Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2015

Part 1

Chapter 15,162 wordsPublic domain (Wikisource)

← Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2014

Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2015  (2016)  của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ , do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam dịch Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế – Việt Nam 2016 →

- thông tin về bản này . 

Báo cáo được công bố ngày 10 tháng 8 năm 2016.

Xem thêm: Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2015 của Ủy Ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ

của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ 28652 Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2015 2016 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Phát biểu của Thứ trưởng Ngoại giao Antony J. Blinken

Phòng họp báo

Washington, DC

Ngày 10 tháng 8 năm 2016

THỨ TRƯỞNG NGOẠI GIAO BLINKEN: Xin chào quý vị. Hôm nay tôi rất hân hạnh được giới thiệu với quý vị Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2015 của Bộ Ngoại giao. Tôi muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Đại sứ Saperstein và các cộng sự trong nhóm của ông vì đã tận tụy chuẩn bị báo cáo này, và xin cảm ơn nỗ lực hằng ngày của họ trong lĩnh vực tự do tôn giáo quốc tế. Cam kết của họ khẳng định một sự thật mà không ai phải nghi ngờ: Ủng hộ tự do tôn giáo là định hướng của Hoa Kỳ và chính sách đối ngoại hàng ngày của chúng ta.

Nguyên tắc cốt lõi này đã trở thành một trong những nền tảng của Hoa Kỳ, củng cố và phát triển đất nước chúng ta qua từng thế hệ. Tự do tôn giáo là quyền tự do đầu tiên được ghi nhận trước tất cả các quyền tự do khác trong tuyên ngôn nhân quyền của chúng ta. Và nó trở thành trung tâm của các công ước và các luật về nhân quyền trên toàn cầu.

Cam kết của chúng ta được khẳng định bằng sự ưu tiên mà chúng ta dành cho sự nghiệp bảo vệ và ủng hộ tự do tôn giáo quốc tế ở khắp nơi trên thế giới, nhưng đặc biệt là ở những nơi mà quyền tự do này bị đe dọa. Chúng ta đã phát triển ổn định Cơ quan về Tự do Tôn giáo trong vài năm gần đây. Chúng ta đã thành lập mới Cơ quan về Tôn giáo và các vấn đề toàn cầu dưới sự lãnh đạo xuất sắc của Shaun Casey. Với các nỗ lực nói trên, 50 nhân viên Bộ Ngoại giao làm việc toàn thời gian tập trung toàn lực vào vấn đề tự do tôn giáo và vai trò của tôn giáo trong lĩnh vực ngoại giao, phối hợp chặt chẽ với 199 viên chức ngoại giao tại các đại sứ quán và lãnh sự quán của chúng ta trên toàn cầu để cho ra đời bản báo cáo mà chúng tôi giới thiệu đến quý vị hôm nay.

Như Ngoại trưởng Kerry đã phát biểu, mục đích của bản báo cáo thường niên này không phải là để giảng giải; mà để cung cấp thông tin, để động viên khuyến khích, và quan trọng nhất là, để thuyết phục. Có thể thấy sự cố chấp và không dung thứ hiện hữu ở khắp nơi trên thế giới, bao gồm cả Hoa Kỳ. Nhưng mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng tự do tôn giáo và tự do lương tâm; chúng tôi khuyến khích mọi quốc gia thực hiện nghĩa vụ đó. Báo cáo này, được dựa trên các tư liệu nghiên cứu phong phú và khách quan, là một trong những phương thức để chúng tôi hiện thực hóa cuộc vận động đó.

Thông điệp của chúng tôi rất đơn giản: Xã hội có xu hướng mạnh hơn, giàu có hơn, an toàn hơn và ổn định hơn khi công dân của xã hội đó được hưởng đầy đủ các quyền mà họ đáng được hưởng. Khi một chính phủ phủ nhận tự do tôn giáo, họ biến những công dân vốn không làm gì sai trái trở thành tội phạm, họ châm ngòi cho sự căng thẳng là nguồn gốc dẫn đến sự coi thường, tuyệt vọng và xa lánh. Không hề dẫn đến sự tổn thương hay yếu đuối, đa nguyên tôn giáo thể hiện sự tôn trọng tín ngưỡng của mỗi công dân và trao cho mỗi người một lý do xác đáng để đóng góp vào sự thành công của toàn xã hội. Điều đó lý giải tại sao không một quốc gia nào có thể khai thác được hết tiềm năng của mình nếu người dân nước đó bị khước từ quyền tự do lựa chọn và công khai thực hành đức tin của họ.

Trước đây, các báo cáo thường niên của chúng tôi hầu như chỉ tập trung vào hành động của các nhà nước. Tuy nhiên, chúng ta đã thấy một số chủ thể phi nhà nước – bao gồm các tổ chức khủng bố như Daesh, al-Qaida, al-Shabaab, Boko Haram – đang gây ra mối đe dọa lớn đến tự do tôn giáo. Suy cho cùng, không có hình thức phân biệt đối xử nào cực đoan hơn việc ly khai những tín đồ của một tôn giáo này với tín đồ của tôn giáo khác – dù ở trong một ngôi làng, trên xe buýt, hay trong lớp học – với chủ ý sát hại hoặc bắt các thành viên của một nhóm nào đó làm nô lệ.

Tháng Ba vừa rồi, Ngoại trưởng Kerry đã nêu rõ quan điểm của ông rằng Daesh phải chịu trách nhiệm về tội diệt chủng đối với các cộng đồng tôn giáo trong những vùng đặt dưới sự kiểm soát của tổ chức này. Daesh đã sát hại những người Yezidi bởi vì họ là những người theo đạo Yezidi, sát hại những người theo đạo Cơ đốc vì lý do họ là những người theo đạo Cơ đốc, sát hại những người Hồi giáo dòng Shia bởi vì họ là những người theo dòng Shia. Daesh cũng phải chịu trách nhiệm về các tội ác chống loài người và thanh trừng dân tộc nhằm vào các nhóm người nói trên, và trong một số trường hợp, chúng còn nhằm vào những người Hồi giáo dòng Sunni, người Kurd và các nhóm thiểu số khác. Chúng không chỉ tàn sát mà còn xóa bỏ hoàn toàn ký ức về những người bị chúng tàn sát, hủy hoại các di tích văn hóa tôn giáo đã tồn tại hàng bao thế kỷ.

Kể tên các tội ác này là một việc quan trọng, nhưng mục tiêu của chúng ta là chấm dứt các tội ác ấy. Đó là lý do vì sao Tổng thống Obama đã huy động một liên minh gồm hơn 65 đối tác đến từ mọi nơi trên thế giới để chiến đấu và đánh bại Daesh. Chúng ta đã liên kết lại với nhau một cách có hệ thống và đang cắt đứt nguồn tài trợ của Daesh, phá hủy các nơi trú ẩn của chúng, ngăn chặn luồng chiến binh nước ngoài, chống lại các phát biểu của chúng trên mạng xã hội, giải phóng các cộng đồng, cho phép công dân trở về nhà và phá hủy tận gốc nền móng cho những tham vọng toàn cầu của Daesh. Chúng ta đã tiêu diệt hàng chục nghìn chiến binh và hàng trăm lãnh đạo cấp cao của Daesh. Chúng ta đã phá hủy hàng nghìn máy móc thiết bị và vũ khí của chúng. Chúng ta đã tước đi của Daesh 20% vùng lãnh thổ mà chúng kiểm soát ở Syria và 50% vùng lãnh thổ ở Iraq.

Hiện tại, chúng ta biết rằng cuộc chiến để đánh bại Daesh trên chiến trường còn lâu mới kết thúc. Nhưng khi thòng lọng càng xiết chặt cổ chúng, chúng ta đã thấy Daesh tìm cách đáp trả bằng việc khuyến khích các cuộc tấn công bừa bãi vào càng nhiều địa điểm càng tốt – từ một khu chợ ở Baghdad, một hộp đêm ở Orlando, một nơi dạo chơi ở Nice, một quán cà phê ở Dhaka, đến một quảng trường ở trung tâm Istanbul. Một trong những cách tốt nhất để phủ nhận chiến thắng của những kẻ sát nhân này là bảo đảm rằng những nơi chúng tìm cách phá hủy không những sống sót, mà còn phát triển mạnh mẽ. Khi cuộc chiến giải phóng Mosul ở tỉnh Nineveh đến gần, chúng ta phải hành động để bảo đảm một tương lai trong đó tất cả mọi người Iraq – dù là người theo dòng Sunni, Shia, Kurd, Cơ đốc giáo, hay đạo khác – đều cảm thấy mình được đại diện và bảo vệ bởi một quốc gia mà họ gọi là quê hương của mình.

Hai tuần trước đây, tại Bộ Ngoại giao, chúng tôi tập hợp hơn 30 phái đoàn và yêu cầu cộng đồng quốc tế cần phải làm nhiều hơn để bảo đảm rằng các cộng đồng tôn giáo và dân tộc đã tồn tại lâu đời có thể ở lại trên mảnh đất quê hương của tổ tiên họ với sự tin tưởng rằng ở đó họ có được an ninh và cơ hội kinh tế. Mọi chính phủ có nghĩa vụ bảo vệ các công dân của mình, và trước mối đe dọa do chủ nghĩa khủng bố gây ra, công việc này – như chúng ta đều biết – có thể là một nhiệm vụ đầy khó khăn thách thức. Nó đòi hỏi chia sẻ thông tin tình báo, nhận diện những hành vi đáng nghi ngờ, thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh chính đáng, chống trả lại những nỗ lực cực đoan hóa giới trẻ. Và bởi một số nhóm bạo lực cực đoan viện dẫn kinh sách tôn giáo để khuyến khích và biện hộ cho các tội ác khủng khiếp, chúng ta phải cộng tác với các thủ lĩnh tôn giáo, những người đứng đầu xã hội dân sự, và các lãnh tụ chính trị cam kết đánh bại các âm mưu cực đoan hóa cộng đồng và cực đoan hóa giới trẻ của chúng ta.

Nhưng các mối quan ngại về an ninh không phải là một lý do chính đáng để trấn áp các hoạt động tôn giáo hòa bình, từ chối sự đối xử công bằng với các nhóm tôn giáo, áp dụng những hình phạt tập thể, hoặc phủ nhận các quyền tự do mang tính thiết yếu đối với việc thực hành tôn giáo, trong đó bao gồm quyền tự do lập hội, tự do hội họp, và tự do biểu đạt. Chúng tôi nhấn mạnh điểm này không phải chỉ nhằm bảo vệ nguyên tắc tự do tôn giáo, mà còn bởi vì bọn khủng bố rất nhanh chóng khai thác chứng cứ về sự phân biệt đối xử để cố gắng lý giải cho hành động của chúng và để thu hút thêm các thành viên mới. Bất kể nhằm mục đích gì, việc trấn áp chỉ châm ngòi cho khủng bố chứ không dập tắt được nó, điều đó có nghĩa là việc phủ nhận tự do tôn giáo không những không đúng mà còn cực kỳ sai lầm và tự chuốc lấy thất bại cho mình.

Là một công cụ để học hỏi và nâng cao hiểu biết, báo cáo này cũng biểu dương các quốc gia đang thực hiện những cải cách tiến bộ về tự do tôn giáo, và tôi xin đưa ra một ví dụ: đó là Việt Nam. Các quy định của nước này về thủ tục đăng ký và báo cáo phiền hà vẫn hạn chế khả năng tự do thực hành đức tin của các cộng đồng tôn giáo, bao gồm cả các cộng đồng có đăng ký và không đăng ký. Tuy nhiên, chính phủ đang soạn thảo một đạo luật mới toàn diện về tín ngưỡng, tôn giáo, theo kế hoạch sẽ được Quốc hội xem xét vào mùa thu năm nay. Chính phủ đã có một số nỗ lực bảo đảm tính minh bạch trong quá trình soạn thảo; nới lỏng một số thủ tục đăng ký và phê duyệt trong dự luật này. Tôi mong muốn khuyến khích các đối tác của chúng ta ở Việt Nam tiếp tục đi theo hướng giảm bớt những hạn chế đối với các cộng đồng tôn giáo.

Về cơ bản, báo cáo này mong muốn trình bày tất cả những vấn đề đang được quan tâm. Chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ vào tự do tôn giáo quốc tế cho tất cả mọi người bởi vì đó là giá trị mà bản thân người Mỹ chúng tôi đề cao một cách sâu sắc.

Cách đây năm mươi năm hay một trăm năm, nếu bạn hỏi một chuyên gia điều gì làm nên sự giàu có của một quốc gia, rất có thể bạn sẽ nhận được câu trả lời rằng đó là lãnh thổ rộng lớn, dân số đông, quân đội hùng mạnh, tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Cho đến nay tất cả những yếu tố đó vẫn có vai trò quan trọng, chúng tạo nên sự khác biệt, và Hoa Kỳ may mắn sở hữu được nhiều yếu tố trong số đó. Tuy nhiên, hiện tại chúng ta biết rằng trong thế kỷ XXI, có thể tìm thấy sự giàu có đích thực của một quốc gia ở chính nguồn lực con người của quốc gia đó và khả năng của họ trong việc tự do kiến thiết, sáng tạo, vượt trội và thể hiện bản thân. Các quốc gia nào giải phóng được hoàn toàn tiềm năng này và biết đầu tư cho y tế, sự thịnh vượng, an ninh và sự đa dạng của xã hội sẽ phát triển mạnh trong thế kỷ XXI, bất kể quốc gia đó có hay không sở hữu các yếu tố truyền thống làm nên sự giàu có và sức mạnh. Và tự do tôn giáo chính là thành tố cốt lõi để khai thác tối đa tiềm năng con người nói trên, để mọi người có thể tự do thể hiện bản thân và tối đa hóa tiềm năng của chính họ.

Tôi muốn cảm ơn Đại sứ Saperstein và tất cả mọi người đã đóng góp vào báo cáo của năm nay. Báo cáo này là chứng cứ đặc biệt thể hiện năng lượng, niềm đam mê, và sự cống hiến tận tụy của họ. Và bây giờ, tôi rất vinh dự được nhường lời cho Đại sứ Saperstein phát biểu, và Đại sứ sẽ hân hạnh trả lời bất kỳ câu hỏi nào của quý vị. Xin trân trọng cảm ơn.

Báo cáo về Việt Nam

Tóm tắt

Hiến pháp Việt Nam quy định tất cả mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Các quy định pháp luật về tôn giáo cho phép hạn chế tự do tôn giáo trong trường hợp vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội. Chính quyền tiếp tục hạn chế hoạt động của các nhóm tôn giáo chưa đăng ký, đặc biệt là những nhóm mà chính phủ cho rằng có tham gia hoạt động chính trị, trong khi đó theo báo cáo, thành viên của các nhóm đã đăng ký được phép hành đạo mà ít bị can thiệp hơn. Chính phủ tiếp tục hạn chế hoạt động của tất cả các nhóm tôn giáo trong lĩnh vực giáo dục và y tế và yêu cầu phải xin phép đối với nhiều hoạt động khác. Một số thành viên của các nhóm tôn giáo chưa đăng ký cho biết chính phủ có nhiều hình thức sách nhiễu, bao gồm, nhưng không giới hạn ở hành hung, giam giữ ngắn hạn, truy tố, theo dõi, hạn chế đi lại, từ chối đăng ký và/hoặc các yêu cầu xin phép khác. Sự đối xử của chính phủ đối với các nhóm tôn giáo có sự khác nhau đáng kể giữa các vùng và giữa cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp địa phương. Các tín đồ tôn giáo báo cáo rằng chính quyền địa phương hoặc cấp tỉnh, chứ không phải chính quyền trung ương, thực hiện phần lớn các vụ việc sách nhiễu. Một số chính quyền địa phương và cấp tỉnh sử dụng một cách hệ thống và công khai các quy định pháp lý của địa phương và của trung ương để trì hoãn, phủ nhận tính hợp pháp và trấn áp hoạt động tôn giáo của các nhóm chống lại sự quản lý chặt chẽ của chính phủ về cơ cấu lãnh đạo, chương trình đào tạo, các cuộc hội họp và các hoạt động khác của họ. Có nhiều báo cáo về việc hành hung, giam giữ và hủy hoại tài sản ở các tỉnh nông thôn, đặc biệt là ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc.

Có một số báo cáo về sự căng thẳng trong nhóm dân tộc H’mông về nghi lễ tôn giáo.

Tổng thống và Ngoại trưởng Hoa Kỳ, trong các cuộc gặp với các quan chức chính phủ cấp cao của Việt Nam, đã kêu gọi tiếp tục cải thiện tự do tôn giáo. Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ đã hối thúc chính phủ cho phép tất cả các nhóm tôn giáo hoạt động một cách tự do, trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, các hội thánh Tin lành và Công giáo tại gia, các nhóm Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài độc lập; yêu cầu trao nhiều tự do hơn cho các nhóm tôn giáo đã được công nhận; và kêu gọi chấm dứt các hạn chế và sách nhiễu đối với các nhóm tôn giáo chưa đăng ký. Các quan chức Hoa Kỳ thường xuyên liên lạc với các chức sắc tôn giáo trên khắp cả nước. Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Dân chủ, Nhân quyền và Lao động và Đại sứ lưu động về Tự do tôn giáo quốc tế đã thảo luận về những quan ngại về tự do tôn giáo với các quan chức chính phủ trong buổi Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam thường niên vào tháng 5 và gặp gỡ nhiều nhóm tôn giáo đã đăng ký và chưa đăng ký. Trợ lý Ngoại trưởng đã đến Việt Nam vào tháng 8, tại đây ông đã vận động cải thiện tự do tôn giáo trong luật và trên thực tiễn.

Phần I. Thống kê về tôn giáo

Chính phủ Hoa Kỳ ước tính dân số Việt Nam là 94.3 triệu người (tính đến tháng 7 năm 2015). Theo Ban Tôn giáo Chính phủ (Ban TGCP), khoảng 95% dân số thừa nhận có đời sống tín ngưỡng tôn giáo. Hơn một nửa dân số coi mình theo đạo Phật. Trong cộng đồng đó, Phật giáo Bắc Tông là tôn giáo chính của người Kinh (Việt) là dân tộc chiếm đa số, còn khoảng 1.2% dân số, hầu hết là nhóm dân tộc thiểu số Khmer, thực hành Phật giáo Nam Tông. Công giáo La Mã chiếm 7% dân số; đạo Cao Đài chiếm 2.5 đến 4%; đạo Hòa Hảo chiếm 1.5 đến 3%; và đạo Tin lành chiếm 1 đến 2%.

Các nhóm tôn giáo nhỏ hơn cộng lại chỉ chiếm dưới 0.2% dân số, trong đó có 50.000 người dân tộc Chăm, chủ yếu theo dòng đạo Hinđu riêng biệt ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ; khoảng 100.000 tín đồ Hồi giáo sống rải rác trên cả nước (trong đó khoảng 40% theo dòng Sunni; 60% còn lại theo dòng Bani Islam); cả nước có khoảng 8.000 người theo đạo Baha’i; và xấp xỉ 1.000 người là tín đồ thuộc Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giê su Ki tô (hay còn gọi là Giáo phái Mặc môn). Các nhóm tôn giáo bản địa (đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Tổ Tiên Chính Giáo) và các nhóm tôn giáo tương đối mới với Việt Nam (như đạo Bà la môn) có tổng cộng 1.3 triệu tín đồ. Một nhóm nhỏ, phần lớn là người nước ngoài, theo đạo Do Thái tồn tại ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Các công dân khác tự nhận mình không theo tôn giáo nào, hoặc theo các tín ngưỡng thờ linh vật, thờ cúng tổ tiên, thành hoàng làng, các vị thánh bảo hộ, các anh hùng dân tộc, hoặc những người được kính trọng ở địa phương. Nhiều cá nhân kết hợp giữa các hình thức thờ cúng truyền thống và giáo lý tôn giáo, đặc biệt là đạo Phật và đạo Thiên Chúa.

Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số. Dựa theo ước tính của các tín đồ, có khoảng 2/3 tín đồ Tin lành là người dân tộc thiểu số, bao gồm các nhóm ở khu vực Tây Bắc (H’mông, Dao, Thái và các dân tộc khác) và Tây Nguyên (Êđê, Jarai, Xêđăng và M’nông, trong đó có các nhóm được gọi chung là người Thượng). Nhóm dân tộc Khmer Krom chủ yếu theo dòng Phật giáo Nam Tông.

Phần II. Tình hình tôn trọng tự do tôn giáo của Chính phủ

Khung pháp lý

Hiến pháp quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm cả quyền tự do không theo một tôn giáo nào. Hiến pháp thừa nhận quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của những người bị hạn chế quyền, bao gồm tù nhân hoặc người nước ngoài và người không có quốc tịch. Hiến pháp quy định tất cả các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và nhà nước phải tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Hiến pháp cấm công dân “lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.” Ngoài ra, bộ luật hình sự quy định các hình phạt đối với các hoạt động phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc của nhà nước.

Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 và Nghị định hướng dẫn thi hành sửa đổi (Nghị định 92) được ban hành năm 2012 là các văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hoạt động tôn giáo. Cả Pháp lệnh và Nghị định 92 đều tái khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, đồng thời cũng quy định rằng các cá nhân không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh; tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, hoạt động mê tín dị đoan hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Ban TGCP chịu trách nhiệm thi hành Pháp lệnh năm 2004 và các quy định sửa đổi, bổ sung được nêu trong Nghị định 92 và có hệ thống cơ quan ở cấp trung ương, cấp tỉnh, và ở một số khu vực còn có văn phòng ở cấp địa phương. Theo Nghị định, tất cả các nhóm tôn giáo phải nộp hồ sơ đăng ký hoạt động tôn giáo để chính phủ phê duyệt. Ban TGCP có trách nhiệm phổ biến thông tin cho các cấp chính quyền và bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật về tôn giáo ở các cấp tỉnh, huyện, xã và thôn.

Pháp lệnh nghiêm cấm ép buộc bỏ đạo.

Nghị định 92 quy định một quy trình gồm nhiều bước để một tổ chức tôn giáo được công nhận ở cấp quốc gia. Để được hoạt động công khai, một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận trước tiên phải đăng ký (và trên thực tế, phải được chấp thuận) nơi thờ tự, các giáo sĩ và các hoạt động của mình ở từng khu vực hành chính địa phương nơi tổ chức hoạt động bằng việc đăng ký thông tin về cơ cấu tổ chức, ban lãnh đạo và các hoạt động. Việc đăng ký ở cấp địa phương cho phép tổ chức hoạt động ở khu vực hành chính đó. Bước tiếp theo là đăng ký ở cấp quốc gia, trong đó yêu cầu tổ chức phải có tài liệu chứng minh đã hoạt động tôn giáo ổn định 20 năm ở Việt Nam, đăng ký cấp quốc gia được thực hiện bởi chính quyền trung ương thông qua Ban TGCP. Việc đăng ký cấp quốc gia yêu cầu phải có giấy phép của Ban TGCP. Ba năm sau khi đăng ký ở cấp quốc gia, nhóm tôn giáo đủ điều kiện để nộp hồ sơ xin công nhận về mặt pháp lý sau khi đã bầu ra ban lãnh đạo thông qua đại hội toàn quốc. Ban TGCP phải phê chuẩn dự kiến ban lãnh đạo, cơ cấu tổ chức và các hoạt động. Lợi ích của việc công nhận là tổ chức tôn giáo được phép mở, vận hành và cải tạo các địa điểm thờ tự; được phép đào tạo các chức sắc tôn giáo và xuất bản các tài liệu. Mỗi hoạt động còn phải được sự chấp thuận ở cấp địa phương và trung ương.

Ở mỗi bước của quy trình xin đăng ký và công nhận, pháp luật quy định cụ thể thời hạn trả lời, tối đa là 45 ngày, tùy thuộc vào phạm vi đề nghị. Mặc dù pháp luật yêu cầu chính quyền phải có giải thích chính thức bằng văn bản nếu từ chối hồ sơ, nhưng việc từ chối có thể vì bất kỳ lý do gì, bởi pháp luật trao cho các cơ quan nhà nước phạm vi quyền hạn quyết định rất rộng. Không có cơ chế khiếu nại đối với quyết định từ chối.

Theo Pháp lệnh, chính phủ giám sát việc tuân thủ pháp luật của các nhóm tôn giáo, và các nhóm này phải được chính thức đăng ký hoặc được công nhận là tổ chức tôn giáo chính thức. Pháp lệnh quy định rằng chính quyền địa phương phải chấp thuận ban lãnh đạo, hoạt động và việc thành lập các chủng viện hay các lớp học tôn giáo. Nghị định 92 quy định các tổ chức tôn giáo phải đăng ký các chức sắc và cán bộ tôn giáo của họ với Ban TGCP hoặc Ban Tôn giáo cấp tỉnh. Nghị định quy định cụ thể hướng dẫn về chương trình học đối với các cơ sở đào tạo tôn giáo, và tăng thời gian tối thiểu mà một tổ chức phải đăng ký trước khi đủ điều kiện để được công nhận ở cấp quốc gia là 23 năm.

Các tổ chức tôn giáo phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở cấp tỉnh và cấp trung ương về các hoạt động kỷ niệm lớn của họ, ví dụ lễ Giáng sinh, hay việc phong chức, phong phẩm, và thuyên chuyển chức sắc, chức việc. Đây chỉ là thủ tục thông báo; pháp luật không yêu cầu phải có sự chấp thuận của chính quyền đối với các buổi lễ và việc bổ nhiệm này. Chính quyền địa phương có quyền yêu cầu về các hình thức xin phép bổ sung. Tuy Pháp lệnh khuyến khích các nhóm tôn giáo thực hiện các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, song pháp luật cấm các nhóm tôn giáo vận hành các cơ sở y tế hoặc giáo dục, mặc dù họ được phép vận hành các nhà trẻ và trường mẫu giáo.

Nghị định 92 và Luật Đất đai quy định rằng các tổ chức tôn giáo đã được công nhận được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tư cách là pháp nhân, nhưng các tổ chức này phải được ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao đất, ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng là cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc từ chối cấp phép xây dựng cơ sở mới. Nếu một tổ chức tôn giáo chưa có được địa vị pháp lý đầy đủ, cá nhân các thành viên của giáo đoàn có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng rẽ, nhưng giấy chứng nhận này không được cấp cho tổ chức với tư cách là một tổ chức tôn giáo đã được công nhận. Việc cải tạo hoặc nâng cấp cơ sở tôn giáo cũng phải được thông báo cho chính quyền, mặc dù không nhất thiết phải có giấy phép, tùy thuộc vào mức độ cải tạo. Nghị định quy định chính quyền phải trả lời hồ sơ xin phép xây dựng trong vòng 20 ngày, mặc dù pháp luật không quy định trách nhiệm của chính quyền trong trường hợp không tuân thủ thời hạn nói trên.

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ năm 2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành đã yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền tạo điều kiện thuận lợi cho đề nghị của các tổ chức Tin lành đã được công nhận về việc xây dựng nhà thờ và về đào tạo và bổ nhiệm mục sư. Chỉ thị chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ các hệ phái chưa được công nhận đăng ký giáo đoàn của họ để họ có thể công khai sinh hoạt đạo và tiến tới đáp ứng các tiêu chí để được công nhận đầy đủ. Chỉ thị chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền ở Tây Nguyên và Tây Bắc giúp đỡ các nhóm tín đồ Tin lành đăng ký hoạt động tôn giáo và sinh hoạt đạo tại gia đình hoặc tại “địa điểm thích hợp”, ngay cả khi họ không đáp ứng các tiêu chí để thành lập giáo đoàn chính thức. Chỉ thị cũng chỉ đạo các cán bộ địa phương cho phép “các nhà thờ tại gia” chưa đăng ký được hoạt động với điều kiện họ “cam kết tuân thủ các quy định của pháp luật” và không gắn với các phong trào chính trị ly khai.

Pháp luật quy định việc xuất bản mọi ấn phẩm tôn giáo phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận trước. Pháp luật quy định chỉ Nhà xuất bản Tôn giáo hoặc một nhà xuất bản khác được nhà nước chấp thuận mới có thể xuất bản sách tôn giáo. Kinh thánh được phép in bằng tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác, bao gồm tiếng Trung, Ê đê, Jarai, Banar, M’nông, H’mông, C’ho và tiếng Anh. Các ấn phẩm khác bao gồm nhưng không giới hạn ở các ấn phẩm liên quan đến thờ cúng tổ tiên, đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Hồi và đạo Cao Đài. Bất kỳ nhà sách nào cũng có thể bán kinh sách tôn giáo và các tài liệu tôn giáo khác một cách hợp pháp.

Chính phủ không cho phép giảng dạy tôn giáo trong các trường công lập.