Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2019

Part 1

Chapter 15,140 wordsPublic domain (Wikisource)

Tóm tắt

Hiến pháp Việt Nam quy định tất cả mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Pháp luật quy định sự kiểm soát đáng kể của chính quyền đối với các hoạt động tôn giáo và có những quy định mập mờ cho phép hạn chế tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, có hiệu lực từ tháng 1 năm 2018, vẫn duy trì một quy trình đăng ký và công nhận các nhóm tôn giáo gồm nhiều bước. Các chức sắc tôn giáo, đặc biệt là những người đại diện cho các nhóm chưa được công nhận hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký, cho biết chính quyền có nhiều hình thức sách nhiễu – bao gồm việc hành hung, bắt người, truy tố, theo dõi, hạn chế đi lại, thu giữ hoặc hủy hoại tài sản – và từ chối hoặc không trả lời yêu cầu đăng ký và/hoặc các yêu cầu xin phép khác. Vào tháng 8, Rah Lan Hip bị tuyên phạt 7 năm tù sau khi bị kết tội “phá hoại chính sách đoàn kết” khi ông này khích lệ các tín đồ đạo Tin lành Đề Ga người dân tộc thiểu số chống lại việc chính quyền gây sức ép buộc họ bỏ đạo. Tiếp tục có các báo cáo về tình trạng các tín đồ tôn giáo bị nhà chức trách sách nhiễu ở Tây Nguyên, đặc biệt là thành viên Hội thánh Tin lành đấng Christ, và ở Tây Bắc đối với các tín đồ Thiên Chúa giáo và Công giáo La Mã người H’mong, cũng như đối với các nhóm Công giáo và Tin lành ở các tỉnh Nghệ An và Tuyên Quang. Các tín đồ tôn giáo cho biết nhà chức trách địa phương hoặc cấp tỉnh thực hiện phần lớn các vụ sách nhiễu. Nhìn chung, thành viên của các nhóm đã được công nhận hoặc đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký có thể hoạt động tôn giáo mà ít bị chính quyền can thiệp hơn, mặc dù một số nhóm đã được công nhận, trong đó có Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), cho biết họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc sinh hoạt tập trung ở một số tỉnh, bao gồm các tỉnh Quảng Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Giang và Hòa Bình. Các nhóm khác đang làm thủ tục xin đăng ký chính thức, bao gồm Hội thánh Tin lành Trưởng lão liên hiệp và Liên hữu Tin Lành Baptist Việt Nam, cũng cho biết họ gặp khó khăn trong sinh hoạt tập trung ở một số tỉnh. Thành viên các nhóm tôn giáo nói rằng một số chính quyền địa phương và cấp tỉnh sử dụng hệ thống các quy định pháp lý của địa phương và trung ương để trì hoãn, phủ nhận tính hợp pháp và trấn áp hoạt động tôn giáo của các nhóm chống lại sự quản lý chặt chẽ của chính phủ về cơ cấu lãnh đạo, chương trình đào tạo, các cuộc hội họp và các hoạt động khác của họ. Trong năm qua, chính phủ đã cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giê su Ki-tô (Giáo hội Chúa Giê su Ki-tô). Mặc dù Ủy ban điều phối của Giáo hội Chúa Giê su Ki-tô đã được đăng ký vào năm 2016, việc được cấp mới đăng ký hoạt động tôn giáo đưa Giáo hội này tuân thủ với quy định của luật mới và là bước thứ hai trong quy trình để tiến tới được công nhận chính thức.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai tổ chức Đại lễ Phật Đản Vesak của Liên Hợp quốc lần thứ 16, thu hút hơn 1.640 đại biểu quốc tế và khoảng 20.000 chức sắc Phật giáo, tăng ni, tín đồ trong nước. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tham dự Đại lễ.

Đại sứ và các quan chức cấp cao khác của đại sứ quán và tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ đã hối thúc chính phủ cho phép tất cả các nhóm tôn giáo hoạt động một cách tự do. Họ yêu cầu trao nhiều tự do hơn cho các nhóm tôn giáo đã được công nhận và kêu gọi chấm dứt các hạn chế và sách nhiễu đối với các nhóm tôn giáo chưa được công nhận hoặc chưa đăng ký. Đại sứ, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh và các viên chức sứ quán cấp cao đã vận động cho tự do tôn giáo trong các chuyến thăm trên cả nước, trong đó có miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Đại sứ và các quan chức khác thường xuyên gặp gỡ và duy trì liên lạc với các chức sắc tôn giáo trên khắp cả nước.

Phần I. Thống kê về tôn giáo

Chính phủ Hoa Kỳ ước tính dân số Việt Nam là 97,9 triệu người (tính đến giữa năm 2019). Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ (Ban TGCP) công bố tháng 1 năm 2018, 26.4% dân số được xếp vào các tín đồ tôn giáo tham gia các hoạt động tôn giáo đã được đăng ký: 14.9% là tín đồ đạo Phật, 7.4% là tín đồ Công giáo La Mã, 1.5% là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, 1.2% là tín đồ đạo Cao Đài, và 1.1% là tín đồ đạo Tin lành. Tuy nhiên, Ban TGCP ước tính 90% dân số theo một đạo truyền thống nào đó, có đăng ký hoặc không đăng ký. Trong cộng đồng tín đồ Phật giáo, Phật giáo Bắc Tông là tôn giáo chính của dân tộc đa số, người Kinh (Việt), còn khoảng 1.2% dân số, hầu hết là nhóm dân tộc thiểu số Khmer, thực hành Phật giáo Nam Tông. Các nhóm tôn giáo nhỏ hơn cộng lại chỉ chiếm dưới 0.16% dân số, trong đó có khoảng 70.000 người dân tộc Chăm thực hành dòng đạo Hinđu ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ; khoảng 80.000 tín đồ Hồi giáo sống rải rác trên cả nước (trong đó khoảng 40% theo dòng Sunni; 60% còn lại theo dòng Bani Islam); khoảng 3.000 người theo đạo Baha’i; và xấp xỉ 1.000 người là tín đồ thuộc Giáo hội Chúa Giê su Ki tô). Các nhóm tôn giáo bản địa (đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội, Phật Giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn) chiếm tổng cộng 0.34%. Một nhóm nhỏ, phần lớn là người nước ngoài, theo đạo Do Thái cư trú ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Các công dân khác không theo tôn giáo nào, hoặc theo các tín ngưỡng thờ linh vật, thờ cúng tổ tiên, thành hoàng làng, các vị thánh bảo hộ, các anh hùng dân tộc, hoặc những người được kính trọng ở địa phương. Nhiều cá nhân kết hợp giữa các hình thức thờ cúng truyền thống và giáo lý tôn giáo, đặc biệt là đạo Phật và đạo Thiên Chúa.

Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số. Dựa theo ước tính của các tín đồ, có khoảng 2/3 tín đồ Tin lành là người dân tộc thiểu số, bao gồm các nhóm ở khu vực Tây Bắc (H’mông, Dao, Thái và các dân tộc khác) và Tây Nguyên (Êđê, Jarai, Xêđăng và M’nông và các dân tộc khác). Nhóm dân tộc Khmer Krom chủ yếu theo dòng Phật giáo Nam Tông.

Phần II. Tình hình tôn trọng tự do tôn giáo của Chính phủ

Khung pháp lý

Hiến pháp quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm cả quyền tự do không theo một tôn giáo nào. Hiến pháp thừa nhận quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của những người bị hạn chế quyền, bao gồm tù nhân hoặc người nước ngoài và người không có quốc tịch. Hiến pháp quy định tất cả các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và nhà nước phải tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp cấm công dân vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162 hướng dẫn thi hành Luật, có hiệu lực từ tháng 1 năm 2018, là các văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh các nhóm tôn giáo và hoạt động của họ. Đến cuối năm, chính phủ vẫn chưa ban hành nghị định quy định các hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm luật mới. Tuy nhiên, Ban TGCP khẳng định rằng dự thảo nghị định quy định về xử phạt không quá quan trọng bởi các luật khác đã quy định buộc người dân tuân thủ luật của nhà nước. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo tái khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và cũng quy định rằng các cá nhân không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh; tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, hoạt động mê tín dị đoan hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Luật An ninh mạng, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1, cho phép chính quyền theo dõi dữ liệu người dùng trực tuyến và hoạt động trên mạng xã hội nhằm “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội”. Luật cấm người dùng thực hiện các hành vi tổ chức trực tuyến nhằm mục đích “chống nhà nước”, “xuyên tạc lịch sử”, “phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, và thực hiện các hành vi xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc. Luật cũng định nghĩa tuyên truyền chống nhà nước là “gây thù hận giữa các dân tộc, tôn giáo, và nhân dân các nước”.

Chính phủ đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo và một pháp môn (một tập hợp các thực hành tín ngưỡng) thuộc 15 tôn giáo riêng biệt theo phân loại của Chính phủ. 15 tôn giáo đó là: Phật giáo, Hồi giáo, Bahai, Công giáo, Tin lành, Giáo hội các tín hữu ngày sau của Chúa Giê su Ki Tô, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu, đạo Bà la môn Khơ me và Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn. Các hệ phái thuộc mỗi tôn giáo này phải làm thủ tục đăng ký và/hoặc công nhận riêng. Còn bốn nhóm nữa là Hội thánh Phúc âm ngũ tuần, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam, và Hội thánh Tin lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam đã được cấp “đăng ký hoạt động tôn giáo” nhưng chưa được công nhận là tổ chức tôn giáo chính thức.

Luật quy định sự kiểm soát của chính quyền đối với hoạt động tôn giáo và cho phép hạn chế tự do tôn giáo vì lợi ích “an ninh quốc gia” và “đoàn kết xã hội.”

Luật quy định cụ thể rằng các tổ chức tôn giáo đã được công nhận và các nhóm tôn giáo trực thuộc của chúng là các pháp nhân phi thương mại. Luật cũng quy định rằng các tổ chức tôn giáo được phép tiến hành các hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan.

Ban TGCP, một trong 18 đơn vị thuộc Bộ Nội vụ, chịu trách nhiệm thi hành các luật và nghị định về tôn giáo, có hệ thống cơ quan ở cấp trung ương, cấp tỉnh, và ở một số khu vực còn có văn phòng ở cấp huyện. Luật quy định trách nhiệm cụ thể của Ban Tôn giáo ở cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp địa phương, và giao một số nhiệm vụ quản lý nhà nước liên quan đến tôn giáo cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp địa phương (tức là giao cho lãnh đạo địa phương). Ban TGCP cấp trung ương có trách nhiệm phổ biến thông tin cho các cấp chính quyền và bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật về tôn giáo ở các cấp tỉnh, huyện, xã và thôn.

Theo luật, việc ép buộc người khác theo hoặc từ bỏ một tôn giáo hoặc tín ngưỡng bị nghiêm cấm.

Luật quy định các tín đồ tôn giáo phải đăng ký “hoạt động tôn giáo” với chính quyền cấp xã nơi “đặt địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo” và quy định một quy trình hợp pháp hóa gồm hai bước để các tổ chức tôn giáo có thể tập trung tại một địa điểm xác định để “thực hành nghi lễ thờ cúng, cầu nguyện, hoặc bày tỏ niềm tin tôn giáo”. Bước đầu tiên là “đăng ký hoạt động tôn giáo” tại Ban Tôn giáo cấp tỉnh hoặc cấp trung ương, tùy thuộc vào phạm vi hoạt động về mặt địa lý của tổ chức đó. Việc đăng ký hoạt động tôn giáo cho phép nhóm tôn giáo được tổ chức các cuộc lễ tôn giáo và sinh hoạt tôn giáo; giảng đạo và tổ chức các lớp học tôn giáo tại địa điểm đã được duyệt; bầu, bổ nhiệm, hoặc suy cử các chức sắc tôn giáo; sửa chữa, cải tạo trụ sở; thực hiện các hoạt động từ thiện, nhân đạo; tổ chức đại hội để thông qua hiến chương của tổ chức. Để được cấp đăng ký, nhóm tôn giáo phải nộp một bộ hồ sơ chi tiết với thông tin về giáo lý, quá trình hoạt động, điều lệ, ban lãnh đạo, các thành viên và minh chứng về việc có địa điểm hội họp hợp pháp. Ban Tôn giáo cấp tỉnh hoặc Bộ Nội vụ, tùy thuộc vào việc tổ chức tôn giáo xin cấp đăng ký đang hoạt động ở một hay nhiều tỉnh, có trách nhiệm chấp thuận hồ sơ đăng ký hợp lệ trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ. Ban Tôn giáo cấp tỉnh hoặc Bộ Nội vụ phải trả lời bằng văn bản nếu từ chối cấp đăng ký.

Bước thứ hai trong quy trình hợp pháp hóa là công nhận. Một tổ chức tôn giáo có thể làm thủ tục xin được công nhận sau khi đã hoạt động liên tục trong ít nhất năm năm kể từ ngày được cấp “đăng ký hoạt động tôn giáo”. Tổ chức tôn giáo đó phải có hiến chương và điều lệ hợp pháp, ban lãnh đạo có lý lịch tốt và không có án tích, và đã tự chủ trong quản lý tài sản và thực hiện các giao dịch. Để được công nhận, tổ chức tôn giáo phải nộp một bộ hồ sơ chi tiết cho Ban Tôn giáo cấp tỉnh hoặc cấp trung ương, phụ thuộc vào phạm vi hoạt động về địa lý của tổ chức đó. Hồ sơ phải bao gồm đơn đề nghị công nhận bằng văn bản, nêu rõ cơ cấu tổ chức, thành viên, phạm vi hoạt động về địa lý và địa điểm đặt trụ sở; bản tóm tắt quá trình hoạt động, giáo lý, giáo luật và lễ nghi; danh sách, sơ yếu lý lịch, phiếu lý lịch tư pháp và bản tóm tắt quá trình hoạt động tôn giáo của người đại diện và những người dự kiến lãnh đạo tổ chức; hiến chương; bản kê khai tài sản hợp pháp của tổ chức; và giấy tờ chứng minh có địa điểm hợp pháp để đặt trụ sở. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền hoặc Bộ Nội vụ có trách nhiệm chấp thuận hồ sơ đề nghị công nhận hợp lệ trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ Nội vụ phải trả lời bằng văn bản nếu từ chối hồ sơ. Tổ chức tôn giáo đã được công nhận được phép tiến hành hoạt động tôn giáo phù hợp với hiến chương của tổ chức; tổ chức sinh hoạt tôn giáo; xuất bản các kinh sách tôn giáo và các ấn phẩm khác; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu các văn hóa phẩm tôn giáo và đồ dùng tôn giáo; cải tạo, nâng cấp, hoặc xây dựng các cơ sở tôn giáo mới; nhận tài trợ hợp pháp từ các nguồn trong nước và nước ngoài, bên cạnh các quyền khác.

Luật quy định rằng các tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, nhà tu hành và tín đồ có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án dân sự, vụ án hành chính, hoặc khiếu nại chính thức về cán bộ hoặc cơ quan nhà nước (tố cáo) theo các luật và nghị định có liên quan. Luật cũng quy định rằng các tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án về hành vi của các nhóm tôn giáo hoặc các tín đồ tôn giáo. Trong pháp luật trước đây không có quy định cụ thể tương tự.

Theo luật, tổ chức tôn giáo được định nghĩa là “nhóm tôn giáo đã được chính quyền công nhận về mặt pháp lý”. Luật quy định một quy trình riêng để các tổ chức tôn giáo chưa đăng ký, chưa được công nhận được phép tiến hành một số hoạt động tôn giáo cụ thể bằng cách nộp hồ sơ cho ủy ban nhân dân cấp xã. Pháp luật yêu cầu ủy ban nhân dân phải trả lời bằng văn bản về hồ sơ đó trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Luật quy định cụ thể nhiều hoạt động tôn giáo phải được chính quyền trung ương và/hoặc địa phương chấp thuận trước hoặc được đăng ký. Các hoạt động này bao gồm “hoạt động tín ngưỡng” (được định nghĩa là các sinh hoạt làng xã truyền thống liên quan đến thờ cúng tổ tiên, các vị anh hùng, hoặc thờ cúng dân gian); “lễ hội tín ngưỡng” được tổ chức lần đầu; thành lập, chia, tách, hoặc sáp nhập các tổ chức tôn giáo trực thuộc; phong phẩm, bổ nhiệm, hoặc suy cử các chức sắc, chức việc (hoặc người có chức vụ trong tổ chức); thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo; tổ chức các lớp bồi dưỡng về tôn giáo; tổ chức đại hội tôn giáo; tổ chức các sự kiện tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo bên ngoài các địa điểm đã được phê duyệt; đi ra nước ngoài để tiến hành các hoạt động tôn giáo hoặc đào tạo; tham gia tổ chức tôn giáo nước ngoài.

Một số hoạt động tôn giáo không buộc phải được chấp thuận trước, nhưng phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các hoạt động phải thông báo bao gồm “các lễ hội tín ngưỡng” thường xuyên hoặc theo định kỳ; cách chức, bãi nhiệm chức sắc; tiến hành các hoạt động quyên góp; thông báo về số lượng tuyển sinh tại chủng viện hoặc trường học tôn giáo; sửa chữa, cải tạo cơ sở tôn giáo không phải là di tích lịch sử-văn hóa; phong phẩm, bổ nhiệm, suy cử chức sắc tôn giáo (chẳng hạn hòa thượng); thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc (hoặc người có chức vụ trong tổ chức); thực hiện các hoạt động tại cơ sở đào tạo tôn giáo đã được phê duyệt; các hoạt động tôn giáo thường xuyên (được định nghĩa là “truyền bá tôn giáo, thực hành giáo lý, lễ nghi tôn giáo và quản lý tổ chức tôn giáo”); và các hội nghị nội bộ của tổ chức tôn giáo.

Luật quy định tù nhân được tiếp cận các tài liệu tôn giáo trong khi bị giam giữ với các điều kiện nhất định. Luật bảo lưu quyền của chính phủ trong việc hạn chế “bảo đảm” quyền này. Nghị định 162 quy định rằng người bị giam giữ có thể sử dụng các tài liệu tôn giáo được xuất bản và lưu hành hợp pháp, phù hợp với các quy định pháp luật về tạm giữ, tạm giam, phạt tù hoặc các hình thức giam giữ khác. Việc sử dụng và/hoặc sinh hoạt này không được ảnh hưởng đến quyền có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo của những người khác và không được trái với các luật có liên quan. Nghị định quy định rằng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm hướng dẫn việc quản lý các tài liệu tôn giáo, thời gian, địa điểm sử dụng các tài liệu này.

Luật quy định các tổ chức tôn giáo phải tuân thủ nhiều luật khác đối với một số hoạt động nhất định. Các tổ chức tôn giáo được phép tiến hành các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo theo quy định của các luật có liên quan, nhưng không quy định rõ hoạt động nào là được phép. Ngoài ra, việc xây dựng hoặc cải tạo các cơ sở tôn giáo phải tuân thủ các luật và quy định có liên quan về xây dựng, và người nước ngoài tham gia các hoạt động tôn giáo phải tuân thủ pháp luật về nhập cảnh.

Luật quy định việc xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu các kinh sách tôn giáo phải tuân thủ các luật và quy định có liên quan đến xuất bản. Luật xuất bản quy định mọi nhà xuất bản phải là các tổ chức công đã được cấp phép hoặc là doanh nghiệp nhà nước. Các nhà xuất bản phải được chính phủ phê duyệt trước khi xuất bản tất cả các ấn phẩm, trong đó có các kinh sách tôn giáo. Theo quy định trong nghị định, chỉ Nhà xuất bản Tôn giáo mới có thể xuất bản sách tôn giáo. Bất kỳ nhà sách nào cũng có thể bán kinh sách tôn giáo và các tài liệu tôn giáo khác đã được xuất bản một cách hợp pháp.

Hiến pháp quy định nhà nước đại diện cho toàn dân sở hữu và quản lý toàn bộ đất đai. Theo luật, việc sử dụng đất của các tổ chức tôn giáo phải phù hợp với luật đất đai và các nghị định có liên quan. Luật đất đai công nhận rằng các cơ sở tôn giáo và trường học tôn giáo đã được cấp phép có thể có quyền sử dụng đất và được giao đất hoặc cho thuê đất. Luật quy định các cơ sở tôn giáo đủ điều kiện được nhà nước bồi thường nếu đất của họ bị thu hồi vì mục đích công cộng. Luật cho phép ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi đất vì mục đích công cộng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở tôn giáo.

Theo luật, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất “lâu dài và ổn định” cho các cơ sở tôn giáo nếu họ được phép hoạt động, đất không có tranh chấp, và đất không phải có được từ việc nhận chuyển nhượng hoặc tặng cho sau ngày 1/7/2004. Các cơ sở tôn giáo không được phép chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho hoặc thế chấp quyền sử dụng đất của họ. Trong trường hợp có tranh chấp đất đai liên quan đến cơ sở tôn giáo, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Các bên không đồng ý với quyết định của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền khiếu nại với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại tòa án.

Trên thực tế, nếu một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận, các thành viên của giáo đoàn có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dưới danh nghĩa cá nhân, nhưng giấy chứng nhận này không được cấp cho tổ chức với tư cách là một cơ sở tôn giáo.

Việc cải tạo hoặc nâng cấp cơ sở tôn giáo thuộc sở hữu của tổ chức tôn giáo cũng phải được thông báo cho chính quyền, mặc dù không nhất thiết phải có giấy phép, tùy thuộc vào mức độ cải tạo.

Chính phủ không cho phép giảng dạy tôn giáo trong các trường công lập và trường tư. Các trường tư phải tuân theo khung chương trình đào tạo được chính phủ phê duyệt, và khung chương trình này không cho phép giảng dạy tôn giáo. Có các trường tư do các tổ chức tôn giáo điều hành, nhưng các trường này bị cấm giáo dục về tôn giáo.

Luật có các quy định riêng đối với người nước ngoài cư trú hợp pháp ở Việt Nam được xin phép hoạt động tôn giáo, giảng dạy, tham dự các chương trình đào tạo tôn giáo trong nước, hoặc giảng đạo trong các cơ sở tôn giáo trong nước. Luật yêu cầu các tổ chức tôn giáo hoặc công dân Việt Nam phải được chính phủ cho phép trước khi đăng cai tổ chức hoặc tiến hành bất kỳ hoạt động tôn giáo nào liên quan đến tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc xuất cảnh ra nước ngoài. Pháp luật hiện hành cũng quy định các điều kiện để người nước ngoài hoạt động tôn giáo ở Việt Nam, bao gồm những người tham gia bồi dưỡng tôn giáo, phong phẩm và tham gia ban lãnh đạo, được phép tiến hành các hoạt động của họ.

Việt Nam là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

Động thái thực tế của chính phủ

Vào tháng 9, thành viên các nhóm dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cho biết các quan chức chính quyền tiếp tục hành hung, giám sát, thẩm vấn, bắt bớ tùy tiện và phân biệt đối xử đối với họ, một phần là do các sinh hoạt tôn giáo của họ. Các quan chức chính quyền địa phương nói rằng các tín đồ đạo Tin lành Đề Ga, một nhóm tôn giáo theo một hệ phái của Thiên Chúa giáo không được chính quyền công nhận, đã kích động việc ly khai bạo lực của người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên từ năm 2001 đến năm 2008. Báo chí nhà nước đã đăng tải những bài viết cảnh báo các cá nhân rằng đạo Tin lành Đề Ga nhằm tiến hành các hoạt động chống chính quyền.

Trong một số trường hợp, các cá nhân người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói rằng do bị đàn áp về xã hội và tôn giáo nên họ phải trốn chạy sang Campuchia và Thái Lan, trong đó khoảng 250-300 người đã xin tị nạn ở các nước này từ năm 2017, theo báo cáo của một tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở Hoa Kỳ hoạt động về quyền của người dân tộc thiểu số. Một số người xin tị nạn ở Thái Lan cho biết nhà chức trách Việt Nam ở địa phương (cấp xã) tiếp tục sách nhiễu họ thông qua mạng xã hội và trong một số trường hợp còn đe dọa và hành hung người thân của họ ở quê nhà.

Ngày 9 tháng 8, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử tín đồ đạo Tin lành Đề Ga Rah Lan Hip về tội “phá hoại chính sách đoàn kết” và tuyên phạt ông này 7 năm tù và 3 năm quản chế. Theo cáo trạng, Rah Lan Hip dùng tài khoản Facebook của mình có tên là “Kieu Rah Lan” để chia sẻ nhiều bài viết về đạo Tin lành Đề Ga.

Theo các bài viết đăng tải trên báo chí nhà nước, chính phủ không coi đạo Tin lành Đề Ga là một nhóm tôn giáo, mà là một phong trào chính trị ly khai do “các thế lực thù địch” kiểm soát nhằm phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc của Việt Nam. Theo các nhà hoạt động nhân quyền, từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019, Rah Lan Hip và hai cá nhân khác đã sử dụng Facebook để liên hệ với 1.304 tín đồ đạo Tin lành Đề Ga, trong đó có hai người mới được ra tù, để khích lệ họ chống lại các nỗ lực của chính quyền trong việc thuyết phục họ từ bỏ đạo Tin lành Đề Ga.

Các nguồn tin báo chí độc lập tiếp tục báo cáo về tình trạng căng thẳng và tranh chấp – đôi khi có bạo lực – giữa các tín đồ Công giáo và nhà chức trách ở giáo phận Vinh và Hà Tĩnh thuộc các tỉnh miền Trung Nghệ An và Hà Tĩnh. Báo chí đưa tin về các sự việc này trong nhiều trường hợp không nhất quán. Chẳng hạn, ngày 9 tháng 5, báo chí đưa tin rằng Cha Paul Nguyễn Xuân Tính, mục sư giáo xứ Khe Sắn, Giáo phận Hà Tĩnh, bị hai người đàn ông tấn công, hành hung khi đang trên đường từ nhà thờ đến nhà một giáo dân ở xã Sơn Lâm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Một số quan sát viên cho biết những người tấn công là cảnh sát mặc thường phục và gọi tên mục sư trước khi hành hung ông này. Tuy nhiên, những người khác nói rằng một cá nhân không xác định được danh tính đã cố ý dùng xe máy chặn đường, dẫn đến hai bên cãi cọ và chuyển thành bạo lực khi mục sư là người ra quả đấm trước tiên.

Ngày 7 tháng 5, công an tỉnh Nghệ An bắt Nguyễn Năng Tĩnh, nhà hoạt động Công giáo đồng thời là giáo viên dạy nhạc một trường công, với cáo buộc về tội “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, đồ vật nhằm mục đích chống Nhà nước”. Ngày 15 tháng 11, ông Tĩnh bị tuyên án 11 năm tù giam.