy khoảng hơn một nửa dân số theo Đạo Phật. Giáo hội Công giáo chiếm 8-10% dân số, một số tổ chức của đạo Cao Đài chiếm 1,5-3% dân số, giáo phái Hòa Hảo chiếm 1,5-4% dân số, các giáo đoàn Tin Lành chiếm 0,5-2% dân số, và một tổ chức Hồi giáo chiếm chưa đầy 0,1% dân số. Còn lại phần lớn công dân tự nhận mình không theo tôn giáo nào, mặc dù nhiều người trong số họ vẫn giữ các tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng tổ tiên và các anh hùng dân tộc.

Nhiều phật tử hành lễ hỗn hợp của Phật giáo Đại thừa (Mahayana Buddhism) với đạo Lão và Nho giáo mà đôi khi được gọi là “tam giáo”. Ban Tôn giáo Chính phủ ước tính khoảng 10 triệu người (12% dân số) theo Phật giáo Đại thừa, phần lớn là người Kinh, sống ở khắp nơi trên cả nước, đặc biệt là các khu vực đông dân cư ở đồng bằng châu thổ phía bắc và nam. Ở một số vùng cao có ít các phật tử hơn, mặc dù việc người Kinh di cư đến các vùng này đang phần nào làm thay đổi sự phân bố. Nhóm Khơ-me thiểu số ở miền Nam theo Phật giáo dòng Nam tông. Với số lượng khoảng hơn 1 triệu người, hầu hết họ sống tập trung ở châu thổ sông Cửu Long. Giáo hội Phật giáo Việt Nam được công nhận chính thức ra đời năm 1981. Chính phủ không công nhận tính hợp pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ước tính cả nước có khoảng 8 triệu tín đồ Công giáo, mặc dù con số thống kê của Chính phủ là 5,9 triệu. Tín đồ Công giáo sinh sống trên khắp mọi miền đất nước, nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Nam xung quanh Thành phố Hồ Chí Minh, một vài nơi ở Tây Nguyên và ở các tỉnh phía Đông Nam Hà Nội. Trong những năm gần đây, Công giáo đã được khôi phục lại ở nhiều khu vực với nhiều nhà thờ được xây mới hoặc cải tạo lại, và số tín đồ ngày một gia tăng.

Theo con số thống kê của Chính phủ có 2,3 triệu tín đồ theo đạo Cao Đài, mặc dù các chức sắc đạo Cao Đài thường xuyên khẳng định phải có tới 5 triệu tín đồ. Các nhóm đạo Cao Đài hoạt động sôi nổi nhất ở tỉnh Tây Ninh, nơi toạ lạc ”Toà thánh” Cao đài Tây ninh, ở Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long. Đạo Cao Đài có nhiều giáo phái riêng biệt với giáo phái lớn nhất là phái Tây Ninh, chiếm hơn một nửa số tín đồ đạo Cao Đài. Đạo Cao Đài là một sự dung hợp các yếu tố của nhiều đức tin khác nhau.

Theo Chính phủ, có khoảng 1,2 triệu tín đồ Hòa Hảo, trong khi con số do những chi nhánh hải ngoại thống kê lên tới 3 triệu. Các tín đồ Hòa Hảo tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là ở các tỉnh như An Giang và Đồng Tháp, nơi mà trước năm 1975 giáo phái Hòa Hảo nổi lên với tư cách một lực lượng xã hội, chính trị, và quân sự. Ban Trị sự Hòa Hảo được Chính phủ công nhận thành lập năm 1999. Một số tín đồ Hòa Hảo theo các chi phái khác đối lập với.

Hai hội thánh Tin Lành được chính thức công nhận là Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Nam và Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc nhỏ hơn. Hội Thánh Baptist Ân Điển và Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam cũng được công nhận chính thức. Số tổ chức Tin Lành khác cũng tăng lên, trong đó có Hội thánh dòng Mennonite Việt Nam, Hội thánh Trưởng lão ân điển Việt Nam và Hội thánh Cơ đốc Phục lâm Việt Nam (tất cả đều được chính thức công nhận), và một số tổ chức khác chưa được đăng ký. Ước tính số tín đồ Tin Lành dao động từ 500.000 theo thống kê của Chính phủ đến 1,6 triệu theo ước tính của các giáo hội. Ước tính trong thập kỷ qua, số tín đồ Tin Lành tăng 600%. Một số tín đồ cải đạo mới này thuộc các nhà thờ tại gia không đăng ký. Theo tính toán của các tín đồ, 2/3 tín đồ Tin Lành là người dân tộc thiểu số, như dân tộc H’mông, Dao, Thái và các nhóm thiểu số khác vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có Ê-đê, Gia-rai, Mơ-nông và các dân tộc khác.

Các nhà thờ Hồi giáo, phục vụ một lượng tín đồ Hồi giáo ít ỏi ở, ước tính có khoảng 50 đến 80 nghìn người hành đạo ở tỉnh miền tây An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và các tỉnh duyên hải phía Nam. Chính phủ chính thức ước tính có khoảng 67 nghìn tín đồ Hồi giáo. Cộng đồng người Hồi giáo chủ yếu là người dân tộc Chăm, tuy nhiên ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh An Giang, có cả một số tín đồ là người Kinh di cư từ Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Ấn Độ. Khoảng một nửa tín đồ Hồi giáo theo dòng Sunni, nửa còn lại theo dòng Bani, một dòng đạo Hồi riêng biệt của người Chăm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ.

Còn một số cộng đồng tôn giáo nhỏ khác, lớn nhất trong số đó là cộng đồng người Hindu. Có khoảng 50.000 người Chăm ở miền duyên hải Nam Trung Bộ theo đạo Hindu. Khoảng 4.000 người Hindu khác sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, một số là dân tộc Chăm, nhưng phần lớn là người Ấn Độ hoặc thế hệ con cháu lai Việt-Ấn.

Uớc tính có khoảng 6.000 tín đồ theo đạo Baha’i, phần lớn tập trung ở miền Nam. Mặc dù các tín đồ đạo Baha’i có mặt tại Việt Nam trước năm 1975 nhưng trong giai đoạn 1975-1992, việc hành đạo công khai bị cấm và số tín đồ vì thế cũng giảm mạnh trong giai đoạn này.

Có khoảng 800 tín đồ của Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (hay còn gọi là giáo phái Mormons) sống rải rác trên cả nước, nhưng phần lớn sống ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Ít nhất có 10 giáo đoàn thuộc phái Chứng nhân Giê-hô-va với số lượng khoảng vài trăm tín đồ mỗi giáo đoàn, đang hoạt động nhưng chưa đăng ký. Phần lớn những giáo đoàn này ở miền Nam với năm giáo đoàn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Ở thành phố Hồ Chí Minh có một nhà thờ Do Thái. Mặc dù thành viên của nhà thờ này chủ yếu là Việt kiều sống ở nước ngoài, nhưng số lượng thành viên của giáo đoàn này đang tăng lên.