Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2011
Part 1
← Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế, giai đoạn từ tháng 7-12, 2010
Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2011  (2012)  của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam dịch Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2012 →
- thông tin về bản này . 
Báo cáo được công bố ngày 30 tháng 7 năm 2012.
của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 16090 Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2011 2012 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam
Việt Nam
Tổng quan
Hiến pháp và các bộ luật, chính sách khác của Việt Nam bảo vệ quyền tự do tôn giáo, nhưng trên thực tế, Chính phủ đã quản lý, thậm chí trong một số trường hợp còn hạn chế tự do tôn giáo. Chính phủ nhìn chung tôn trọng quyền tự do tôn giáo của hầu hết các nhóm tôn giáo đã đăng ký và một số nhóm tôn giáo chưa đăng ký, tuy nhiên, vẫn có một số nhóm tôn giáo đã đăng ký và chưa đăng ký cho biết họ vẫn bị sách nhiễu. Chính phủ không thể hiện chiều hướng cải thiện hay làm suy giảm sự tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Vẫn tiếp tục có các thông tin về vi phạm tự do tôn giáo, trong đó có các vụ bắt giữ, tạm giam và kết án. Các vấn đề tiêu cực vẫn còn tồn tại, đặc biệt ở cấp tỉnh và cấp xã, như việc chậm trễ hoặc từ chối cấp đăng ký cho một số nhóm tôn giáo. Có thông tin cho thấy những người bị bắt giữ sau cuộc biểu tình tại giáo xứ Cồn Dầu đã bị đối xử một cách thô bạo. Một số nhóm Công giáo cũng cho biết họ bị sách nhiễu khi đang chuẩn bị tổ chức lễ Giáng sinh. Tuy vậy, chính quyền cũng đã có cho thấy những dấu hiệu cải thiện, như tạo điều kiện xây dựng hàng trăm nơi thờ tự mới, cấp chứng nhận trên toàn quốc cho hai tôn giáo mới, cấp đăng ký cho các giáo đoàn mới, cho phép mở rộng các hoạt động từ thiện và cho phép tổ chức các buổi lễ tôn giáo quy mô lớn với trên 100.000 người tham dự. Chính phủ và Tòa thánh Va-ti-căng tiếp tục có các cuộc đối thoại về bình thường hóa quan hệ.
Vẫn có một số thông tin về những vụ gây khó khăn, phiền hà của xã hội hoặc phân biệt đối xử xuất phát từ nguyên nhân tôn giáo, tín ngưỡng hoặc hành đạo.
Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn duy trì các cuộc đối thoại thường xuyên với các quan chức cấp cao cũng như các cán bộ chuyên trách của Chính phủ nhằm thúc đẩy hơn nữa tự do tôn giáo. Các quan chức Hoa Kỳ cũng đã gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo, kể cả những nhà hoạt động tôn giáo nằm trong danh sách theo dõi của Chính phủ. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton và các quan chức cấp cao khác của Bộ Ngoại giao đã bày tỏ quan ngại về tự do tôn giáo với các quan chức của Chính phủ Việt Nam và kêu gọi Việt Nam cải thiện hơn nữa tự do tôn giáo. Tự do tôn giáo cũng là một chủ đề trọng tâm của cuộc Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ - Việt Nam năm 2011 được tổ chức tại Washington vào tháng 11.
Phần I. Các nhóm tôn giáo
Hơn một nửa dân số Việt Nam trên danh nghĩa theo đạo Phật, trong đó có 10% dân số theo Phật giáo Đại thừa (hầu hết các Phật tử này là người Kinh, hay còn gọi là người Việt, dân tộc chiếm đa số tại Việt Nam) và 1,2% dân số theo dòng Nam Tông (có xấp xỉ một triệu Phật tử là người dân tộc Khmer tại khu vực miền Nam). Có 7% dân số là tín đồ của Giáo hội Công giáo Rô-ma. Công giáo đang ngày càng phát triển tại Việt Nam với trên 6 triệu tín đồ tại 26 giáo phận trên cả nước. Có khoảng 2,5-4% dân số theo Đạo Cao Đài, một tôn giáo dung hợp các yếu tố của nhiều tôn giáo khác nhau. Các tín đồ đạo Hòa Hảo chiếm 1,5-3% dân số. Còn số lượng tín đồ của đạo Tin Lành được ước tính vào khoảng 1-2% dân số. Một số hệ phái của đạo Tin Lành đã được chính thức công nhận; một số hệ phái đã được cấp đăng ký tại địa phương nhưng chưa được công nhận ở cấp độ quốc gia. Có khoảng 70.000 – 80.000 tín đồ Hồi giáo, chiếm chưa đến 0,1% dân số. Ước tính có khoảng 40% tín đồ Hồi giáo theo dòng Sunni và 60% còn lại theo dòng Bani.
Các cộng đồng tôn giáo nhỏ hơn cộng lại chiếm chưa đến 0,1% dân số, trong đó có 50.000 người dân tộc Chăm chủ yếu theo một dòng đạo Hồi riêng biệt ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Cả nước có khoảng 8.000 người theo đạo Baha’i, và xấp xỉ 1.000 người là tín đồ thuộc Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (hay còn gọi là giáo phái Mormons). Thành phố Hồ Chí Minh có một nhà thờ Do Thái, phục vụ khoảng 150 tín đồ Do Thái, chủ yếu là những người nước ngoài định cư tại thành phố.
Hầu hết các công dân còn lại đều tự nhận mình là phi tôn giáo hoặc theo các tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng ông bà tổ tiên và các anh hùng dân tộc.
Các dân tộc thiểu số chiếm xấp xỉ 14% dân số. Theo ước tính của các tín đồ, có khoảng 2/3 tín đồ đạo Tin Lành là người dân tộc thiểu số, bao gồm các nhóm thiểu số ở khu vực Tây Bắc (H’mông, Dao, Thái và các dân tộc khác) và Tây Nguyên (Ê-đê, Jarai, Sê-đăng, M’nông và các dân tộc khác). Người dân tộc Khmer Krom thì chủ yếu theo dòng Phật giáo Nam Tông.
Phần II. Tình hình liên quan đến sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo của Chính phủ
Khung pháp lý/chính sách
Hiến pháp và các bộ luật, chính sách khác của Việt Nam bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Hiến pháp, Bộ luật Hình sự và Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 2003 về tôn giáo đều quy định quyền tự do theo hoặc không theo tôn giáo và thờ phụng; nhưng trên thực tế, vẫn có những biện pháp hạn chế được quy định trong chính sách. Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo năm 2004 và Nghị định hướng dẫn thi hành năm 2005 là những văn bản pháp luật cơ bản điều chỉnh hoạt động tôn giáo. Cả hai văn bản này đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của người dân, nhưng cảnh báo rằng hành vi “lợi dụng” tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng nhằm mục đích “phá hoại hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước” là phạm pháp, và sẽ đình chỉ các hoạt động tôn giáo nếu “gây ảnh hưởng tiêu cực đến các truyền thống văn hóa của dân tộc”.
Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 1997 đã quy định các hình phạt cho các tội danh được định nghĩa mơ hồ như “cố tình phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” bằng cách “gây chia rẽ giữa những người theo đạo và không theo đạo”. Chính phủ tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo độc lập và các cá nhân bị coi là mối đe dọa đối với quyền lực của Đảng.
Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo quy định Chính phủ có quyền quản lý và giám sát các tổ chức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo phải được chính thức công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động và phải được cơ quan chính quyền “phù hợp” ở cấp thấp hơn phê duyệt các chức sắc, hoạt động và việc thành lập các chủng viện hoặc lớp học tôn giáo. Việc bổ nhiệm linh mục hoặc các chức sắc tôn giáo khác cũng phải được chính quyền phê duyệt khi có liên quan đến các tổ chức tôn giáo nước ngoài cấp cao, chẳng hạn như Tòa thánh Va-ti-căng. Pháp lệnh nghiêm cấm ép buộc cải đạo. Pháp lệnh quy định các tổ chức tôn giáo chỉ cần thông báo cho các cấp chính quyền phù hợp về các hoạt động thường niên hay việc phong chức, thuyên chuyển linh mục mà không cần phải có được sự chấp thuận chính thức của chính quyền địa phương như trước đây; tuy nhiên, một số cán bộ địa phương vẫn đưa ra yêu cầu phải xin phép. Pháp lệnh cũng khuyến khích các nhóm tôn giáo tổ chức các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, hai lĩnh vực mà trước đây vốn bị hạn chế.
Năm 2005, Nghị định số 22 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo được ban hành. Nghị định quy định chi tiết thủ tục để một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận có thể đăng ký nơi thờ tự, các giáo sĩ và các hoạt động để từ đó có thể hoạt động công khai và đăng ký để được công nhận chính thức. Nghị định quy định một tổ chức tôn giáo phải có 20 năm “hoạt động tôn giáo ổn định” tại Việt Nam thì mới được Chính phủ công nhận chính thức và các hoạt động trong quá khứ tại Việt Nam cũng được tính để đạt được mức yêu cầu này.
Nghị định cũng nêu rõ các thủ tục mà các tổ chức tôn giáo và từng giáo đoàn phải thực hiện để được chính thức công nhận. Theo đó, để được công nhận chính thức, một tổ chức tôn giáo xin công nhận phải được cấp đăng ký ở cấp quốc gia - một quy trình theo khung pháp lý sẽ phải thực hiện một số thủ tục pháp lý. Đầu tiên, tổ chức tôn giáo phải đăng ký và được cấp đăng ký ở từng khu vực hành chính nơi họ hoạt động. Tổ chức đó phải gửi thông tin về cơ cấu, lãnh đạo và các hoạt động của mình đến các cấp chính quyền địa phương có thẩm quyền. Một năm sau khi đăng ký ở cấp độ quốc gia, nhóm tôn giáo đủ điều kiện có thể đệ đơn xin được công nhận đầy đủ về mặt pháp lý sau khi tổ chức hội nghị toàn quốc để bầu ra ban lãnh đạo. Nghị định cũng quy định cơ quan có thẩm quyền phải có phản hồi bằng văn bản về đề nghị đăng ký công nhận chính thức của tổ chức tôn giáo trong vòng 30, 45, 60 hoặc 90 ngày, tùy theo phạm vi của đề nghị. Trong trường hợp bác đơn, văn bản phúc đáp cần nêu rõ lý do. Tuy nhiên, quy định này không được áp dụng một cách nhất quán. Pháp lệnh không quy định cơ chế cụ thể về việc xem xét lại, cũng như lý do từ chối.
Nghị định 22 cũng quy định “nghiêm cấm việc ép buộc công dân theo đạo hoặc bỏ đạo”. Chỉ thị về một số công tác đối với đạo Tin Lành của Thủ tướng Chính phủ (ban hành năm 2005) cũng có nội dung hàm ý tương tự. Mặc dù các quan chức Chính phủ từ lâu luôn khẳng định rằng việc ép buộc theo đạo hoặc cải đạo là bất hợp pháp, song đây mới chính thức là hai văn bản pháp luật đầu tiên có quy định rõ ràng về nội dung này.
Nghị định 22 và Luật Đất đai quy định các tổ chức tôn giáo không được mua đất với tư cách pháp nhân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải cấp đất và chấp thuận việc xây dựng các cơ sở tôn giáo mới. Thường thì một thành viên trong giáo đoàn sẽ mua đất rồi chuyển nhượng cho tỉnh, đất sau đó được cấp cho giáo hội. Giáo hội cũng cần thông báo cho chính quyền về việc trùng tu hay nâng cấp các cơ sở tôn giáo, tuy nhiên, tùy theo mức độ trùng tu mà có thể không phải xin phép. Nghị định 22 quy định rằng chính quyền phải phúc đáp đơn xin giấy phép xây dựng trong vòng 20 ngày.
Ban Tôn giáo Chính phủ cấp quốc gia có trách nhiệm phổ biến thông tin về khung pháp lý tôn giáo cho các chính quyền ở tỉnh, huyện, thôn, xã và đảm bảo khung pháp lý được áp dụng đồng bộ.
Có 31 tổ chức tôn giáo được công nhận thuộc 11 tôn giáo đã được công nhận (Phật giáo, Hồi giáo, đạo Baha’i, Thiên chúa giáo, đạo Tin Lành, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật đường Nam tông Minh sư Đạo và Minh Lý Đạo Tam tôngmiếu). Từng giáo đoàn thuộc các nhóm tôn giáo đã được công nhận này cũng phải đăng ký. Một số chi phái của đạo Phật, đạo Tin Lành và đạo Hòa Hảo không tham gia vào các tổ chức tôn giáo đã được Chính phủ công nhận hoặc cấp đăng ký.
Chính phủ quy định tất cả các hoạt động xuất bản các ấn phẩm tôn giáo đều phải thông qua Nhà xuất bản Tôn giáo, đơn vị phụ trách các vấn đề tôn giáo trực thuộc Nhà xuất bản Quốc gia, hoặc các nhà xuất bản khác được Chính phủ cho phép. Hoạt động xuất bản chỉ được thực hiện sau khi Chính phủ đã duyệt nội dung ấn phẩm. Tuy nhiên, các nhà xuất bản khác có thể in ấn và phân phối các tài liệu liên quan đến tôn giáo và các cửa hàng sách cũng được tự do bày bán các ấn phẩm tôn giáo. Kinh Thánh được xuất bản bằng tiếng Việt và các ngôn ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Ê-đê, Jarai, Banar, M’nông và tiếng Anh. Chính phủ vẫn chưa phê duyệt việc xuất bản Kinh thánh bằng tiếng H’mông hiện đại.
Chính phủ không cho phép giảng dạy tôn giáo tại các trường công, nhưng lại cho phép giới tăng lữ giảng dạy tại các trường đại học các môn học mà họ có đủ trình độ chuyên môn. Các nhóm Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Baha’i và Phật giáo được phép giảng dạy tôn giáo cho các tín đồ tại cơ sở tôn giáo của mình. Các nhóm tôn giáo không được phép mở và vận hành các trường tư ngoại trừ các trường mẫu giáo, mầm non và nhà trẻ. Thần học không được giảng dạy chính thức ở trường công.
Việc công dân có theo tôn giáo nào hay không sẽ được ghi trên chứng minh thư nhân dân và hộ khẩu gia đình. Mặc dù không có thông tin về việc phân biệt đối xử đối với các cá nhân có ghi rõ tín ngưỡng của mình trên giấy tờ, nhưng trên thực tế, nhiều người nhận mình là theo đạo lựa chọn không ghi tôn giáo trên chứng minh thư, và do vậy, các thống kê tôn giáo của Chính phủ coi họ là những người không theo đạo. Dù có thể thay đổi thông tin trong mục tôn giáo trên chứng minh thư, nhưng hầu hết những người cải đạo thấy rằng các thủ tục thay đổi thường rất phức tạp và thường không thể thực hiện được.
Về nguyên tắc, các tù nhân không được thể hiện đức tin tôn giáo hoặc hành đạo tại khu vực công cộng trong nhà tù. Tuy nhiên, có các thông tin đã được xác thực rằng tù nhân được phép đọc Kinh thánh và hành đạo ở trong buồng giam.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam được công nhận chính thức được thành lập trên cơ sở sáp nhập các tổ chức Phật giáo Đại thừa, Nam Tông và Tiểu thừa lại với nhau. Tất cả các nhóm Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam đều có đại diện tính theo tỷ lệ trong hàng ngũ lãnh đạo và trong tổ chức. Trên thực tế, các vị sư sãi dòng Nam Tông thường họp riêng để quyết định các vấn đề như giáo lý, giáo dục và các nhu cầu khác của giáo phái để đưa lên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Có một số tổ chức tôn giáo khác biệt và riêng rẽ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được công nhận trong thời gian gần đây và có ảnh hưởng tới các Phật tử Trong số đó, nhóm Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội là đông đảo nhất, với hơn 1,3 triệu Phật tử.
Những tín đồ thuộc các nhóm tôn giáo không chính thức không được công khai phát ngôn về tôn giáo của mình, nhưng trên thực tế một số tín đồ vẫn tổ chức đào tạo tôn giáo hoặc hành đạo mà không bị sách nhiễu. Tín đồ thuộc các nhóm tôn giáo chưa được cấp đăng ký hoạt động trên cả nước có thể công khai tín ngưỡng của mình và thuyết phục người khác theo tôn giáo của họ nhưng chỉ ở những địa điểm thờ tự đã đăng ký ở địa phương. Chính phủ kiểm soát tất cả các hình thức tụ họp nơi công cộng; tuy nhiên, một số buổi tụ họp tôn giáo lớn vẫn được cho phép tổ chức.
Chính phủ không công nhận bất cứ ngày lễ tôn giáo nào là ngày lễ tôn giáo quốc gia.
Động thái thực tế của Chính phủ
Quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng được quy định trong hiến pháp vẫn được hiểu và bảo vệ một cách không đồng bộ. Các động thái trên thực tế của Chính phủ và trở ngại từ bộ máy công quyền đã hạn chế quyền tự do tôn giáo.
Có thông tin cho biết các vụ vi phạm tự do tôn giáo vẫn xảy ra tại Việt Nam, nạn nhân bao gồm cả các tù nhân và những người bị giam giữ, các cá nhân và thành viên các chi hội tôn giáo vẫn bị theo dõi và sách nhiễu. Báo cáo về các vụ vi phạm tự do tôn giáo vẫn giữ ở mức độ tương tự như năm ngoái.
Tháng 3, chính quyền tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ đã ra lệnh theo dõi các nhà sư Hòa Hảo chưa được công nhận nhằm ngăn chặn các tín đồ tổ chức lễ tưởng niệm ngày mất của Giáo chủ khai sáng đạo Hòa Hảo vào ngày 29/3. Cảnh sát đã phong tỏa các tuyến đường và sách nhiễu hoặc đe dọa các tín đồ. Một tín đồ đã bị cảnh sát đánh đập thô bạo.
Các tín đồ Tin Lành người Khmer cho biết họ bị các Phật tử người Khmer Krom tại một số huyện thuộc tỉnh Trà Vinh gây phiền hà, đe dọa, và trong một số trường hợp còn bị phá hoại tài sản và đánh đập. Họ cho biết chính quyền địa phương hầu như không làm gì để ngăn chặn những vụ việc này, và trong một số trường hợp, còn tham gia hoặc kích động gây rối.
Hai nhà thuyết giáo là Ksor Y Du và Kpa Y Ko vẫn tiếp tục bị giam giữ sau khi bị buộc tội và kết án với tội danh âm mưu tổ chức biểu tình, gây mất trật tự an ninh và chính trị và chia rẽ đoàn kết dân tộc.
Tháng 11, mục sư Đỗ Văn Tính cho biết các gia đình phản đối Hội thánh Báp-tít Thiên Ái và hàng xóm của họ đã tấn công mục sư Nguyễn Danh Châu và các giáo dân. Mục sư Tính cho biết lực lượng công an không tham gia vào vụ đánh đập, nhưng lại phản ứng rất chậm chạp và chỉ đến hỗ trợ những tín đồ của Hội thánh sau khi số người tham gia ngày càng đông.
Tháng 10, một người theo phái Pháp Luân Công cho biết, mặc dù một nhóm các học viên Pháp Luân Công vẫn tổ chức luyện tập hàng tuần tại một công viên ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến nay, nhưng đến tháng 10, cảnh sát đã bắt giữ 25 học viên Pháp Luân Công ở Thành phố Hồ Chí Minh và tạm giữ họ trong 8 giờ đồng hồ. Hai trong số bảy người bị bắt giữ không mang theo giấy tờ tùy thân đã bị cảnh sát đưa đến Trung tâm Bảo trợ Xã hội. Họ đã được thả trong vòng 24 giờ sau đó.
Tháng 6, ông Trần Văn Nhơn ở tỉnh Đồng Tháp cho biết chính quyền xã đã thu hồi trái phép khoảng 700 đến 800 m2 đất trong mảnh đất ban đầu rộng 1.000m2 trên đất xã mà không đền bù. Ông Nhơn cho biết ông đã sử dụng khu đất này để tổ chức các buổi hành lễ cho người theo đạo Hòa Hảo. Ông Tống Thiết Linh, cũng từ tỉnh Đồng Tháp cho biết ông đã phải dừng tổ chức các buổi hành lễ cho tín đồ đạo Hòa Hảo tại gia sau khi công an địa phương gửi giấy triệu tập và đe dọa sẽ bắt giữ ông Linh nếu ông không chịu dừng hoạt động khi cơ sở tôn giáo chưa được đăng ký.
Tháng 5, 5.000 người dân tộc H’mông tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đã tụ họp lại trong một hoạt động thuộc phong trào thiên niên kỷ. Lực lượng an ninh đã giải tán đám đông và bắt giữ 150 người. Có thông tin cho thấy có đến 3 trẻ em đã bị ốm và tử vong do điều kiện thời tiết khắc nghiệt tại một lán trại tạm thời do người dân tộc H’mông dựng lên.
Các cá nhân và hội thánh có liên hệ với Mục sư Nguyễn Công Chính, trong đó có Hiệp hội Thông công Tin Lành các Dân tộc Việt Nam và Hội thánh Tin Lành Lutheran Mỹ và Việt Nam đã vài lần bị ngăn cản tổ chức hành đạo do việc Mục sư Chính kịch liệt phản đối chính quyền và chủ nghĩa cộng sản. Chính quyền tiếp tục cho rằng Mục sư Chính đã lợi dụng vị trí của mình để tiến hành các hoạt động chính trị. Ngày 28/4, Mục sư Chính đã bị bắt giữ vì tội “phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc” do đã chia sẻ quan điểm với các hãng truyền thông nước ngoài về các vấn đề tôn giáo, chính trị và chỉ trích chính quyền và chủ nghĩa cộng sản. Đến cuối năm, Mục sư Chính vẫn bị giam giữ và gia đình ông cũng không được phép vào thăm.
Tháng 11/2010, chính quyền đã bắt giữ hai học viên của phái Pháp Luân Công là Vũ Đức Trung và Lê Văn Thành tại Hà Nội do phát sóng trái phép thông điệp chính trị và tôn giáo sang Trung Quốc. Tháng 2, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã kết tội Trung và Thành “phát sóng trái phép thông tin và vận hành mạng lưới thông tin không có giấy phép” và kết án lần lượt 3 và 2 năm tù giam.
Vẫn có các thông tin về các vụ vi phạm tự do tôn giáo khác trong năm, bên cạnh các báo cáo về lạm dụng thể chất và về các tù nhân, người bị giam giữ vì lý do tôn giáo.
Ngày 20/7, công an địa phương đã phá dỡ một thánh thất của đạo Cao Đài ở thành phố Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận. Trước khi thánh thất này bị phá hủy, chính quyền địa phương đã yêu cầu phải giao lại phần đất này cho họ. Khi các tín đồ Cao Đài biểu tình, chính quyền địa phương đã công khai giải tán những người theo đạo, phá dỡ thánh thất và thu hồi đất mà không đền bù. Vụ việc này không có tiến triển gì mới tính đến cuối năm.
Ngày 10/7, Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Phạm Trung Thành đã bị cấm xuất cảnh để ngăn ông tham dự diễn đàn tôn giáo tại Singapore. Ngày 12/7, Cha Đinh Hữu Thoại, Chánh văn phòng Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam đã bị chặn lại tại cửa khẩu khi đang trên đường đến Campuchia.
Tháng 7, các cán bộ xã đã đe dọa cắt trợ cấp tài chính cấp cho các hộ gia đình nghèo nếu một số thành viên của Hội thánh làng Phá Khẩu, xã Phình Giàng, tỉnh Điện Biên tiếp tục tham dự các buổi hành lễ. Các giáo dân cho biết các cán bộ xã thường xuyên theo dõi các tín đồ và khuyên họ không nên theo “tôn giáo có tổ chức” mà nên quay về thờ cúng tổ tiên.
Một số tín đồ tôn giáo tiếp tục cho biết họ bị các cán bộ an ninh địa phương đe dọa không cho tham dự các buổi hành lễ tôn giáo, đặc biệt là những tín đồ thuộc những tổ chức chưa đăng ký hoặc chưa được chính thức công nhận. Hiện tượng sách nhiễu đã xảy ra trong một số trường hợp khi một tổ chức tôn giáo cố gắng cải thiện vị thế của mình, ví dụ như chuyển đổi từ vị thế chưa đăng ký sang đã đăng ký, hoặc từ đã đăng ký thành được công nhận. Đôi lần, các cán bộ địa phương ép buộc giải tán các buổi tụ tập của hội thánh, khuyên nhủ hoặc yêu cầu các nhóm hạn chế quy mô hoặc nội dung của các buổi lễ quan trọng, đóng cửa các thánh thất tại gia chưa đăng ký, và gây sức ép buộc các cá nhân phải cải đạo.
Cũng có những báo cáo cho thấy quyền tự do tôn giáo bị hạn chế. Một số hệ phái Tin Lành chưa được công nhận bị cấm tổ chức các buổi lễ Giáng sinh quy mô lớn tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Thanh Hóa. Cuối năm, Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) và các hệ phái khác tiếp tục đòi chính quyền trả lại các tài sản đã bị tịch thu.
Tháng 12, Hội thánh Tin Lành Báp-tít Liên hiệp Việt Nam cho biết chính quyền tỉnh Đà Nẵng đã cản trở các hội thánh chưa đăng ký và gây áp lực buộc họ phải gia nhập hội thánh đã đăng ký.
Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) cho biết hồi tháng 11, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ra quyết định từ chối đề nghị của Hội thánh về việc quay trở lại cơ cấu tổ chức như từ trước năm 1975 với các cấp quận, huyện nằm dưới sự quản lý của Hội thánh trung ương. Ban Tôn giáo Chính phủ tuyên bố rằng Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo không cho phép có cơ cấu lãnh đạo ba cấp. Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) cho biết quyết định này đã gây khó khăn cho Hội thánh trong việc quản lý các công việc nội bộ. Hồi đầu năm, Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) và Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) đã đồng đệ trình một bản quy chế riêng cho Hội thánh Tin Lành thống nhất, theo đó sẽ thành lập một tổ chức quản lý ở cấp tỉnh. Ban Tôn giáo Chính phủ đã không ủng hộ quyết định này và cả hai Hội thánh vẫn tiếp tục hoạt động như hai tổ chức riêng rẽ.
Tháng 9, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cho biết một ngày trước ngày tổ chức lễ Vu Lan, một buổi lễ tôn giáo quan trọng, chính quyền đã mời các vị tăng ni lên làm việc với các cán bộ công an và ghi lại tên của những tín đồ sẽ tham dự buổi lễ này. Trong ngày tổ chức, chính quyền địa phương đã giải tán các đám đông tụ tập.
Tháng 5, Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng đã đề nghị một giáo hội Phật giáo chưa được công nhận ngừng treo các biểu ngữ hoặc tranh ảnh tôn giáo ở nơi công cộng và đề nghị một vị sư thuộc giáo hội không được đọc thông điệp trong lễ Phật Đản, ngày lễ kỷ niệm ngày đức Phật ra đời.
Tại tỉnh Sóc Trăng và quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, các hệ phái Chứng nhân Jê-hô-va nộp đơn đăng ký tại địa phương đã bị ngược đãi. Chính quyền địa phương đã tổ chức các cuộc họp tổ dân phố để trưng cầu ý kiến của người dân về việc đăng ký này. Người dân đã bỏ phiếu với “100%” ý kiến phản đối. Đến tháng 5, chính quyền đã từ chối cấp đăng ký cho phái Chứng nhân Jê-hô-va dựa trên kết quả trên và ghi chú giáo phái “có khả năng gây mất trật tự công cộng”.
Hội Thông Công Tin Lành Việt Nam đã nỗ lực tổ chức một buổi gặp mặt vị Mục sư nổi tiếng thế giới Luis Palau tại Hà Nội vào ngày 15-16/4. Tuy nhiên, chính quyền kiên quyết yêu cầu sự kiện này phải do một giáo đoàn được Chính phủ công nhận tổ chức. Do không có đủ thời gian để thu xếp chuẩn bị, sự kiện này đã bị hủy bỏ.
Tháng 1, chính quyền đã yêu cầu các tín đồ thuộc một Giáo hội Phật giáo Việt Nam chưa được công nhận hủy bỏ hoặc hạn chế tổ chức buổi lễ khai giảng khóa tu học giáo lý hàng năm. Một ngày sau buổi lễ, công an đã triệu tập các Phật tử lên làm việc về nội dung của khóa tu.
Tháng 1, cảnh sát đã cắt ngang một buổi tụ họp của 50 tín đồ thuộc Hội thánh Phúc Âm Ngũ Tuần, trong đó có 30 người dân tộc Khmer. Cảnh sát đã ban hành lệnh triệu tập do những người này đã tụ tập và cầu nguyện trái phép, tịch thu các sách cầu nguyện và Kinh Thánh. Hội thánh này đã đăng ký ở cấp địa phương nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn khi muốn thay đổi địa điểm sinh hoạt. Hội thánh trước đó đã gửi thông báo cho chính quyền đề xuất thay đổi địa điểm nhưng không nhận được hồi đáp. Sau buổi triệu tập, chính quyền tuyên bố việc đăng ký của Hội thánh là chưa hoàn chỉnh và yêu cầu phải có một danh sách gồm tất cả những người tham dự (việc này là trái phép theo Pháp lệnh Tôn giáo). Một số chính quyền còn cảnh báo những tín đồ người Khmer rằng họ có thể bị cắt các phúc lợi xã hội nếu tiếp tục sinh hoạt tại Hội thánh này.