Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2013
Part 1
← Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2012
Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2013  (2014)  của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam dịch Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2014 →
- thông tin về bản này . 
Báo cáo được công bố ngày 28 tháng 7 năm 2014.
của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 19631 Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2013 2014 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam
Việt Nam
Tổng quan
Hiến pháp và các bộ luật, chính sách khác của Việt Nam có quy định về quyền tự do tôn giáo, nhưng trên thực tế, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp hạn chế tự do tôn giáo. Nhiều yêu cầu đăng ký hoạt động của các nhóm tôn giáo không được trả lời hoặc bị từ chối, thường là ở cấp tỉnh hoặc cấp làng xã. Nhiều nhóm tôn giáo chưa đăng ký cho biết họ vẫn bị sách nhiễu, với báo cáo cho thấy số lượng bị sách nhiễu nhiều nhất là từ miền Trung và Tây Nguyên. Các sách nhiễu này bao gồm các vụ đánh đập, bắt giữ, tạm giam và kết án hình sự. Tuy vậy, chính quyền cũng có cho thấy những dấu hiệu cải thiện, như cấp đăng ký cho ngày càng nhiều các giáo đoàn mới và nhìn chung tôn trọng tự do tôn giáo của những giáo đoàn có đăng ký này, miễn là họ phải tuân thủ pháp luật. Chính phủ cũng cho phép mở rộng các hoạt động từ thiện và cho phép tổ chức các buổi lễ tôn giáo quy mô lớn với trên 100.000 người tham dự.
Không có báo cáo về những vụ gây khó khăn, phiền hà của xã hội hoặc phân biệt đối xử xuất phát từ nguyên nhân tôn giáo, tín ngưỡng hoặc hành đạo.
Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn duy trì các cuộc đối thoại thường xuyên với các quan chức cấp cao cũng như các cán bộ chuyên trách của Chính phủ nhằm thúc đẩy hơn nữa tự do tôn giáo. Các quan chức Hoa Kỳ cũng đã trao đổi thường xuyên với các chức sắc tôn giáo, kể cả những nhà hoạt động tôn giáo nằm trong danh sách theo dõi của Chính phủ. Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Đại sứ phụ trách vấn đề Tự do tôn giáo quốc tế và các quan chức cấp cao khác của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã bày tỏ quan ngại về tự do tôn giáo với các quan chức của Chính phủ Việt Nam và kêu gọi Việt Nam cải thiện hơn nữa tự do tôn giáo.
Phần I. Các nhóm tôn giáo và số lượng người theo đạo
Chính phủ Hoa Kỳ ước tính tổng dân số của Việt Nam vào thời điểm tháng 7 năm 2013 là khoảng 92,5 triệu người. Hơn một nửa dân số Việt Nam theo đạo Phật, trong đó đại đa số (hầu hết là người Kinh, hay còn gọi là người Việt) theo phái Đại Thừa. Gần 1,2% dân số (khoảng 1 triệu người) theo dòng Nam Tông (hầu hết là người dân tộc Khmer tại khu vực miền Nam). Có 7% dân số là tín đồ của Giáo hội Công giáo Rô-ma. Công giáo đang ngày càng phát triển tại Việt Nam với trên 6 triệu tín đồ tại 26 giáo phận trên cả nước. Có khoảng 2,5%-4% dân số theo Đạo Cao Đài, một tôn giáo dung hợp các yếu tố của nhiều tôn giáo khác nhau. Các tín đồ đạo Hòa Hảo chiếm 1,5%-3% dân số. Còn số lượng tín đồ của đạo Tin Lành được ước tính vào khoảng 1%-2% dân số. Một số hệ phái của đạo Tin Lành đã được chính thức công nhận ở cấp quốc gia; một số hệ phái khác đã được cấp đăng ký tại địa phương.
Các cộng đồng tôn giáo nhỏ hơn cộng lại chiếm chưa đến 0,1% dân số, trong đó có 50.000 người dân tộc Chăm chủ yếu theo một dòng đạo Hin-đu riêng biệt ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Khoảng 70.000 đến 80.000 tín đồ Muslim rải rác trên cả nước (trong đó gần 40% theo dòng Sunnis; 60% còn lại theo dòng Bani Islam); cả nước có khoảng 8.000 người theo đạo Baha’i, và xấp xỉ 1.000 người là tín đồ thuộc Giáo hội các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (hay còn gọi là giáo phái Mormons). Thành phố Hồ Chí Minh có một nhà thờ Do Thái, phục vụ khoảng 150 tín đồ Do Thái, chủ yếu là những người nước ngoài định cư tại thành phố.
Các công dân còn lại đều tự nhận mình là phi tôn giáo hoặc theo các tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng ông bà tổ tiên, các vị thánh bảo hộ, các anh hùng dân tộc hay những người được kính trọng trong nước. Những người theo các hình thức thờ cúng truyền thống này có thể nhận hoặc không nhận là mình theo đạo.
Các dân tộc thiểu số chiếm xấp xỉ 14% dân số. Theo ước tính của các tín đồ, có khoảng 2/3 tín đồ đạo Tin Lành là người dân tộc thiểu số, bao gồm các nhóm ở khu vực Tây Bắc (H’mông, Dao, Thái và các dân tộc khác) và Tây Nguyên (Ê-đê, Jarai, Sê-đăng, M’nông và các dân tộc khác). Người dân tộc Khmer Krom thì chủ yếu theo dòng Phật giáo Nam Tông.
Phần II. Tình hình liên quan đến tôn trọng quyền tự do tôn giáo của Chính phủ
Khung pháp lý/chính sách
Hiến pháp và các bộ luật, chính sách khác của Việt Nam đều có quy định về quyền tự do tôn giáo, quy định quyền tự do tín ngưỡng và thờ phụng, và bảo vệ quyền theo hoặc không theo một tín ngưỡng nào đó; nhưng trên thực tế, vẫn có những luật hạn chế việc thực hành tín ngưỡng.
Mặc dù Chính phủ công bố Nghị định 92 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2013 nhưng tác động thực tế của nó đối với các hoạt động tôn giáo, đăng ký và công nhận sẽ do các thông tư và văn bản hướng dẫn của chính phủ quyết định, những văn bản này vào cuối năm 2012 vẫn đang trong quá trình soạn thảo.
Bộ luật Hình sự đã quy định các hình phạt cho các tội danh được định nghĩa mơ hồ như “cố tình phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” bằng cách “gây chia rẽ giữa những người theo đạo và không theo đạo”. Chính phủ tiếp tục hạn chế các hoạt động của các nhóm tôn giáo chưa đăng ký và các cá nhân bị coi là mối đe dọa đối với quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo năm 2004 và Nghị định hướng dẫn thi hành (Nghị định 92) bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/1/2013 là những văn bản pháp luật cơ bản điều chỉnh hoạt động tôn giáo. Cả hai văn bản này đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của người dân, nhưng cảnh báo rằng hành vi “lợi dụng” tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng nhằm mục đích “phá hoại hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước” là phạm pháp, và sẽ đình chỉ các hoạt động tôn giáo nếu “gây ảnh hưởng tiêu cực đến các truyền thống văn hóa của dân tộc”.
Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết Nghị định 92 là phương tiện bổ sung thêm những cải thiện mang tính hành chính đối với Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo năm 2004. Theo đó, thời gian phản hồi của chính quyền đối với các hồ sơ xin đăng ký và công nhận cấp địa phương và cấp quốc gia được rút ngắn xuống còn một nửa, đơn giản hóa các luật và quy định, và đề cập đến tất cả các hình thức thực hành tôn giáo. Tuy nhiên, các nhà phê bình Nghị định mới này nói rằng Nghị định này đưa ra thêm biện pháp hạn chế về thực hành tôn giáo. Họ cho biết, mặc dù thời gian phản hồi các yêu cầu được rút ngắn hơn nhưng không có các hình phạt nào đối với những sự phản hồi muộn hoặc tùy tiện, và rằng các điều khoản mới trong Nghị định 92 này làm tăng yêu cầu về số lượng phê duyệt, nghĩa là có sự tham gia nhiều hơn của chính quyền ở cấp địa phương và cấp trung ương trong các hoạt động tôn giáo. Họ chỉ ra các yêu cầu bổ sung quy định đối với người nước ngoài khi tham gia đào tạo tôn giáo, phong chức, và lãnh đạo, đưa ra các hướng dẫn về quản lý và chương trình đối với các tổ chức đào tạo tôn giáo; và kéo dài thời hạn để được công nhận. Một số thánh thất tại gia của đạo Tin Lành cho biết các nhà chức trách địa phương đã viện đến Nghị định trên để sách nhiễu các tín đồ và gây sức ép cho các nhóm tôn giáo phải ngừng các hoạt động tôn giáo của mình.
Theo Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo, Chính phủ có quyền kiểm soát và giám sát các tổ chức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo phải được chính thức công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động. Pháp lệnh cũng quy định rằng cơ quan chính quyền “phù hợp” ở cấp thấp hơn phê duyệt các chức sắc tôn giáo, hoạt động và việc thành lập các chủng viện hoặc lớp học tôn giáo. Việc bổ nhiệm linh mục hoặc các chức sắc tôn giáo khác cũng phải được chính quyền phê duyệt khi có liên quan đến các tổ chức tôn giáo nước ngoài cấp cao, chẳng hạn như Tòa thánh Va-ti-căng. Pháp lệnh nghiêm cấm ép buộc cải đạo, bằng việc quy định rằng “các hành động ép buộc công dân phải theo đạo hoặc cải đạo… là không được phép”. Pháp lệnh quy định các tổ chức tôn giáo chỉ cần thông báo cho các cấp chính quyền phù hợp về các hoạt động thường niên hay việc phong chức, thuyên chuyển linh mục mà không cần phải có được sự chấp thuận chính thức của chính quyền địa phương như trước đây; mặc dù một số cán bộ địa phương vẫn đưa ra yêu cầu phải xin phép. Bên cạnh đó, Pháp lệnh cũng khuyến khích các nhóm tôn giáo tổ chức các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, hai lĩnh vực mà trước đây vốn bị hạn chế nhưng giờ đây đã được phê duyệt nhanh chóng từ các cấp chính quyền.
Nghị định số 92 quy định một quy trình nhiều bước để được công nhận ở cấp quốc gia. Để được hoạt động công khai, tổ chức tôn giáo chưa được công nhận trước tiên phải đăng ký nơi thờ tự, các giáo sĩ và các hoạt động của mình tại từng khu vực hành chính địa phương nơi họ hoạt động bằng cách gửi thông tin về cơ cấu, lãnh đạo và các hoạt động của mình. Việc đăng ký ở cấp địa phương cho phép nhóm tôn giáo hoạt động tại đơn vị hành chính địa phương. Bước tiếp theo là đăng ký ở cấp quốc gia, trong đó quy định một tổ chức tôn giáo phải có 23 năm hoạt động tôn giáo ổn định tại Việt Nam (trước đây là 20 năm). Một số chức sắc tôn giáo nhận xét rằng các quan chức chính phủ chỉ bắt đầu tính thời gian từ khi nhà thờ được đăng ký lần đầu tiên tại cấp địa phương, khiến cho việc đăng ký ở cấp quốc gia trong tương lai gần hầu như không thể thực hiện được. Việc đăng ký ở cấp độ quốc gia cũng yêu cầu phải có giấy phép của Ban Tôn giáo Chính phủ. Ba năm sau khi đăng ký ở cấp quốc gia, nhóm tôn giáo đủ điều kiện có thể đệ đơn xin được công nhận đầy đủ về mặt pháp lý sau khi tổ chức hội nghị toàn quốc để bầu ra ban lãnh đạo. Nhóm tôn giáo đó phải được chính phủ phê duyệt về ban lãnh đạo, cơ cấu và các hoạt động. Khi được công nhận đầy đủ, nhóm tôn giáo đó được phép mở, vận hành và trùng tu các địa điểm thờ tự, đào tạo các chức sắc tôn giáo và xuất bản các tài liệu, mặc dù vẫn cần phải có sự chấp thuận của chính quyền địa phương và trung ương đối với một số hoạt động cụ thể.
Đối với mỗi bước trong quy trình xin đăng ký và công nhận, chính phủ quy định thời hạn phản hồi chính thức (tối đa là 45 ngày, tùy theo phạm vi của đề nghị), và trong trường hợp bác đơn, văn bản phúc đáp cần nêu rõ lý do. Luật không quy định cụ thể các lý do mà nhà cầm quyền có thể viện ra để bác đơn, và do đó chính quyền trung ương và địa phương có nhiều quyền tự quyết trong vấn đề này. Các cán bộ của chính phủ hiếm khi tuân thủ các quy định về thời gian phản hồi nói trên và thường không đưa ra lý do bác đơn cụ thể. Pháp lệnh không quy định cơ chế cụ thể về khiếu nại, cũng như lý do từ chối.
Nghị định 92 và Luật Đất đai quy định các tổ chức tôn giáo không được mua đất với tư cách pháp nhân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải cấp đất và chấp thuận việc xây dựng các cơ sở tôn giáo mới. Thường thì một thành viên trong giáo đoàn sẽ mua đất rồi chuyển nhượng cho tỉnh, đất sau đó được cấp cho giáo hội. Giáo hội cũng cần thông báo cho chính quyền về việc trùng tu hay nâng cấp các cơ sở tôn giáo, tuy nhiên, tùy theo mức độ trùng tu mà có thể không phải xin phép. Nghị định quy định rằng chính quyền phải phúc đáp đơn xin giấy phép xây dựng trong vòng 20 ngày, mặc dù luật không quy định rõ trách nhiệm của chính quyền trong việc tuân thủ thời hạn nêu trên.
Ban Tôn giáo Chính phủ cấp quốc gia có trách nhiệm phổ biến thông tin về khung pháp lý tôn giáo cho các chính quyền ở tỉnh, huyện, xã, thôn và đảm bảo khung pháp lý được áp dụng đồng bộ.
Chính phủ công nhận 37 tổ chức tôn giáo thuộc 11 tôn giáo đã được công nhận. 11 tôn giáo đó là: Phật giáo, Hồi giáo, đạo Baha’i, Thiên chúa giáo, đạo Tin Lành, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật đường Nam tông Minh Sư Đạo và Minh Lý Đạo Tam tông miếu. Từng giáo đoàn thuộc các nhóm tôn giáo đã được công nhận này cũng phải đăng ký. Một số chi phái của đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo không tham gia vào các tổ chức tôn giáo đã được Chính phủ công nhận hoặc cấp đăng ký.
Luật pháp quy định tất cả các hoạt động xuất bản các ấn phẩm tôn giáo đều phải thông qua Nhà xuất bản Tôn giáo hoặc các nhà xuất bản khác được Chính phủ cho phép, sau khi đã được chính phủ phê duyệt nội dung. Tuy nhiên, các nhà xuất bản khác có thể in ấn và phân phối các tài liệu liên quan đến tôn giáo và các cửa hàng sách cũng được tự do bày bán các ấn phẩm tôn giáo. Kinh Thánh được xuất bản bằng tiếng Việt và các ngôn ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Ê-đê, Jarai, Banar, M’nông và tiếng Anh. Chính phủ vẫn chưa phê duyệt việc xuất bản Kinh thánh bằng tiếng H’mông hiện đại, mà chỉ bằng tiếng H’mông truyền thống được sử dụng ít rộng rãi hơn.
Chính phủ không cho phép giảng dạy tôn giáo tại các trường công, nhưng lại cho phép giới tăng lữ giảng dạy tại các trường đại học các môn học mà họ có đủ trình độ chuyên môn. Các nhóm Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Baha’i và Phật giáo được phép giảng dạy tôn giáo cho các tín đồ tại cơ sở tôn giáo của mình. Các nhóm tôn giáo không được phép mở và vận hành các trường tư ngoại trừ các trường mẫu giáo, mầm non và nhà trẻ. Thần học không được giảng dạy chính thức ở trường công.
Việc công dân có theo tôn giáo nào hay không sẽ được ghi trên chứng minh thư nhân dân và sổ hộ khẩu gia đình. Trên thực tế, nhiều người nhận mình là theo đạo nhưng lại không ghi tôn giáo trên chứng minh thư, và do vậy, các thống kê tôn giáo của Chính phủ coi họ là những người không theo đạo. Dù quy định cho phép một người có thể thay đổi thông tin trong mục tôn giáo trên chứng minh thư, nhưng hầu hết những người cải đạo thấy rằng các thủ tục thay đổi thường rất phức tạp và thường không thể thực hiện được.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam được công nhận chính thức được thành lập trên cơ sở sáp nhập các tổ chức Phật giáo Đại thừa, Nam Tông và Tiểu thừa lại với nhau. Giáo hội Phật giáo Việt Nam nằm trong các tổ chức đoàn thể xã hội, Mặt trận Tổ quốc, và được coi là “cánh tay nối dài” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tất cả các nhóm Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam đều có đại diện theo tỷ lệ trong hàng ngũ lãnh đạo và các cấp bậc khác trong tổ chức. Trên thực tế, các vị sư sãi dòng Nam Tông thường họp riêng để đề cập đến các vấn đề như giáo lý, giáo dục và các nhu cầu khác của giáo phái để đưa lên Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Những tín đồ thuộc các nhóm tôn giáo không chính thức không được công khai phát ngôn về tín ngưỡng của mình, nhưng trên thực tế một số tín đồ vẫn tổ chức đào tạo tôn giáo và hành đạo mà không bị sách nhiễu. Tín đồ thuộc các nhóm tôn giáo chưa được cấp đăng ký hoạt động trên cả nước có thể công khai tín ngưỡng của mình và thuyết phục người khác theo tôn giáo của họ nhưng chỉ ở những địa điểm thờ tự đã đăng ký ở địa phương.
Động thái thực tế của Chính phủ
Có thông tin cho biết các cá nhân và thành viên giáo đoàn bị đánh đập, tạm giữ, bắt giữ, bỏ tù, theo dõi và sách nhiễu.
Nhà chức trách đã không cho phép các cá nhân bị tạm giam và tù nhân theo tôn giáo được cầu nguyện, và về nguyên tắc, tù nhân không có quyền được hành đạo hoặc thực hiện các nghi lễ tôn giáo trong các khu vực chung của nhà tù. Tuy nhiên, có các báo cáo được xác nhận về một số tù nhân được phép đọc Kinh thánh và thực hành tôn giáo trong thời gian bị tù. Điển hình là cha Thaddeus Nguyễn Văn Lý, bị bỏ tù vì các hoạt động chính trị của mình, đã có thể tổ chức lễ Mét và ban thánh thể cho các tù nhân khác.
Quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng quy định trong hiến pháp vẫn được hiểu và bảo vệ một cách không đồng bộ. Các động thái thực tế của Chính phủ và các trở ngại từ bộ máy công quyền đã hạn chế quyền tự do tôn giáo. Các nhóm tôn giáo không đăng ký và chưa được công nhận thường xuyên phải đối mặt với các hành động sách nhiễu, cưỡng chế và trừng phạt của chính quyền. Ở một số nơi, chính quyền địa phương ngầm chấp nhận và không can thiệp vào hoạt động của các nhóm không đăng ký. Ở một số địa phương khác, các hoạt động tương tự lại bị chính quyền địa phương hạn chế. Một số nhóm chưa đăng ký đã tiến đến việc đăng ký và được công nhận trên cả nước, nhưng một số nhóm khác lại lựa chọn không đăng ký, vì họ nói rằng việc đăng ký có thể dẫn đến việc chính phủ gây ảnh hưởng hoặc kiểm soát không phù hợp đối với các hoạt động tôn giáo của họ.
Ngày 25 tháng 6, những thành viên của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy chưa được công nhận đã tuyên bố rằng cảnh sát đã cấm các tín đồ của tu sỹ Võ Văn Thanh Liêm không được tiến hành thờ phụng tại chùa của ông ở tỉnh An Giang. Theo những thông tin này, cảnh sát đã đánh đập, ném ghế và phun nước cống bẩn vào những người đi lễ trong khi họ đang cố gắng tham dự lễ kỷ niệm 74 năm thành lập đạo Hòa Hảo.
Vào ngày 31 tháng 7, một nhóm tín đồ Công giáo đã nói rằng cảnh sát đã đánh đập họ và đuổi họ rời khỏi một khu vực trước cửa một nhà thờ ở thành phố Hồ Chí Minh trong khi họ đang cầu nguyện. Nhóm tín đồ này đã đi từ các tỉnh thành phía Nam khác đến thành phố để cầu nguyện sau khi đất đai tài sản của họ bị chính quyền địa phương tịch thu. Được biết một số tín đồ đã phải vào viện cấp cứu vì bị đánh đập trong biến cố kể trên.
Các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở cấp trung ương và địa phương tiếp tục kêu gọi người dân tộc H’mông ở các tỉnh miền núi phía bắc, gồm có Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Cạn, và Thái Nguyên, từ bỏ nhóm tôn giáo Dương Văn Minh (nhóm tuy nhỏ nhưng đang lớn mạnh dần), và dỡ bỏ các “nhà đòn”, một ngôi nhà chung dành để tổ chức các tang lễ và các nghi lễ khác. Các cơ quan chính quyền trung ương đã ra chỉ thị cho chính quyền địa phương phải cưỡng chế và chấm dứt tổ chức Dương Văn Minh. Các cơ quan chính quyền địa phương đã thành lập các ban chỉ đạo để thực hiện chỉ thị trên. Các phương tiện truyền thông của nhà nước nói rằng nhà chức trách đã thuyết phục người dân địa phương dỡ bỏ các “nhà đòn”, trong khi dó một số trang blogs và trang tin tức trên mạng lại cho biết rằng chính quyền địa phương đã cho công an đến cưỡng chế phá dỡ một “nhà đòn”, và còn dọa nạt và đánh đập các tín đồ. Vào tháng 10, nhiều người dân tộc H’mông đã biểu tình trước nơi làm việc của Thủ tướng, và các lực lượng thực thi pháp luật đã tạm thời giải tán họ và tạm giam một số người biểu tình.
Các cá nhân và hội thánh có liên hệ với Mục sư Nguyễn Công Chính, trong đó có Hiệp hội Thông công Tin Lành các Dân tộc Việt Nam và Hội thánh Tin Lành Lutheran của Mỹ và Việt Nam cho biết rằng công an đã vài lần ngăn cản họ tổ chức hành đạo. Chính quyền cho rằng Mục sư Chính đã lợi dụng vị trí của mình để tiến hành các hoạt động chính trị. Ngày 28/4/2011, Mục sư Chính đã bị công an bắt giữ do đã chia sẻ quan điểm với các hãng truyền thông nước ngoài về các vấn đề tôn giáo, chính trị và chỉ trích chính quyền và chủ nghĩa cộng sản. Tháng 7 năm 2012, tòa phúc thẩm đã y án ông Chính 11 năm tù giam, như đã tuyên vào tháng 3 năm 2012. Vợ của ông là bà Trần Thị Hồng và các người thân trong gia đình ông tiếp tục bị công an sách nhiễu sau khi ông đã bị bắt giam và bị kết tội. Sau khi bắt giữ ông Chính, công an tiếp tục theo dõi bà Hồng và các thành viên gia đình ông. Vào ngày 12 tháng 4, bà Hồng nói rằng công an đã chặn đường bà khi bà đang trên đường đi thăm chồng trong trại giam, và sau đó đã đánh bà và khám đồ của bà. Bà cũng cho biết công an đã nhốt bà và các con trong nhà vào ngày 25 tháng 9.
Nhà cầm quyền tỉnh An Giang và Đồng Tháp và thành phố Cần Thơ đã tiếp tục sách nhiễu và quấy rầy các tín đồ của thánh hội Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống và Hòa Hảo Thuần túy chưa được đăng ký. Vào tháng 9, tòa án đã xử và kết án tín đồ Bùi Văn Thẩm 2 năm 6 tháng tù giam vì tội công khai chỉ trích chính phủ và tổ chức các cuộc tụ họp tôn giáo không đăng ký. Công an đã bắt giữ Thẩm mà không có lệnh bắt vào tháng 7. Tháng 10 năm 2012, công an đã bắt cha anh là tín đồ Bùi Văn Trung với cùng một tội danh, và tòa đã kết án ông Trung 4 năm tù giam vào tháng 1.
Vào ngày 20 tháng 5, công an đã bắt giữ hai tu sĩ Phật giáo Khmer Krom tên là Thạch Thoul và Liêu Ny của ngôi chùa dòng Nam Tông tại tỉnh Sóc Trăng, cùng với các nhà sư Thach Phum và Thach Tha, khi họ đang định qua biên giới sang Campuchia. Cả bốn vị sư này đã chỉ trích cách đối xử của chính quyền Việt Nam đối với sư Lý Chanh Đa. Vào ngày 27 tháng 9, tòa đã kết án sư Thạch Thuôl 6 năm tù, và sư Liêu Ny 4 năm tù giam vì tội “chạy trốn ra nước ngoài và chống đối chính quyền nhân dân”..
Tháng 5 năm 2010, có các báo cáo về việc đánh đập và đe dọa các cá nhân bị giam giữ sau khi họ phản đối việc đóng cửa nghĩa trang tại giáo xứ Cồn Dầu. Mặc dù không có báo cáo nào về việc giam giữ hay đối xử thô bạo nào đối với giáo dân Cồn Dầu trong ba năm qua kể từ năm 2010, nhưng trong năm qua đã có những báo cáo về việc cưỡng ép và đe dọa các gia đình tại Cồn Dầu do từ chối di dời khỏi giáo xứ theo một dự án tái định cư mới. Các quan chức chính phủ của thành phố Đà Nẵng ước tính có gần 30 gia đình phản đối di dời, trong khi các nguồn khác lại trích dẫn con số là 100 gia đình.
Ngày 28 tháng 5, tòa án tỉnh Gia Lai đã xử 8 bị cáo là tín đồ của nhóm Cơ đốc giáo Hạ Môn mà nhà nước đã qui kết là “tà giáo” vì tội “phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”. Tòa án tỉnh đã kết án các bị cáo từ 3 đến 11 năm tù giam. Theo lời buộc tội, một trong các bị cáo đã nói rằng năm 2002 Đức Mẹ Đồng trinh Mary đã xuất hiện ở Hạ Môn, một ngôi làng ở Tây Nguyên nơi chính phủ định xây một nhà máy thủy điện. Đức Mẹ đã kêu gọi người dân địa phương nhóm họp lại và cầu nguyện tại Hạ Môn để ngăn chặn ý định của tỉnh Kon Tum trong việc di dời người dân, và để lấy lại khu đất từ dự án thủy điện.
Vào ngày 15 tháng 4, các tín đồ Phật giáo cho biết nhà cầm quyền địa phương tỉnh Bình Phước đã đập phá các pho tượng Phật ở một khu thánh tích. Một vị chức sắc của Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Phước đã ra lệnh bỏ biểu trưng của đạo Phật tại nơi này vì chính phủ đã phân loại ngọn núi này là khu di tích văn hóa và du lịch sinh thái cấp quốc gia.
Cảnh sát mặc thường phục đã thường xuyên ngăn cản các hoạt động tôn giáo Pháp Luân Đại Pháp tại các công viên của Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào ngày 3 tháng 7, các tín đồ đạo Cao Đài cho biết cảnh sát mặc thường phục đã càn quét một ngôi miếu của đạo Cao Đài ở tỉnh Tiền Giang, tấn công các tín đồ, và tạm giam một số tín đồ của giáo đoàn. Các tín đồ cũng nói rằng cảnh sát đã ra lệnh cho họ phải chuyển giao quyền kiểm soát ngôi miếu cho Ban Trị sự Cao Đài của nhà nước.
Năm 2012, Thượng tọa Thích Không Tánh đã tổ chức tụ họp tại Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chưa được công nhận tại chùa Liên Trì ở Thành phố Hồ Chí Minh. Các tín đồ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất cho biết các lực lượng an ninh đã bao vây chùa và ngăn cản một số chức sắc tôn giáo, các tù nhân lương tâm và thương phế binh của Cộng hòa Việt Nam cũ tham gia các buổi lễ tại đó. Ông Tánh cho biết cảnh sát đã phong tỏa và bắt giữ một số người, ngăn cản họ tham gia tụ họp tại chùa Liên Trì. Năm 2013, chùa này đã có thể tổ chức một sự kiện từ thiện mà không bị ngăn cản, nhưng vẫn bị cảnh sát giám sát.
Ngày 2 tháng 7, công an cửa khẩu hàng không Hà Nội đã chặn Nguyễn Hoàng Đức, một nhà phê bình văn học Công giáo, không cho ông được đi dự buổi lễ tấn phong chân phước tại Rome cho cố Hồng y Francois-Xavier Văn Thuận. Năm 2012, giới truyền thông quốc tế đã đưa tin rằng Việt Nam đã thu hồi visa của một đoàn đại biểu Vatican đã lên kế hoạch trò chuyện với những người đã từng biết về đức Hồng y. Eglises d’Asie (Giáo hội Á Châu), cơ quan thông tin của Hội Thừa sai Paris đã trích dẫn các nguồn tin cho biết kế hoạch tấn phong chân phước đã làm Hà Nội nổi giận. Ông Thuận là cháu trai của Ngô Đình Diệm, tổng thống chống cộng đầu tiên của Miền Nam Việt Nam. Ông Thuận đã buộc phải tha hương sang Roma sau khi được trả tự do từ một trại tập trung của Việt Nam vào năm 1989.