Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế, giai đoạn từ tháng 7-12, 2010
Part 1
← Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2010
Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế, giai đoạn từ tháng 7-12, 2010  (2011)  của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam dịch Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2011 →
- thông tin về bản này . 
Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế, giai đoạn từ tháng 7-12, 2010 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, được công bố ngày 13 tháng 9 năm 2011.
của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 13763 Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế, giai đoạn từ tháng 7-12, 2010 2011 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam
Cục Dân Chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế, giai đoạn từ tháng 7-12, 2010
Việt Nam
Hiến pháp của Việt Nam cùng các luật và chính sách khác bảo vệ tự do tôn giáo, nhưng trên thực tế, chính phủ Việt Nam quản lý và trong một số trường hợp đã hạn chế tự do tôn giáo. Chính phủ Việt Nam nhìn chung tôn trọng tự do tôn giáo đối với hầu hết các nhóm tôn giáo đã đăng ký, tuy nhiên một số nhóm tôn giáo đã đăng ký và chưa đăng ký cho biết đã có các vụ vi phạm tự do tôn giáo.
Vẫn tiếp tục có những báo cáo về các vụ vi phạm tự do tôn giáo ở trong nước. Không có thay đổi về mức độ tôn trọng tự do tôn giáo của Chính phủ trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình. Mặc dù đã có một số lĩnh vực có tiến bộ song vẫn tồn tại các vấn đề đáng kể, đặc biệt ở các cấp tỉnh và làng xã. Các vấn đề này bao gồm sự chậm trễ -- hoặc là từ chối -- trong việc cấp đăng ký cho một số nhóm, trong đó có các nhóm Hòa Hảo, Phật giáo và Tin Lành không được công nhận ở các vùng cao nguyên phía Bắc và Tây Bắc. Đã có các báo cáo về việc đối xử thô bạo đối với người bị bắt giữ sau khi xảy ra một vụ biểu tình phản đối việc đóng cửa một nghĩa trang tại giáo xứ Cồn Dầu. Một số nhóm Thiên Chúa giáo cho biết đã có sự sách nhiễu khi họ cố gắng tổ chức các buổi lễ Giáng sinh. Chính quyền cũng cho thấy đã có các dấu hiệu tiến bộ; Chính phủ đã hỗ trợ xây dựng hàng trăm nơi thờ tự mới, cấp đăng ký toàn quốc cho hai tôn giáo mới, đăng ký các giáo đoàn mới, cho phép mở rộng các hoạt động từ thiện và cho phép tổ chức các buổi lễ thờ cúng quy mô lớn với hơn 100.000 người tham dự.
Trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình, đã có một vài trường hợp bạo lực xã hội có liên quan đến lý do tôn giáo, tín ngưỡng hay hành đạo. Nhiều tín đồ Công giáo và Tin Lành cho biết những người theo đạo Thiên Chúa bị phân biệt đối xử một cách không chính thức khi ứng cử vào các vị trí trong chính quyền.
Chính phủ Hoa Kỳ tiến hành thảo luận về tự do tôn giáo với Chính phủ Việt Nam như là một phần trong chính sách tổng thể về thúc đẩy nhân quyền của mình. Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội và Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh duy trì đối thoại thường xuyên với các quan chức cấp cao và quan chức chuyên trách của Chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy tự do tôn giáo hơn nữa. Các quan chức Hoa Kỳ gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo, trong đó có cả các nhà hoạt động tôn giáo nằm dưới sự theo dõi chặt chẽ của Chính phủ. Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Clinton và các quan chức cấp cao khác của Bộ Ngoại giao đã nêu các quan ngại về tự do tôn giáo với các quan chức chính phủ và kêu gọi tiếp tục cải thiện tự do tôn giáo. Tự do tôn giáo cũng là một chủ đề trung tâm của cuộc Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ-Việt Nam năm 2010 tại Hà Nội.
Phần I. Các tôn giáo
Việt Nam có diện tích 330.000 km vuông và dân số 89,6 triệu người. Phần đông các ước tính đều cho thấy hơn một nửa dân số theo đạo Phật trên danh nghĩa. Giáo hội Công giáo chiếm 7% dân số. Một số tổ chức của đạo Cao Đài chiếm 2,5 – 4% dân số, giáo phái Hòa Hảo truyền thống chiếm 1,5 -3%, các hệ phái Tin Lành chiếm 1-2%, và Hồi giáo chiếm chưa đến 0,1% dân số. Hầu hết các công dân còn lại đều tự nhận mình không theo tôn giáo nào, mặc dù một số vẫn thực hành các tín ngưỡng truyền thống như tín ngưỡng vật linh, thờ cúng tổ tiên và các anh hùng dân tộc.
Ban Tôn giáo Chính phủ ước tính có khoảng 10 triệu người (11% dân số) theo Phật giáo Đại thừa, phần lớn là người Kinh (nhóm đa số của đất nước, còn được gọi là người Việt). Chỉ riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 1.000 chùa Phật giáo đang hoạt động. Cộng đồng người Khmer thiểu số ở miền Nam, với khoảng hơn 1 triệu người, theo Phật giáo dòng Nam Tông và có hơn 570 ngôi chùa.
Mặc dù con số thống kê của Chính phủ cho biết có 6,28 triệu tín đồ Công giáo, các ước tính khác đưa ra con số là 8 triệu người. Công giáo đã phục hồi trong những năm gần đây, với các nhà thờ được xây mới hoặc cải tạo lại và số người muốn làm các công việc tôn giáo ngày càng tăng. Cả nước có 3 tổng giám mục, 44 giám mục và gần 4.000 linh mục coi sóc 26 giáo phận. Có trên 10.000 nơi thờ tự, trong đó có 6 chủng viện và 2 cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo. Theo Tòa thánh Vatican, số lượng chủng sinh chuẩn bị được thụ phong linh mục trong 5 năm vừa qua đã tăng hơn 50%, hiện lên tới 1.500 người.
Thống kê của chính phủ cho biết đạo Cao Đài, một tôn giáo dung hợp các yếu tố của nhiều đức tin khác nhau, có 2,3 triệu tín đồ, trong khi các chức sắc của đạo này công bố rằng có khoảng 3,9 triệu người. Theo chính phủ, có 1,3 triệu tín đồ Hòa Hảo; các chi nhánh ở hải ngoại của đạo này ước tính có tới 3 triệu người. Một số ít tín đồ Hòa Hảo theo các chi phái khác đối lập với Ban Trị sự Hòa Hảo được công nhận chính thức, chẳng hạn như Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy và Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Truyền thống.
Hai hội thánh Tin Lành lớn nhất được chính thức công nhận là Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam và Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc có quy mô nhỏ hơn. Các hội thánh khác cũng đã được chính thức công nhận gồm có Hội thánh Báp-tít Ân điển Nam phương, Hội thánh Cơ đốc Truyền giáo, Hội thánh Mennonite Việt Nam, Hội thánh Trưởng Lão Việt Nam, Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Báp-tít miền Nam), Hội thánh Cơ đốc Phục lâm Việt Nam và Liên hữu Cơ đốc Việt Nam. Ngoài ra còn có các hệ phái Tin Lành khác như Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam (đã đăng ký trên toàn quốc), cũng như các hội thánh khác đã đăng ký ở địa phương nhưng chưa đăng ký ở cấp quốc gia. Ước tính số tín đồ Tin Lành dao động từ 1 triệu theo thống kê của Chính phủ đến trên 2 triệu theo công bố của các giáo hội.
Số lượng tín đồ Hồi giáo khá ít ỏi, từ 70 đến 80 nghìn người, các nhà thờ Hồi giáo được đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, tỉnh miền Tây An Giang và các tỉnh duyên hải phía Nam. Chính phủ ước tính có gần 73.000 người theo đạo Hồi. Khoảng 40% tín đồ Hồi giáo theo dòng Sunni, 60% còn lại theo dòng Bani.
Có một số cộng đồng tôn giáo nhỏ hơn, lớn nhất trong số này là cộng đồng người Hindu. Khoảng 50.000 người dân tộc Chăm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ theo một nhánh của đạo Hindu. Ước tính có khoảng 7.200 tín đồ đạo Baha’i, chủ yếu tập trung ở miền Nam. Có khoảng 1.000 tín đồ của Giáo hội Các thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (hay còn gọi là giáo phái Mormons) trên toàn quốc. Giáo hội này có hai giáo đoàn được công nhận ở cấp địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Phái Chứng nhân Giê-hô-va có 55 giáo đoàn với khoảng 3.000 tín đồ đang hoạt động tại 18 tỉnh thành trên cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh có một nhà thờ Do Thái phục vụ khoảng 150 tín đồ Do Thái, chủ yếu là người nước ngoài sinh sống tại đây.
Ít nhất 14 triệu người, chiếm khoảng 17% dân số hoặc hơn, được cho là không theo một tôn giáo có tổ chức nào. Chính phủ không xếp những người chỉ đi chùa vào các ngày lễ là tín đồ Phật giáo. Không có con số thống kê mức độ tham gia các nghi lễ tôn giáo chính thức, nhưng con số này nhìn chung được cho rằng vẫn đang tiếp tục tăng lên kể từ năm 2000.
Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số. Theo tính toán của các tín đồ, 2/3 tín đồ Tin Lành là người dân tộc thiểu số, trong đó có các nhóm thiểu số ở vùng Cao nguyên Tây Bắc (H’mông, Dao, Thái và các dân tộc khác) và ở Tây Nguyên (Ê-đê, Gia-rai, Sê-đăng, Mơ-nông và các dân tộc khác). Cộng đồng người dân tộc Khmer Krom chủ yếu theo Phật giáo dòng Nam Tông.
Phần II. Mức độ tôn trọng tự do tôn giáo của Chính phủ
Khung pháp lý/chính sách
Tham khảo tình trạng phê chuẩn các chuẩn mực pháp lý quốc tế của chính phủ tại Phụ lục C của Báo cáo Quốc gia về Thực thi Nhân quyền http://www.state.gov/g/drl/rls/hrrpt/2010/appendices/index.htm .
Hiến pháp và các luật, chính sách khác bảo vệ tự do tôn giáo, nhưng trên thực tế, Chính phủ Việt Nam quản lý và trong một số trường hợp đã hạn chế tự do tôn giáo. Hiến pháp, các văn bản pháp luật và Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 2003 về tôn giáo đều quy định quyền tự do theo hoặc không theo tín ngưỡng và thờ phụng; tuy nhiên cả trong chính sách lẫn thực tế vẫn còn tồn tại các hạn chế. Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo 2004 (Pháp lệnh) là văn bản pháp luật cơ bản quy định về hoạt động tôn giáo. Pháp lệnh quy định công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng cũng cảnh báo rằng việc “lợi dụng” tự do tín ngưỡng hoặc tôn giáo nhằm mục đích “phá hoại hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước” là phạm pháp, và rằng các hoạt động tôn giáo sẽ bị đình chỉ nếu “gây ảnh hưởng tiêu cực đến các truyền thống văn hóa của dân tộc”.
Có 34 tổ chức tôn giáo được công nhận, thuộc 11 tôn giáo được công nhận (Phật giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật đường Nam tông Minh sư Đạo, Minh Lý Đạo Tam tông miếu và đạo Baha’i). Chính phủ cũng đã công nhận trên toàn quốc hai tổ chức tôn giáo gồm Bửu Sơn Kỳ Hương (một nhóm tôn giáo riêng) và một hệ phái Tin Lành là Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam.
Tháng 7, Hội thánh Liên hữu Cơ Đốc Việt Nam, gồm hơn 1.200 giáo đoàn và 200.000 tín đồ, và đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được công nhận trên toàn quốc. Tháng 10, Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam tổ chức Đại hội đồng Tổng hội lần thứ nhất.
Theo thống kế của Ban Tôn giáo Chính phủ, trong năm 2009, đã có hơn 984 cơ sở tôn giáo được cải tạo hoặc xây mới. Thêm vào đó gần 300 cơ sở thờ tự mới của đạo Tin Lành đã được xây dựng trên đất do chính quyền cấp.
Các nhóm tôn giáo không đăng ký có thể phải đối mặt với các hành động cưỡng chế và trừng phạt của chính quyền cấp trung ương và địa phương. Ở một số nơi, chính quyền địa phương ngầm chấp thuận hoạt động của các nhóm không đăng ký và không can thiệp. Ở các nơi khác, các hoạt động tương tự lại bị chính quyền địa phương trừng phạt. Một số nhóm không đăng ký đang tiến đến việc được công nhận và đăng ký trên toàn quốc, tuy nhiên các nhóm còn lại không tìm cách đăng ký vì nhiều lý do khác nhau. Chính phủ thường giám sát chặt chẽ hơn đối với các nhóm không có dự định đăng ký ở cấp quốc gia.
Chính phủ tuyên bố tiếp tục giám sát hoạt động của một số nhóm tôn giáo có hoạt động chính trị. Chính phủ viện dẫn các điều khoản trong Hiến pháp về an ninh quốc gia và đoàn kết dân tộc để bỏ qua các luật và quy định về quyền tự do tôn giáo, cản trở một số cuộc tụ họp tôn giáo và nỗ lực của các tín đồ liên quan trong việc phổ biến tín ngưỡng cho một số nhóm dân tộc thiểu số ở các vùng biên giới nhạy cảm và các cao nguyên miền trung.
Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 1997 quy định hình phạt cho các tội danh mơ hồ như “cố tình phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” bằng cách “gây chia rẽ giữa những người theo đạo và không theo đạo”. Chính phủ tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo độc lập và các cá nhân bị coi là mối đe dọa đối với quyền lực của Đảng Cộng sản.
Theo Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo, Chính phủ có quyền quản lý và giám sát các tổ chức tôn giáo. Các tổ chức này phải được chính thức công nhận hoặc đăng ký. Lãnh đạo và hoạt động của các tổ chức tôn giáo, việc thành lập các chủng viện, tổ chức các lớp học tôn giáo phải được các chính quyền “thích hợp” ở cấp thấp hơn chấp thuận. Việc bổ nhiệm linh mục hoặc các chức sắc tôn giáo khác cần được sự chấp thuận của chính quyền chỉ khi nào có sự liên quan của các tổ chức tôn giáo cấp cao nước ngoài, chẳng hạn như Tòa thánh Vatican. Pháp lệnh nghiêm cấm dứt khoát việc ép buộc cải đạo. Pháp lệnh quy định các tổ chức tôn giáo chỉ cần thông báo với các cấp chính quyền phù hợp về các hoạt động thường niên hoặc về việc phong chức hay thuyên chuyển giáo sĩ mà không cần phải có sự chấp thuận chính thức của chính quyền như trước đây. Hơn nữa, Pháp lệnh cũng khuyến khích các nhóm tôn giáo tổ chức các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, vốn bị hạn chế trước đây.
Nghị định số 22 được ban hành năm 2005 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo. Nghị định quy định chi tiết thủ tục để một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận đăng ký nơi thờ tự, các giáo sĩ, các hoạt động của tổ chức để có thể hoạt động công khai và xin được công nhận chính thức. Nghị định quy định một tổ chức tôn giáo phải có 20 năm “hoạt động tôn giáo ổn định” ở Việt Nam mới được Chính phủ công nhận, các hoạt động trong quá khứ cũng có thể được tính để đạt được mức yêu cầu này.
Nghị định 22 cũng quy định các thủ tục các tổ chức tôn giáo và từng giáo đoàn phải thực hiện để được công nhận chính thức. Để được công nhận chính thức, một hệ phái tôn giáo phải đăng ký ở cấp quốc gia, theo khung pháp lý thì phải trải qua một số thủ tục thì mới đăng ký được ở cấp này. Thứ nhất, tổ chức tôn giáo đó phải đệ đơn và được chấp thuận đăng ký ở mỗi khu vực hành chính mà tổ chức đó hoạt động. Tổ chức đó phải gửi thông tin về cơ cấu, lãnh đạo và hoạt động của mình đến các cấp chính quyền có thẩm quyền. Sau thời gian một năm được đăng ký ở cấp quốc gia, nhóm tôn giáo đủ điều kiện có thể đệ đơn xin công nhận chính thức về mặt pháp lý sau khi đã tổ chức một hội nghị toàn quốc để bầu ra ban lãnh đạo. Nghị định còn quy định rằng các cấp có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản đối với các đơn xin công nhận chính thức của các tổ chức tôn giáo trong vòng 30, 45, 60 hoặc 90 ngày tùy theo phạm vi đề nghị. Trong trường hợp bác đơn, văn bản phúc đáp cần nêu rõ lý do, tuy nhiên quy định này có vẻ như không được thực thi một cách nhất quán. Pháp lệnh không quy định cơ chế cụ thể về việc yêu cầu xem xét lại, cũng như không đặt ra bất kỳ hạn chế nào đối với các lý do từ chối.
Nghị định 22 quy định “Nghiêm cấm việc ép buộc công dân theo đạo hoặc bỏ đạo...”. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đạo Tin Lành cũng quy định nội dung tương tự. Mặc dù các quan chức chính phủ khẳng định việc ép buộc cải đạo hoặc từ bỏ tín ngưỡng là bất hợp pháp, những văn bản trên là những văn bản pháp luật đầu tiên khẳng định rõ quy định này.
Nghị định 22 và Luật Đất đai quy định các tổ chức tôn giáo không được mua đất với tư cách pháp nhân, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phải cấp đất và chấp thuận việc xây dựng các cơ sở tôn giáo mới. Thường thì một thành viên giáo đoàn sẽ mua đất rồi chuyển nhượng cho tỉnh, sau đó tỉnh sẽ cấp đất đó cho giáo đoàn. Giáo đoàn cũng phải thông báo cho chính quyền về việc trùng tu hay nâng cấp các cơ sở tôn giáo, tuy nhiên có thể không phải xin phép tùy theo mức độ trùng tu. Nghị định quy định chính quyền phải phúc đáp đơn xin phép xây dựng trong vòng 20 ngày.
Ban Tôn giáo Chính phủ có trách nhiệm phổ biến thông tin về khung pháp lý tôn giáo cho các cấp chính quyền ở tỉnh, huyện, thôn, xã để đảm bảo khung pháp lý được áp dụng đồng bộ. Việc thực hiện khung pháp lý ở các cấp chính quyền thấp hơn vẫn còn chưa nhất quán. Trong giai đoạn báo cáo này tường trình, các chính quyền cấp trung ương và tỉnh đã tổ chức một số khóa tập huấn cho các cán bộ ở cấp thấp hơn về các bộ luật mới để họ nắm rõ và tuân thủ đúng theo Pháp lệnh.
Việc theo tín ngưỡng tôn giáo nhìn chung không ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cá nhân không làm việc trong chính phủ, trong đời sống dân sự, kinh tế và thế tục, tuy nhiên có các chính sách không chính thức cản trở việc thăng tiến của các quan chức trong Đảng Cộng sản và quân đội là tín đồ tôn giáo. Những người theo đạo thuộc các nhóm tôn giáo khác nhau vẫn được giữ các vị trí trong chính quyền địa phương và cấp tỉnh và là đại biểu Quốc hội. Một số tổ chức tôn giáo như Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các chức sắc tôn giáo và các tín đồ là thành viên của một tổ chức xã hội chính trị rộng lớn của Đảng Cộng sản là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các quan chức chính phủ cấp cao thường chúc mừng và đến thăm nhà thờ vào dịp Giáng sinh và Phục sinh, cũng như tham dự các hoạt động trong ngày lễ Phật Đản.
Chính phủ chính thức công nhận Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài, Baha’i, Hồi giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Minh Lý Đạo Tam tông miếu và Phật đường Nam tông Minh sư Đạo là các tổ chức tôn giáo. Từng giáo đoàn trực thuộc các nhóm tôn giáo đã được công nhận nêu trên cũng phải đăng ký. Một số hệ phái Phật giáo, Tin Lành, Hòa Hảo và Cao Đài không tham gia các tổ chức tôn giáo đã đăng ký hoặc được chính phủ công nhận.
Chính phủ yêu cầu tất cả các ấn phẩm tôn giáo đều phải do Nhà xuất bản Tôn giáo, trực thuộc Ban Tôn giáo của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, hoặc các nhà xuất bản thuộc sự quản lý của chính phủ ấn hành sau khi chính phủ đã duyệt nội dung ấn phẩm. Tuy nhiên các nhà xuất bản khác vẫn có thể in và phát hành các tài liệu về tôn giáo, các nhà sách đều được tự do bán các tài liệu tôn giáo. Kinh thánh được xuất bản bằng tiếng Việt và một số thứ tiếng khác như tiếng Trung, Ê-đê, Giarai, Banar, Mơ-nông và tiếng Anh. Chính phủ vẫn chưa phê duyệt việc xuất bản Kinh thánh bằng tiếng H’mông.
Chính phủ không cho phép giảng dạy tôn giáo ở các trường học công nhưng lại cho phép giới tăng lữ dạy ở các trường đại học những bộ môn họ có đủ trình độ chuyên môn. Các nhóm Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo và Phật giáo được phép thuyết giảng về tôn giáo cho các tín đồ tại các cơ sở của mình. Các nhóm tôn giáo không được phép mở các trường tư ngoại trừ các trường mầm non và mẫu giáo. Các trường công cũng không chính thức giảng dạy về thuyết vô thần.
Việc có theo đạo hay không không được ghi trên chứng minh thư nhân dân và hộ khẩu gia đình. Không có báo cáo nào về việc phân biệt đối xử đối với cá nhân có ghi rõ tôn giáo của mình trong các giấy tờ. Trên thực tế, nhiều người nhận mình là theo đạo đã lựa chọn không ghi tôn giáo của họ trên chứng minh thư, và do vậy chính phủ coi họ là những người không theo đạo. Mặc dù có thể thay đổi mục tôn giáo trên chứng minh thư nhưng hầu hết những người cải đạo thấy rằng các thủ tục chuyển đổi rất phức tạp và thường không thể thực hiện việc này.
Các tù nhân không được phép thể hiện đức tin tôn giáo hoặc hành đạo ở nơi công cộng.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam được công nhận chính thức bao gồm Phật giáo Đại thừa, Nam Tông và Tiểu thừa. Tất cả các nhóm Phật giáo trong Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đều có đại diện trong hàng ngũ lãnh đạo và trong tổ chức tỷ lệ với số thành viên. Trên thực tế, các vị sư sãi dòng Nam Tông thường họp riêng để quyết định các vấn đề về giáo lý, giáo dục và các yêu cầu của cộng đồng này để nêu lên Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Có một số tổ chức chịu ảnh hưởng của Phật giáo mới được công nhận nhưng không thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong số này, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội có số lượng thành viên đông nhất với hơn 1,3 triệu Phật tử.
Các vấn đề về đất đai trở nên phức tạp do yếu tố lịch sử và tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng của Việt Nam. Rất nhiều cá nhân và hầu như tất cả các tổ chức tôn giáo hoạt động trong nước từ trước năm 1975 đều vướng phải các vụ tranh chấp đất đai chưa được giải quyết xuất phát từ việc quốc hữu hoá tài sản của tư nhân sau chiến tranh. Một số vụ tranh chấp còn phức tạp hơn do một số mảnh đất của các chùa Phật giáo lại được giao cho giáo đoàn Công giáo sử dụng trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị. Năm 2009, Chính phủ và Giáo hội Công giáo đã nhất trí trao trả lại bốn mảnh đất, tuy nhiên nhiều tài sản khác hiện vẫn chưa được giải quyết. Chính phủ chỉ trả lại một phần nhỏ các tài sản đã bị tịch thu trước đây cho các tổ chức Tin Lành đã được công nhận, các tranh chấp khác vẫn chưa được giải quyết. Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam vẫn tiếp tục đòi trả lại hơn 250 khu đất, các hệ phái khác đã hoạt động ở miền Nam trước năm 1975 cũng có các yêu cầu tương tự. Chính quyền cấp tỉnh đã hoàn trả lại một số ít tài sản của các tổ chức tôn giáo bị tịch thu sau năm 1975, nhưng vẫn kéo dài việc thương lượng giải quyết các tài sản còn lại. Rất nhiều cơ sở đất đai bị tịch thu trước kia là trường học và bệnh viện, sau đó đã được sáp nhập vào hệ thống trường học và bệnh viện công.
Tín đồ thuộc các nhóm tôn giáo không chính thức không được công khai phát ngôn về tín ngưỡng của mình, tuy nhiên một số tín đồ vẫn tổ chức đào tạo tôn giáo và hành lễ mà không bị sách nhiễu. Tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo chưa đăng ký ở cấp quốc gia được phép nói về tín ngưỡng của mình và có thể thuyết phục những người khác theo tôn giáo của họ nhưng chỉ ở các địa điểm thờ tự đã đăng ký ở địa phương. Chính phủ kiểm soát tất cả các hình thức tụ họp nơi công cộng, tuy nhiên một số buổi tụ họp tôn giáo quy mô lớn vẫn được cho phép tổ chức.
Chính phủ không công nhận bất cứ ngày lễ tôn giáo nào là ngày lễ quốc gia.
Các biện pháp hạn chế Tự do Tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo được quy định trong hiến pháp vẫn được giải thích và thực hiện một cách không thống nhất. Các hành động của Chính phủ và trở ngại từ bộ máy công quyền đã hạn chế quyền tự do tôn giáo.
Không có bất kỳ thay đổi nào về mức độ tôn trọng tự do tôn giáo của Chính phủ trong giai đoạn báo cáo này tường trình.
Chính phủ nhìn chung cho phép ngày càng nhiều các cá nhân và các nhóm bày tỏ đức tin tôn giáo của họ. Hầu hết các nhóm tôn giáo cho biết việc tụ họp công khai để hành đạo đã dễ dàng hơn trước. Tuy nhiên, Chính phủ yêu cầu các nhóm tôn giáo phải đăng ký mọi hoạt động và tích cực sử dụng yêu cầu này để hạn chế và cản trở tín đồ tham gia các nhóm tôn giáo chưa được công nhận, trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và một số nhóm Tin Lành, Hòa Hảo.
Do thiếu quy trình đúng đắn và việc kiểm soát thiếu thống nhất, nên các hoạt động tôn giáo có thể bị lệ thuộc vào sự tùy tiện của các quan chức địa phương. Trong một số trường hợp, đã có báo cáo nói rằng các quan chức địa phương thông báo với các chức sắc tôn giáo rằng các bộ luật của quốc gia không được áp dụng trong địa bàn của họ. Trong một số trường hợp khác, các nhóm Tin Lành đã được công nhận và chưa được công nhận đã vượt qua được sự sách nhiễu của chính quyền địa phương, hay đảo ngược các quyết định tiêu cực ở cấp địa phương sau khi khiếu nại lên chính quyền cấp cao hơn.
Hàng trăm điểm nhóm thuộc Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc vẫn đang chờ chính quyền giải quyết đơn đăng ký của mình. Các lý do khiến việc đăng ký bị chậm trễ hoặc bị bác đơn thường là các trở ngại về mặt hành chính, chẳng hạn như khai đơn chưa đúng thủ tục hoặc không cung cấp đầy đủ thông tin. Chính quyền địa phương cũng đưa ra các quan ngại mơ hồ về vấn đề an ninh và nói rằng quyền lực chính trị của họ có thể bị đe dọa, hoặc rằng sẽ xảy ra xung đột giữa những người theo các đức tin truyền thống và những người mới cải đạo sang Thiên Chúa giáo. Trong năm, chính quyền địa phương đã cho đăng ký khoảng 30 điểm nhóm thuộc Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc.