Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2012
Part 1
← Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2011
Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2012  (2013)  của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam dịch Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2013 →
- thông tin về bản này . 
Báo cáo được công bố ngày 21 tháng 5 năm 2013.
của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 17114 Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2012 2013 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam
Việt Nam
Tổng quan
Hiến pháp và các bộ luật, chính sách khác của Việt Nam có quy định về quyền tự do tôn giáo, nhưng trên thực tế, Chính phủ đã quản lý, thậm chí trong một số trường hợp còn thực hiện các biện pháp hạn chế tự do tôn giáo. Chính phủ nhìn chung tôn trọng quyền tự do tôn giáo của hầu hết các nhóm tôn giáo đã đăng ký và một số nhóm tôn giáo chưa đăng ký, tuy nhiên, vẫn có một số nhóm tôn giáo đã đăng ký và chưa đăng ký cho biết họ vẫn bị sách nhiễu. Trong năm qua, sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo của Chính phủ không thay đổi nhiều. Vẫn tiếp tục có các thông tin về vi phạm tự do tôn giáo, trong đó có các vụ bắt giữ, tạm giam và kết án. Các vấn đề tiêu cực vẫn còn tồn tại, đặc biệt ở cấp tỉnh và cấp xã, như việc chậm trễ hoặc từ chối cấp phép đăng ký cho một số nhóm tôn giáo. Một số nhóm Công giáo cũng cho biết họ bị sách nhiễu hay gặp một số trở ngại về hành chính khi đang chuẩn bị tổ chức lễ Giáng sinh. Tuy vậy, chính quyền cũng đã cho thấy những dấu hiệu cải thiện, như cấp phép đăng ký cho các giáo đoàn mới, cho phép mở rộng các hoạt động từ thiện và cho phép tổ chức các buổi lễ tôn giáo quy mô lớn với trên 100.000 người tham dự
Vẫn có thông tin về những vụ gây khó khăn, phiền hà của xã hội hoặc phân biệt đối xử xuất phát từ nguyên nhân tôn giáo, tín ngưỡng hoặc hành đạo.
Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn duy trì các cuộc đối thoại thường xuyên với các quan chức cấp cao cũng như các cán bộ chuyên trách của Chính phủ nhằm thúc đẩy hơn nữa tự do tôn giáo. Các quan chức Hoa Kỳ cũng đã gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo, kể cả những nhà hoạt động tôn giáo nằm trong danh sách theo dõi của Chính phủ. Ngoại trưởng Hoa Kỳ, đại sứ phụ trách vấn đề tôn giáo quốc tế và các quan chức cấp cao khác của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã bày tỏ quan ngại về tự do tôn giáo với các quan chức của Chính phủ Việt Nam và kêu gọi Việt Nam cải thiện hơn nữa tự do tôn giáo.
Phần I. Các nhóm tôn giáo và số lượng người theo đạo
Theo số liệu năm 2011 của Tổng cục Thống kê, dân số của Việt Nam hiện khoảng 87,8 triệu người. Ít nhất, hơn một nửa dân số Việt Nam trên danh nghĩa theo đạo Phật, trong đó có 10% dân số theo Phật giáo Đại thừa (hầu hết các Phật tử này là người Kinh, hay còn gọi là người Việt, dân tộc chiếm đa số tại Việt Nam) và 1,2% dân số theo dòng Nam Tông (có xấp xỉ một triệu Phật tử là người dân tộc Khmer tại khu vực miền Nam). Có 7% dân số là tín đồ của Giáo hội Công giáo Rô-ma. Công giáo đang ngày càng phát triển tại Việt Nam với trên 6 triệu tín đồ tại 26 giáo phận trên cả nước. Có khoảng 2,5-4% dân số theo Đạo Cao Đài, một tôn giáo dung hợp các yếu tố của nhiều tôn giáo khác nhau. Các tín đồ đạo Hòa Hảo chiếm 1,5-3% dân số. Còn số lượng tín đồ của đạo Tin Lành được ước tính vào khoảng 1-2% dân số. Một số hệ phái của đạo Tin Lành đã được chính thức công nhận; một số hệ phái đã được cấp đăng ký tại địa phương nhưng chưa được công nhận ở cấp độ quốc gia. Có khoảng 70.000 – 80.000 tín đồ Hồi giáo, chiếm chưa đến 0,1% dân số. Ước tính có khoảng 40% tín đồ Hồi giáo theo dòng Sunni và 60% còn lại theo dòng Bani.
Các cộng đồng tôn giáo nhỏ hơn gộp lại chiếm chưa đến 0,1% dân số, trong đó có 50.000 người dân tộc Chăm chủ yếu theo một dòng đạo Hin-đu riêng biệt ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Cả nước có khoảng 8.000 người theo đạo Baha’i, và xấp xỉ 1.000 người là tín đồ thuộc Giáo hội các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (hay còn gọi là giáo phái Mormons). Thành phố Hồ Chí Minh có một nhà thờ Do Thái, phục vụ khoảng 150 tín đồ Do Thái, chủ yếu là những người nước ngoài định cư tại thành phố.
Các công dân còn lại đều tự nhận mình là phi tôn giáo hoặc theo các tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng ông bà tổ tiên, các vị thánh bảo hộ, các anh hùng dân tộc và những người được kính trọng trong nước. Những người theo các hình thức thờ cúng truyền thống này có thể nhận hoặc không nhận là mình theo đạo.
Các dân tộc thiểu số chiếm xấp xỉ 14% dân số. Theo ước tính của các tín đồ, có khoảng 2/3 tín đồ đạo Tin Lành là người dân tộc thiểu số, bao gồm các nhóm thiểu số ở khu vực Tây Bắc (H’mông, Dao, Thái và các dân tộc khác) và Tây Nguyên (Ê-đê, Jarai, Sê-đăng, M’nông và các dân tộc khác). Người dân tộc Khmer Krom thì chủ yếu theo dòng Phật giáo Nam Tông.
Phần II. Tình hình liên quan đến tôn trọng quyền tự do tôn giáo của Chính phủ
Khung pháp lý/chính sách
Hiến pháp và các bộ luật, chính sách khác của Việt Nam đều có quy định về quyền tự do tôn giáo. Hiến pháp, Bộ luật Hình sự và Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 2003 về tôn giáo đều quy định quyền tự do theo hoặc không theo tôn giáo và thờ phụng; nhưng trên thực tế, vẫn có những biện pháp hạn chế được quy định trong chính sách. Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo năm 2004 và Nghị định hướng dẫn thi hành (Nghị định 22) năm 2005 là những văn bản pháp luật cơ bản điều chỉnh hoạt động tôn giáo. Cả hai văn bản này đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của người dân, nhưng cảnh báo rằng hành vi “lợi dụng” tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng nhằm mục đích “phá hoại hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước” là phạm pháp, và sẽ đình chỉ các hoạt động tôn giáo nếu “gây ảnh hưởng tiêu cực đến các truyền thống văn hóa của dân tộc”. Tháng 11, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2012 thay thế Nghị định 22/ 2005 có hiệu lực từ ngày 1/1/2013.
Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết Nghị định 92 là phương tiện bổ sung thêm những cải thiện mang tính hành chính đối với Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo năm 2004 và Nghị định 22. Theo đó, thời gian phản hồi của chính quyền đối với các hồ sơ xin đăng ký và công nhận cấp địa phương và cấp quốc gia được rút ngắn xuống còn một nửa. Thêm vào đó, Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết Nghị định 92 hiện quy nạp về một mối các quy định và luật trước đây vốn được quy định trong các văn bản pháp lý khác nhau và bao gồm tất cả các hình thức thực hành tôn giáo. Tuy nhiên, các nhà phê bình quan ngại rằng Nghị định mới này đưa ra thêm biện pháp hạn chế về thực hành tôn giáo. Họ cho biết, mặc dù thời gian phản hồi các yêu cầu được rút ngắn hơn nhưng không có các hình phạt nào đối với những sự phản hồi muộn hoặc tùy tiện, và rằng các điều khoản mới trong Nghị định 92 này làm tăng yêu cầu về số lượng phê duyệt, nghĩa là có sự tham gia nhiều hơn của chính quyền ở cấp địa phương và cấp trung ương trong các hoạt động tôn giáo. Họ chỉ ra các yêu cầu bổ sung quy định đối với người nước ngoài khi tham gia đào tạo tôn giáo, phong chức, và lãnh đạo, đưa ra các hướng dẫn về quản lý và chương trình đối với các tổ chức đào tạo tôn giáo và kéo dài thời hạn để được công nhận.
Mặc dù Chính phủ công bố Nghị định 92 sẽ có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2013 nhưng tác động thực tế của nó đối với các hoạt động tôn giáo, đăng ký và công nhận sẽ do các thông tư và văn bản hướng dẫn của chính phủ quyết định, những văn bản này vào cuối năm 2012 vẫn đang trong quá trình soạn thảo.
Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 1997 đã quy định các hình phạt cho các tội danh được định nghĩa mơ hồ như “cố tình phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” bằng cách “gây chia rẽ giữa những người theo đạo và không theo đạo”. Chính phủ tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo độc lập và các cá nhân bị coi là mối đe dọa đối với quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Theo Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo (2004), Chính phủ có quyền kiểm soát và giám sát các tổ chức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo phải được chính thức công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động và phải được cơ quan chính quyền “phù hợp” ở cấp thấp hơn phê duyệt các chức sắc, hoạt động và việc thành lập các chủng viện hoặc lớp học tôn giáo. Việc bổ nhiệm linh mục hoặc các chức sắc tôn giáo khác cũng phải được chính quyền phê duyệt khi có liên quan đến các tổ chức tôn giáo nước ngoài cấp cao, chẳng hạn như Tòa thánh Va-ti-căng. Pháp lệnh nghiêm cấm ép buộc cải đạo. Pháp lệnh quy định các tổ chức tôn giáo chỉ cần thông báo cho các cấp chính quyền phù hợp về các hoạt động thường niên hay việc phong chức, thuyên chuyển linh mục mà không cần phải có được sự chấp thuận chính thức của chính quyền địa phương như trước đây; mặc dù một số cán bộ địa phương vẫn đưa ra yêu cầu phải xin phép. Pháp lệnh cũng khuyến khích các nhóm tôn giáo tổ chức các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, hai lĩnh vực mà trước đây vốn bị hạn chế.
Nghị định số 22, ban hành năm 2005, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo 2004. Nghị định quy định một quy trình nhiều bước để được công nhận ở cấp quốc gia (sự phê duyệt của chính phủ về thực hành tôn giáo của nhóm tôn giáo). Để được hoạt động công khai, tổ chức tôn giáo chưa được công nhận trước tiên phải đăng ký nơi thờ tự, các giáo sĩ và các hoạt động của mình tại từng khu vực hành chính địa phương nơi họ hoạt động bằng cách gửi thông tin về cơ cấu, lãnh đạo và các hoạt động của mình đến các cấp chính quyền địa phương có liên quan. Việc đăng ký ở cấp địa phương cho phép nhóm tôn giáo hoạt động tại đơn vị hành chính địa phương. Bước tiếp theo là đăng ký ở cấp quốc gia, trong đó quy định một tổ chức tôn giáo phải có 20 năm hoạt động tôn giáo ổn định tại Việt Nam (các hoạt động trong quá khứ tại Việt Nam cũng được tính để đạt được mức yêu cầu này). Việc đăng ký ở cấp độ quốc gia cũng yêu cầu phải có giấy phép của Ban Tôn giáo Chính phủ. Một năm sau khi đăng ký ở cấp quốc gia, nhóm tôn giáo đủ điều kiện có thể đệ đơn xin được công nhận đầy đủ về mặt pháp lý sau khi tổ chức hội nghị toàn quốc để bầu ra ban lãnh đạo. Nhóm tôn giáo đó phải được chính phủ phê duyệt về ban lãnh đạo, cơ cấu và các hoạt động. Khi được công nhận đầy đủ, nhóm tôn giáo đó được phép mở, vận hành và trùng tu các địa điểm thờ tự, đào tạo các chức sắc tôn giáo và xuất bản tài liệu.
Đối với mỗi bước trong quy trình xin đăng ký và công nhận, chính phủ quy định thời hạn phản hồi chính thức (30, 45, 60 hoặc 90 ngày, tùy theo phạm vi của đề nghị), và trong trường hợp bác đơn, văn bản phúc đáp cần nêu rõ lý do. Tuy nhiên, các cán bộ của chính phủ hiếm khi tuân thủ các quy định về thời gian phản hồi này và thường không đưa ra lý do bác đơn cụ thể. Pháp lệnh không quy định cơ chế cụ thể về việc xem xét lại, cũng như lý do từ chối.
Nghị định 22 cũng quy định “nghiêm cấm việc ép buộc công dân theo đạo hoặc bỏ đạo”. Chỉ thị về một số công tác đối với đạo Tin Lành của Thủ tướng Chính phủ (ban hành năm 2005) cũng có nội dung hàm ý tương tự. Mặc dù các quan chức Chính phủ từ lâu luôn khẳng định rằng việc ép buộc theo đạo hoặc cải đạo là bất hợp pháp, song đây là hai văn bản pháp luật đầu tiên có quy định rõ ràng về nội dung này.
Nghị định 22 và Luật Đất đai quy định các tổ chức tôn giáo không được mua đất với tư cách pháp nhân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải cấp đất và chấp thuận việc xây dựng các cơ sở tôn giáo mới. Thường thì một thành viên trong giáo đoàn sẽ mua đất rồi chuyển nhượng cho tỉnh, sau đó đất được cấp cho giáo hội. Giáo hội cũng cần thông báo cho chính quyền về việc trùng tu hay nâng cấp các cơ sở tôn giáo, tuy nhiên, tùy theo mức độ trùng tu mà có thể không phải xin phép. Nghị định 22 quy định rằng chính quyền phải phúc đáp đơn xin giấy phép xây dựng trong vòng 20 ngày.
Ban Tôn giáo Chính phủ cấp quốc gia có trách nhiệm phổ biến thông tin về khung pháp lý tôn giáo cho các chính quyền ở tỉnh, huyện, xã, thôn và đảm bảo khung pháp lý được áp dụng đồng bộ.
Chính phủ công nhận 37 tổ chức tôn giáo thuộc 11 tôn giáo đã được công nhận. 11 tôn giáo đó là: Phật giáo, Hồi giáo, đạo Baha’i, Thiên chúa giáo, đạo Tin Lành, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật đường Nam tông Minh Sư Đạo và Minh Lý Đạo Tam tông miếu. Từng giáo đoàn thuộc các nhóm tôn giáo đã được công nhận này cũng phải đăng ký. Một số chi phái của đạo Phật, đạo Tin Lành và đạo Hòa Hảo không tham gia vào các tổ chức tôn giáo đã được Chính phủ công nhận hoặc cấp đăng ký
Chính phủ quy định tất cả các hoạt động xuất bản các ấn phẩm tôn giáo đều phải thông qua Nhà xuất bản Tôn giáo, đơn vị phụ trách các vấn đề tôn giáo trực thuộc Nhà xuất bản Quốc gia, hoặc các nhà xuất bản khác được Chính phủ cho phép. Hoạt động xuất bản chỉ được thực hiện sau khi Chính phủ đã duyệt nội dung ấn phẩm. Tuy nhiên, các nhà xuất bản khác có thể in ấn và phân phối các tài liệu liên quan đến tôn giáo và các cửa hàng sách cũng được tự do bày bán các ấn phẩm tôn giáo. Kinh Thánh được xuất bản bằng tiếng Việt và các ngôn ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Ê-đê, Jarai, Banar, M’nông và tiếng Anh. Chính phủ vẫn chưa phê duyệt việc xuất bản Kinh thánh bằng tiếng H’mông hiện đại.
Chính phủ không cho phép giảng dạy tôn giáo tại các trường công, nhưng lại cho phép giới tăng lữ giảng dạy tại các trường đại học các môn học mà họ có đủ trình độ chuyên môn. Các nhóm Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Baha’i và Phật giáo được phép giảng dạy tôn giáo cho các tín đồ tại cơ sở tôn giáo của mình. Các nhóm tôn giáo không được phép mở và vận hành các trường tư ngoại trừ các trường mẫu giáo, mầm non và nhà trẻ. Thần học không được giảng dạy chính thức ở trường công.
Việc công dân có theo tôn giáo nào hay không sẽ được ghi trên chứng minh thư nhân dân và sổ hộ khẩu gia đình. Mặc dù không có thông tin về việc phân biệt đối xử đối với các cá nhân có ghi rõ tín ngưỡng của mình trên giấy tờ, nhưng trên thực tế, nhiều người nhận mình là theo đạo nhưng lại không ghi tôn giáo trên chứng minh thư, và do vậy, các thống kê tôn giáo của Chính phủ coi họ là những người không theo đạo. Dù có thể thay đổi thông tin trong mục tôn giáo trên chứng minh thư, nhưng hầu hết những người cải đạo thấy rằng các thủ tục thay đổi thường rất phức tạp và thường không thể thực hiện được.
Về nguyên tắc, các tù nhân không được thể hiện đức tin tôn giáo hoặc hành đạo tại khu vực công cộng trong nhà tù. Tuy nhiên, có các thông tin đã được xác thực rằng tù nhân được phép đọc Kinh thánh và hành đạo ở trong buồng giam.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam được công nhận chính thức được thành lập trên cơ sở sáp nhập các tổ chức Phật giáo Đại thừa, Nam Tông và Tiểu thừa lại với nhau. Tất cả các nhóm Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam đều có đại diện theo tỷ lệ tín đồ trong hàng ngũ lãnh đạo và các cấp bậc khác trong tổ chức. Trên thực tế, các vị sư sãi dòng Nam Tông thường họp riêng để quyết định các vấn đề như giáo lý, giáo dục và các nhu cầu khác của giáo phái để đưa lên Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Có một số tổ chức tôn giáo khác biệt và riêng rẽ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được công nhận trong thời gian gần đây và có ảnh hưởng tới các Phật tử. Trong số đó, nhóm Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội là đông đảo nhất, với hơn 1,3 triệu Phật tử.
Những tín đồ thuộc các nhóm tôn giáo không chính thức không được công khai phát ngôn về tín ngưỡng của mình, nhưng trên thực tế một số tín đồ vẫn tổ chức đào tạo tôn giáo và hành đạo mà không bị sách nhiễu. Tín đồ thuộc các nhóm tôn giáo chưa được cấp đăng ký hoạt động trên cả nước có thể công khai tín ngưỡng của mình và thuyết phục người khác theo tôn giáo của họ nhưng chỉ ở những địa điểm thờ tự đã đăng ký ở địa phương. Chính phủ kiểm soát tất cả các hình thức tụ họp nơi công cộng; tuy nhiên, vẫn cho phép tổ chức một số buổi tụ họp tôn giáo lớn.
Chính phủ không ghi nhận bất cứ ngày lễ tôn giáo nào là ngày lễ quốc gia.
Động thái thực tế của Chính phủ
Có thông tin cho biết các vụ vi phạm tự do tôn giáo vẫn xảy ra, nạn nhân bao gồm cả các tù nhân và những người bị giam giữ, các cá nhân và thành viên các chi hội tôn giáo vẫn bị theo dõi và sách nhiễu. Báo cáo về các vụ vi phạm tự do tôn giáo vẫn giữ ở mức độ tương tự như năm ngoái.
Quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng quy định trong hiến pháp vẫn được hiểu và bảo vệ một cách không đồng bộ. Các động thái thực tế của Chính phủ và các trở ngại từ bộ máy công quyền đã hạn chế quyền tự do tôn giáo. Các nhóm tôn giáo không đăng ký và chưa được công nhận có thể phải đối mặt với các hành động sách nhiễu, cưỡng chế và trừng phạt của chính quyền cấp trung ương và địa phương. Ở một số nơi, chính quyền địa phương ngầm chấp nhận và không can thiệp vào hoạt động của các nhóm không đăng ký. Ở một số địa phương khác, các hoạt động tương tự lại bị chính quyền địa phương hạn chế. Một số nhóm chưa đăng ký đang tiến đến việc đăng ký và được công nhận trên cả nước, nhưng một số nhóm khác lại lựa chọn không đăng ký.
Chính quyền các tỉnh An Giang và Đồng Tháp tiếp tục sách nhiễu và gây phiền hà những tín đồ của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống chưa được công nhận. Vào tháng 7, cảnh sát đã bắt giữ Bùi Văn Thâm mà không có lệnh bắt. Vào tháng 9, ông Thắm được đưa ra xét xử và bị kết án hai năm sáu tháng tù vì tội chống người thi hành công vụ. Ngày 30 tháng 10, cha ông, Bùi Văn Trung đã bị bắt giữ với cùng tội danh.
Các cá nhân và hội thánh có liên hệ với Mục sư Nguyễn Công Chính, trong đó có Hiệp hội Thông công Tin Lành các Dân tộc Việt Nam và Hội thánh Tin Lành Lutheran của Mỹ và Việt Nam đã vài lần bị ngăn cản tổ chức hành đạo do Mục sư Chính kịch liệt phản đối chính quyền và chủ nghĩa cộng sản. Chính quyền tiếp tục cho rằng Mục sư Chính đã lợi dụng vị trí của mình để tiến hành các hoạt động chính trị. Ngày 28/4/2011, Mục sư Chính đã bị bắt giữ vì tội “phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc” do đã chia sẻ quan điểm với các hãng truyền thông nước ngoài về các vấn đề tôn giáo, chính trị và chỉ trích chính quyền và chủ nghĩa cộng sản. Tháng 7 năm 2012, tòa phúc thẩm đã y án ông Chính 11 năm tù giam, như đã tuyên vào tháng 3, vì tội phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc và các hoạt động chia rẽ. Vào cuối năm, ông Chính tiếp tục bị giam giữ tại Thành phố Pleiku.
Vào tháng 7, Nhà nước ra lệnh cho tu sĩ Phật giáo Khmer Krom tên là Thạch Thoul phải hoàn tục ra khỏi chùa dòng Nam Tông tại tỉnh Sóc Trăng với các cáo buộc mơ hồ về tội vi phạm các quy định của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được nhà nước công nhận. Thạch Thoul bị kết tội do có quan hệ mật thiết và gửi các báo cáo về vi phạm nhân quyền cho các tổ chức và truyền thông nước ngoài. Cũng có thông tin cho biết ông có mối liên hệ với nhà sư khác tên là Kim Moul, người trước đó đã bị hoàn tục và bị tù giam vì biểu tình đòi tự do tôn giáo năm 2007.
Tháng 5 năm 2010, có các báo cáo về việc đánh đập và đe dọa các cá nhân bị giam giữ sau khi họ phản đối việc đóng cửa nghĩa trang tại giáo xứ Cồn Dầu. Mặc dù không có báo cáo nào về việc giam giữ hay đối xử thô bạo đối với giáo dân Cồn Dầu trong năm 2011 nhưng trong năm qua có những báo cáo về việc cưỡng ép và đe dọa các gia đình tại Cồn Dầu do từ chối di dời khỏi giáo xứ theo một dự án tái định cư mới. Thành phố Đà Nẵng ước tính có gần 30 gia đình chống đối trong khi các nguồn khác lại trích dẫn con số là 100.
Ngày 5 tháng 5, nhiều cảnh sát địa phương cùng với các phóng viên đã đe dọa và hành hung các tín đồ tại thánh thất Cao Đài ở tỉnh Long An. Chính quyền đã cử một người trị sự mới tại thánh thất đó. Các thành viên của thánh thất phản đối vị trị sự mới này. Theo một tín đồ, cảnh sát đã yêu cầu nhiều người di dời, nói rằng thánh thất thuộc về giáo hội đã được nhà nước công nhận và họ phải tuân theo vị trị sự đã được chỉ định.
Vào ngày 6 tháng 8, Thượng tọa Thích Không Tánh đã tổ chức tụ họp tại Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chưa được công nhận tại chùa Liên Trì, Quận 2. Các lực lượng an ninh đã bao vây chùa và ngăn cản một số chức sắc tôn giáo, các tù nhân lương tâm và thương phế binh của Cộng hòa Việt Nam cũ tham gia các buổi lễ tại đó. Ông Tánh cho biết cảnh sát đã phong tỏa và bắt giữ một số người, ngăn cản họ tham gia tụ họp tại chùa Liên Trì.
Tháng 3, giới truyền thông quốc tế cho biết Việt Nam đã thu hồi thị thực đối với phái đoàn Va-ti-căng có ý định tấn phong chân phước cho cố Hồng y Francois-Xavier Văn Thuận. Các chuyên gia của Va-ti-căng đã lên kế hoạch trò chuyện với những người trước đó đã biết hồng y. Eglises d’Asie (Giáo hội Á Châu), cơ quan thông tin của Hội Thừa sai Paris đã trích dẫn các nguồn tin cho biết kế hoạch tấn phong chân phước đã làm Hà Nội, vốn từ lâu có quan hệ căng thẳng với Va-ti-căng, nổi giận. Ông Thuận là cháu trai của Ngô Đình Diệm, tổng thống đầu tiên của Miền Nam Việt Nam. Ông Thuận đã buộc phải tha hương sang Roma sau khi được trả tự do từ một trại tập trung của Việt Nam vào năm 1989. Giáo hoàng John Paul II sau đó đã phong ông Thuận tước hiệu Hồng y.
Tháng 4, Dòng Chúa cứu thế đã đệ trình các tài liệu lên Ủy ban nhân dân thành phố để đăng ký việc phong chức cho bảy linh mục theo Nghị định 22 năm 2005 của Chính phủ. Tháng 6, Ban Tôn giáo Chính phủ Thành phố Hồ Chí Minh đã có phản hồi đối với bộ hồ sơ đó, cho biết các tài liệu đăng ký chưa đáp ứng các yêu cầu và đề nghị bổ sung thêm giấy tờ. Dòng Chúa cứu thế yêu cầu Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho ý kiến về sự can thiệp của Ban Tôn giáo Chính phủ thành phố vì, theo quy định, chỉ có Ủy ban Nhân dân mới có thể đưa ra phản hồi về các tài liệu của giáo hội, chứ không phải là Ban Tôn giáo Chính phủ thành phố.
Tháng 5, Viện chủ chùa Giác Minh tại Thành phố Đà Nẵng cho biết ngôi chùa đã bị cô lập và giám sát trong ba năm qua. Chính quyền đã ngăn cản các Phật tử đến từ các quận huyện và tỉnh thành tham dự lễ Phật Đản. Cảnh sát mặc thường phục đã giải tán các tín đồ, tuyên bố ngôi chùa không tồn tại và tuyên bố Viện chủ ngôi chùa là nhà tu hành giả đang hoạt động bất hợp pháp và nhận tiền từ nước ngoài.
Sau khi bị chặn lại tại cửa khẩu khi đang trên đường sang Cam-pu-chia vào tháng 7 năm 2011, Cha Đinh Hữu Thoại, chánh văn phòng tỉnh Dòng Chúa cứu thế tại Việt Nam, đã phản đối lệnh cấm ông đi lại lên một số cơ quan chính phủ và Tòa án Tỉnh Tây Ninh. Mới đây nhất vào tháng 8, ông Thoại đã nộp đơn khiếu nại. Chính quyền thông báo bằng miệng với ông rằng lệnh cấm đi nước ngoài này kéo dài đến tận năm 2015 mặc dù không có tài liệu chính thức về hiệu lực của lệnh cấm đó.
Trong các năm trước đây, các cán bộ địa phương thuộc các làng xã ở các tỉnh Tây Bắc đã cố gắng thuyết phục các tín đồ theo đạo Tin lành người H’mông cải đạo. Chính quyền địa phương khuyến khích các già làng, trưởng bản thuyết phục họ hàng, con cháu của mình bỏ đạo Thiên chúa và quay trở lại với tín ngưỡng truyền thống. Các giáo dân của Hội thánh làng Phá Khẩu, xã Phình Giàng, tỉnh Điện Biên cho biết các cán bộ xã thường xuyên theo dõi các tín đồ và khuyên họ không nên theo “tôn giáo có tổ chức” mà nên quay về thờ cúng tổ tiên. Các giáo dân của làng Phá Khẩu và các cộng đồng miền núi Tây Bắc khác cho biết mức độ sách nhiễu của chính quyền địa phương đã giảm đáng kể so với năm 2011 nhưng cho biết các cán bộ đó vẫn tiếp tục theo dõi các các nhân.
Một số tín đồ tôn giáo, đặc biệt là những tín đồ thuộc những tổ chức chưa đăng ký hoặc chưa được chính thức công nhận, tiếp tục cho biết họ bị các cán bộ an ninh địa phương đe dọa không cho tham dự các buổi hành lễ tôn giáo. Hiện tượng sách nhiễu đã xảy ra trong một số trường hợp khi một tổ chức tôn giáo cố gắng cải thiện vị thế của mình, ví dụ như chuyển đổi từ vị thế chưa đăng ký sang đã đăng ký, hoặc từ đã đăng ký thành được công nhận. Đôi lần, các cán bộ địa phương ép buộc giải tán các buổi tụ tập của hội thánh, khuyên nhủ hoặc yêu cầu các nhóm hạn chế quy mô hoặc nội dung của các buổi lễ quan trọng, đóng cửa các thánh thất tại gia chưa đăng ký, và gây sức ép buộc các cá nhân phải từ bỏ đạo của mình.
Cũng có những báo cáo cho thấy quyền bày tỏ hoặc tổ chức tôn giáo bị hạn chế. Một số hệ phái Tin Lành chưa được công nhận bị cấm tổ chức các buổi lễ Giáng sinh quy mô lớn tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Thanh Hóa.