Báo cáo tình hình buôn người năm 2022
Part 2
Quy định cách ly bắt buộc và các lệnh hạn chế khác để phòng dịch đã ảnh hưởng tiêu cực đến một số dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ nạn nhân trong kỳ báo cáo. Chính quyền tiếp tục trợ giúp các nhóm dễ bị tổn thương, trong đó có nạn nhân buôn người thông qua 51 trung tâm bảo trợ xã hội và 43 trung tâm dịch vụ xã hội trên cả nước; một số cơ sở này hoạt động bằng nguồn kinh phí của các tổ chức phi chính phủ, và không có cơ sở nào cung cấp dịch vụ dành riêng cho nạn nhân là nam giới hoặc trẻ em. Trong kỳ báo cáo, Chính phủ cũng công bố một loạt các hành động liên quan đến bảo vệ nạn nhân nhằm sửa đổi, bổ sung hoặc làm rõ các chính sách, pháp luật và sáng kiến hiện hành. Tháng 5 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định chính thức phê duyệt Chương trình quốc gia về phòng ngừa và giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2021-2025, tập trung vào việc cung cấp hỗ trợ kịp thời cho tất cả trẻ em là nạn nhân của buôn bán người vì mục đích tình dục và cưỡng bức lao động. Chính phủ cũng đã thông qua một văn bản mới hướng dẫn luật người lao độngViệt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020, trong đó bổ sung hoặc tăng cường các phương án trợ giúp về tài chính, pháp lý và dạy nghề cho người lao động Việt Nam trở về nước trước khi hết hạn hợp đồng, trong đó bao gồm những người chạy trốn khỏi tình trạng lao động cưỡng bức. Một chính sách mới khác về phát triển các dự án tạo thu nhập cho nạn nhân buôn người sống sót trở về trong các cộng đồng người dân tộc thiểu số ở miền núi. Nhà chức trách không cung cấp thông tin về việc thi hành các chính sách này trong năm 2021. Nhà chức trách cho phép các nạn nhân ở tại các cơ sở trợ giúp tối đa là 3 tháng và có trợ cấp tiền ăn và hỗ trợ y tế theo một thông tư được ban hành năm 2020. Một nghị định được ban hành trong kỳ báo cáo trước quy định nạn nhân của tội phạm buôn người ra nước ngoài được hưởng 4 dịch vụ hỗ trợ: nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại, hỗ trợ y tế, hỗ trợ tâm lý và trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, các tổ chức phi chính phủ báo cáo rằng chính phủ không có các nhân viên công tác xã hội được đào tạo đầy đủ hoặc có kinh nghiệm để cung cấp sự hỗ trợ thích hợp cho nạn nhân buôn người. Pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền có đại diện pháp lý cho nạn nhân buôn người; luật không yêu cầu nạn nhân phải có mặt trước tòa án hoặc khai báo trực tiếp tại tòa án. Luật cũng cho phép nạn nhân buôn người được bồi thường trong các vụ án xét xử tội phạm buôn bán người; chính phủ không cung cấp dữ liệu đầy đủ về bồi thường, nhưng thông qua rà soát hồ sơ các vụ án cho thấy có ít nhất 7 vụ tòa án quyết định bồi thường từ 10 triệu VNĐ đến 100 triệu đồng ((từ 439 đến 4.390 đô la) trong năm 2021 (trong năm 2020, có ít nhất 10 vụ án mà tòa án quyết định bồi thường với dữ liệu không được bóc tách, mức bồi thường cao nhất là 45,3 triệu đồng, tương đương 1.990 đô la). Chính phủ khuyến khích các nạn nhân buôn người hỗ trợ trong các quy trình tố tụng tư pháp chống lại bọn buôn người; tuy nhiên, các tổ chức phi chính phủ trước đây báo cáo rằng các nạn nhân thường ít có khả năng khai báo về việc họ bị lạm dụng trong quy trình tố tụng tư pháp do lo sợ rằng họ có thể bị bắt hoặc bị trục xuất vì vượt biên không có giấy tờ. Trong kỳ báo cáo, Bộ Công an đã thiết lập 25 phòng điều tra thân thiện với trẻ em ở cấp tỉnh để hỏi cung người dưới 18 tuổi, nhưng nhà chức trách không cung cấp số liệu thống kê về việc sử dụng các phòng này.
Chính phủ tiếp tục đào tạo cán bộ các cơ quan về xác định nạn nhân và bảo vệ nạn nhân. Trên cơ sở phối hợp với một tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao tiếp tục xây dựng quy trình chuyển nạn nhân chuẩn cho các cán bộ ngoại giao để hỗ trợ phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài là nạn nhân của bạo lực, trong đó có nạn buôn người. Tuy nhiên, sự đồng lõa của cán bộ nhà nước là mối quan ngại đáng kể trong kỳ báo cáo, trong đó có các vụ việc được cho là được thực hiện bởi hai cán bộ ngoại giao Việt Nam. Theo báo cáo, một cán bộ Bộ Ngoại giao đã sách nhiễu, đe dọa và hạn chế liên lạc đối với một số nạn nhân trong vụ cưỡng bức lao động ở Ả rập Xê út đã đề cập ở trên sau khi những nạn nhân này cố gắng yêu cầu trợ giúp. Một số nạn nhân trốn thoát và cố gắng tìm kiếm sự trợ giúp tại Đại sứ quán Việt Nam, nhưng họ bị chính cán bộ ngoại giao nói trên ép buộc trở về với bọn buôn người. Trong các vụ việc khác, sau khi nạn nhân sống sót tìm kiếm nơi tạm lánh ở một tổ chức địa phương, chính cán bộ đó đã lừa gạt họ với những lời hứa hẹn cho hồi hương, để dụ dỗ họ ra ngoài và sau đó “bán” họ cho những chủ sử dụng lao động mới ở địa phương, để rồi những người này tiếp tục bóc lột họ và cưỡng bức lao động. Các tổ chức phi chính phủ và cảnh sát Ả rập Xê út đã giúp hầu hết các nạn nhân phục hồi và trở về nước mà không có bất kỳ sự trợ giúp nào của chính phủ Việt Nam – mặc dù một đạo luật của Việt Nam quy định bắt buộc chi trả chi phí hồi hương cho tất cả người Việt Nam là nạn nhân của tình trạng buôn người ra nước ngoài. Một tổ chức quốc tế đã phỏng vấn 10 người trong số những phụ nữ trở về từ Ả rập Xê út và xác định 4 người trong số họ là nạn nhân buôn người. Nhà chức trách địa phương cố gắng yêu cầu một đại diện ở Việt Nam của một trong các công ty đã đưa họ đi nước ngoài phải bồi thường cho nạn nhân; tuy nhiên, số tiền bồi thường chỉ được chi trả một phần hoặc thậm chí không hề được chi trả trong một số trường hợp. Theo báo cáo, chính quyền đã kiểm tra, thanh tra và xử phạt hành chính 10 trong số 20 doanh nghiệp đưa người lao động đi Ả rập Xê út, nhưng nhà chức trách không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi giúp sức cho tội phạm buôn người của các doanh nghiệp này. Nhà chức trách cũng đã xử phạt một công ty xuất khẩu lao động do không giải quyết được tranh chấp với người lao động về tiền lương, nhưng các đại diện của tổ chức phi chính phủ giải thích đây là hành động trả đũa của chính quyền đối với việc công ty này nỗ lực cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các nạn nhân. Ở Việt Nam, theo báo cáo, công an đã sách nhiễu và giám sát người nhà của một số nạn nhân hơn là hỗ trợ họ nhằm dập tắt các cáo buộc cán bộ nhà nước đồng lõa với bọn buôn người.
Do thiếu sự thực thi có hệ thống các quy trình sàng lọc lấy nạn nhân làm trung tâm trong các cuộc kiểm tra của công an đối với các cơ sở có nguy cơ cao nhất về buôn người vì mục đích tình dục, nhà chức trách có thể đã trừng phạt một số phụ nữ và trẻ em hành nghề mại dâm về những hành vi bất hợp pháp mà bọn buôn người ép buộc họ phải thực hiện. Ngoài ra, bất cập này cũng tiếp tục khiến cho nạn nhân là người nước ngoài, bao gồm cả trẻ em, có nguy cơ bị trục xuất cao, mặc dù chính quyền khẳng định đã sàng lọc tất cả các cá nhân bị trục xuất theo các dấu hiệu cảnh báo về buôn người và không xác định được nạn nhân nào trong các vụ việc nói trên. Xã hội dân sự đã từng báo cáo rằng các nạn nhân Việt Nam di cư bằng các phương tiện không chính thức, hoặc đã bị ép buộc thực hiện các hoạt động bất hợp pháp do họ trở thành nạn nhân buôn người lo sợ bị nhà chức trách Việt Nam trả thù. Những nạn nhân này ít có khả năng hơn trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ, và dễ trở thành nạn nhân buôn người một lần nữa. Các quan sát viên quốc tế trước đây cho biết các quan chức chính phủ thường đổ lỗi cho công dân Việt Nam về tình trạng họ bị bóc lột ở nước ngoài hoặc cho rằng các nạn nhân đã thổi phồng việc họ bị lạm dụng để tránh bị truy cứu về các vi phạm pháp luật xuất nhập cảnh. Chính phủ không công bố việc cho các nạn nhân nước ngoài các lựa chọn pháp lý thay thế cho việc rời khỏi nước mà họ phải đối mặt với sự trả thù hay khó khăn.
PHÒNG NGỪA
Chính phủ đã tăng cường các nỗ lực phòng ngừa tình trạng buôn người. Ban chỉ đạo do một phó thủ tướng làm trưởng ban, bộ trưởng và một thứ trưởng Bộ Công an làm phó ban, tiếp tục chỉ đạo công tác chống buôn người của Việt Nam. Chính phủ duy trì Kế hoạch hành động quốc gia về chống buôn người giai đoạn 2021-2025. Ngân sách dành cho phòng chống buôn người của chính phủ năm 2021 là 17 tỷ đồng (746.760 đô la), tăng so với ngân sách năm 2020 là 15,44 tỷ đồng (678.100 đô la). Nhà chức trách không báo cáo ngân sách được phân bổ cho mỗi tỉnh ít hơn con số này (so với 9,8 tỷ đồng hay 430.490 đô la được phân bổ cho mỗi tỉnh năm 2020). Chính quyền trung ương, bao gồm các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tiếp tục tổ chức một số chiến dịch quy mô lớn nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về chống buôn người, nhiều chiến dịch trong số đó có sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của các tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các bộ khác, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ đã tổ chức các chiến dịch nâng cao nhận thức để quảng bá về đường dây nóng. Chính phủ không công bố bất kỳ thông tin nào về việc thực thi kế hoạch hành động quốc gia, nhưng chính phủ tiếp tục giám sát và đánh giá những tiến triển của mình trong việc thực thi kế hoạch thông qua các báo cáo nội bộ hàng tuần, hàng tháng và 6 tháng.
Năm 2021, chính phủ phối hợp với một tổ chức quốc tế thông qua luật sửa đổi, bổ sung Luật số 69 cấm thu phí môi giới và dịch vụ đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và mở rộng phạm vi bảo vệ đối với người lao động, trong đó có quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động. Đáng chú ý là luật xóa bỏ các khoản phí dịch vụ do người lao động chi trả đối với người lao động Việt Nam tham gia Chương trình đào tạo thực tập sinh kỹ thuật của Nhật Bản, trong đó các khoản phí và hoa hồng đã khiến cho hàng ngàn người lao động Việt Nam rơi vào nguy cơ cao bị cưỡng bức lao động để trừ nợ. Luật này cũng quy định thêm sự bảo vệ đối với các thuyền viên, các biện pháp phòng ngừa trên tàu cá và quy định bắt buộc phải có nhân sự hỗ trợ ở các nước tiếp nhận lao động di cư chủ yếu, bên cạnh các điểm mới khác của luật. Một nghị định khác quy định các khoản phí bổ sung là hình thức phạt đối với các doanh nghiệp săn mồi sử dụng các thủ đoạn quảng cáo sai sự thật hoặc tuyển dụng lao động có tính chất lừa đảo để nhử người lao động nhằm mục đích bóc lột hoặc cưỡng bức lao động; hoặc đối với doanh nghiệp không tiến hành đào tạo cho người lao động trước khi đưa họ ra nước ngoài hoặc không bồi thường thiệt hại cho người lao động; hoặc thu các khoản phí bất hợp pháp từ người lao động. Nhà chức trách không cung cấp thông tin về việc thi hành các quy định mới này. Quy định về tuyển dụng lao động của một số quốc gia tiếp nhận lao động đôi khi mâu thuẫn với các quy định mới nói trên; ví dụ, Nhật Bản thông qua một văn bản năm 2021 quy định rằng người lao động Việt Nam vẫn phải chi trả phí dịch vụ để được tham gia vào các chương trình làm việc ở nước này. Theo báo cáo, các công ty tuyển dụng lao động Việt Nam - đặc biệt là các công ty có liên hệ với các doanh nghiệp nhà nước, và các bên môi giới không có giấy phép – tiếp tục thu phí của người lao động tìm kiếm việc làm ở nước ngoài với mức cao hơn so với mức luật cho phép, khiến cho nhiều người lao động bị mắc nợ nần nhiều và bị bọn buôn người lợi dụng để bóc lột. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận được 58 đơn khiếu nại dân sự liên quan đến tuyển dụng lao động trong năm 2021, giảm so với 160 đơn khiếu nại trong năm 2020; dẫn đến việc thanh tra 16 doanh nghiệp xuất khẩu lao động, trong đó Bộ đã xử phạt vi phạm hành chính đối với 12 doanh nghiệp, tổng số tiền phạt là 699 triệu đồng (30.710 đô la), giảm so với 84 cuộc thanh tra và 32 doanh nghiệp bị xử phạt lên đến 2 tỷ đồng (87.850 đô la) trong năm 2020. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội không thu hồi giấy phép kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp tuyển dụng lao động nào do vi phạm Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006 (trong năm 2020 thu hồi 6 giấy phép kinh doanh). Nhà chức trách tiếp tục làm việc với công an địa phương để điều tra và xác minh 128 trường hợp các tổ chức, cá nhân đưa người lao động đi nước ngoài mà không có giấy phép (giảm so với 150 trường hợp trong năm 2020). Trên cơ sở phối hợp với một tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ nước ngoài, chính phủ tổ chức hội thảo lấy ý kiến thẩm định tài liệu tập huấn về chống buôn người dành cho Bộ đội Biên phòng và công an Việt Nam. Trong những năm trước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức nâng cao nhận thức về pháp luật lao động và các thực tiễn lao động di cư an toàn cho các trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số báo cáo của các tổ chức phi chính phủ cho thấy Việt Nam không thực hiện các nỗ lực đầy đủ để giáo dục công chúng về những rủi ro vốn có của việc tìm kiếm việc làm ở nước ngoài thông qua các công ty xuất khẩu lao động không trung thực hoặc các kênh tuyển dụng lao động tiềm ẩn nhiều nguy cơ.
Trong năm 2021, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục đàm phán với chính phủ các nước I-xra-en và Cô-oét để ký kết các thỏa thuận hợp tác về lao động; tuy nhiên tính đến cuối kỳ báo cáo, việc ký kết các thỏa thuận này vẫn chưa hoàn tất. Chính phủ cũng duy trì các thỏa thuận về lao động di trú hiện hành với Chính phủ Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất dành cho người lao động giúp việc gia đình và với Chính phủ Nhật Bản về công nhân kỹ thuật lành nghề và thực tập sinh. Chính phủ cũng duy trì Biên bản ghi nhớ về hợp tác năm 2017 với Chính phủ Nhật Bản về tăng cường bảo vệ công dân Việt Nam tham gia Chương trình đào tạo thực tập sinh kỹ thuật của Nhật Bản trong bối cảnh vẫn tiếp tục có các báo cáo về tình trạng bóc lột nghiêm trọng người lao động Việt Nam. Các báo cáo trước đây cho thấy chính quyền không thực hiện giám sát đầy đủ hợp đồng và các quy trình tuyển dụng theo một số thỏa thuận song phương nói trên. Ở trong nước, các quan sát viên của các tổ chức phi chính phủ lưu ý rằng do người lao động không thể thành lập tổ chức công đoàn độc lập nên sự bảo vệ các quyền của người lao động tiếp tục bị hạn chế, và việc hạn chế quyền tự do biểu đạt và tự do lập hội tiếp tục cản trở một số thảo luận công khai về các vấn đề quyền lao động và quyền đất đai cơ bản liên quan đến nguy cơ trở thành nạn nhân buôn người. Khác với năm 2021, chính quyền đã nỗ lực giảm nhu cầu mua dâm và du lịch tình dục trẻ em, trong đó có việc ban hành một nghị định mới tăng mức xử phạt lên gấp đôi đối với vi phạm hành chính liên quan đến “mại dâm” và buộc các doanh nghiệp tiếp tay cho mại dâm phải chịu trách nhiệm. Chính quyền không thực hiện các biện pháp từ chối nhập cảnh đối với những người Mỹ đã từng phạm tội về tình dục .
THỰC TRẠNG BUÔN NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Như đã báo cáo trong 5 năm qua, bọn buôn người bóc lột các nạn nhân trong nước và nước ngoài ở Việt Nam và bóc lột các nạn nhân từ Việt Nam đi ra nước ngoài. Đàn ông và phụ nữ Việt Nam di cư ra nước ngoài để lao động không chính thức, thông qua các mạng lưới môi giới bất hợp pháp do người Việt Nam ở nước ngoài điều hành, hoặc thông qua các công ty tuyển dụng lao động của nhà nước hoặc các công ty tuyển dụng lao động do nhà nước quản lý. Một số công ty tuyển dụng không đáp lại các yêu cầu trợ giúp của người lao động trong những trường hợp họ bị bóc lột, và một số công ty thu phí quá cao khiến cho người lao động dễ bị rơi vào tình trạng buộc phải lao động trừ nợ. Bọn buôn người biến các nạn nhân trở thành đối tượng của cưỡng bức lao động trong các ngành xây dựng, nông nghiệp, khai thác mỏ, công nghiệp hàng hải, khai thác gỗ và công nghiệp chế tạo, chủ yếu ở Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Lào, Nhật Bản, và một số vùng ở Trung Đông, châu Âu và Vương quốc Anh với mức độ ít hơn, ví dụ trong các cửa hàng làm móng và các trang trại trồng cần sa. Ngày càng có nhiều báo cáo về nạn nhân buôn người là người lao động Việt Nam ở Đài Loan, châu Âu lục địa, Trung Đông, và trong các ngành công nghiệp hàng hải Thái Bình Dương, trong đó có các tàu đánh cá của Inđônêxia và Đài Loan hoạt động dưới chế độ sở hữu và đăng ký phức tạp khiến cho bọn buôn người có thể trốn tránh sự phát hiện và can thiệp của cán bộ thực thi pháp luật. Theo báo cáo, bọn buôn người Việt Nam, bao gồm cả cán bộ ngoại giao Việt Nam, đã đưa công dân Việt Nam vào tình trạng lao động cưỡng bức ở Ả rập Xê út. Nhiều công dân Việt Nam bị cưỡng bức lao động trong Chương trình đào tạo thực tập sinh kỹ thuật của Nhật Bản và trong các chương trình giáo dục nông nghiệp ở I- xra-en. Công dân Việt Nam bị hạn chế tự do di chuyển, bị tịch thu giấy tờ đi lại và giấy tờ tùy thân, bị đe dọa bạo lực thân thể, phải chịu điều kiện sống và làm việc nghèo nàn, hợp đồng không chính thức, bị lừa đảo tuyển dụng và buộc trục xuất tại các nhà máy do người Trung Quốc sở hữu có liên hệ với Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc ở khu vực Ban-căng. Các lệnh hạn chế đi lại càng làm trầm trọng thêm các nguy cơ này đối với nhiều người lao động di cư Việt Nam ở nước ngoài, buộc một số người phải ở lại vị trí của họ một thời gian dài sau khi hết hạn hợp đồng.
Bọn buôn người ngày càng lợi dụng tình trạng thất nghiệp do đại dịch để dụ dỗ người Việt Nam – đặc biệt là phụ nữ và người dân tộc thiểu số - với những lời hứa hẹn giả dối về các cơ hội việc làm ở nước ngoài. Bọn buôn người bóc lột phụ nữ và trẻ em Việt Nam là nạn nhân của tình trạng buôn bán nô lệ tình dục ra nước ngoài; nhiều người bị lừa gạt về các cơ hội lao động và sau đó bị bán cho các nhà thổ ở vùng biên giới Trung Quốc, Campuchia, Lào và các nước châu Á khác, Tây Phi và châu Âu. Ngày càng có nhiều phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam trở thành nạn nhân của buôn bán nô lệ tình dục ở My-an-ma. Một số phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài để kết hôn theo môi giới quốc tế hoặc để làm việc trong các nhà hàng, cơ sở mát-xa, quán bar karaoke - ở các nước như My-an-ma, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Trung Quốc, Ả rập Xê út, Singapore, và Đài Loan - bị cưỡng bức trở thành nô lệ giúp việc gia đình hoặc nô lệ tình dục. Theo báo cáo, bọn buôn người ở các bản làng khu vực biên giới đã bắt cóc phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ người dân tộc thiểu số H’mông, và vận chuyển họ sang Trung Quốc để ép buộc kết hôn, đây là thực tiễn thường dẫn đến buôn bán nô lệ tình dục và/hoặc lao động cưỡng bức. Có các báo cáo về việc phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam bị ép buộc mang thai, trong đó có những trường hợp bọn buôn người dụ dỗ họ đến Trung Quốc với những cơ hội việc làm giả tạo, bắt cóc họ tại biên giới và vận chuyển họ đến các bệnh viện không chính thức, tại đó họ bị ép buộc thụ tinh nhân tạo và bị giam giữ cho đến khi sinh con. Theo báo cáo, phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam dễ trở thành nạn nhân lao động cưỡng bức và buôn bán nô lệ tình dục ở các “quán bar nữ” – các điểm giải trí quảng cáo các dịch vụ “kèm theo”, thường liên quan đến quan hệ tình dục với phụ nữ trẻ và trẻ em gái - ở các khu vực đô thị ở Nhật Bản. Các băng nhóm tội phạm có tổ chức hoạt động trong các đặc khu kinh tế ở Đông Nam Á – đặc biệt là ở đặc khu kinh tế Tam giác vàng tại điểm giao giữa biên giới My-an-ma, Thái Lan và Lào – đã biến công dân Việt Nam trở thành nạn nhân của việc tuyển dụng lừa đảo và buôn bán nô lệ tình dục. Bọn buôn người ngày càng gia tăng sử dụng internet, các trang web chơi game và đặc biệt là mạng xã hội để nhử các nạn nhân, lan rộng hoạt động buôn người, và kiểm soát nạn nhân bằng cách hạn chế họ truy cập mạng xã hội, mạo danh họ phát tán thông tin sai lệch trên mạng. Đàn ông thường dụ dỗ phụ nữ trẻ và trẻ em gái vào các mối quan hệ hẹn hò trên mạng và thuyết phục họ ra nước ngoài, sau đó biến họ thành nạn nhân của cưỡng bức lao động hoặc nô lệ tình dục. Trong quá trình di cư, các băng nhóm tội phạm ở châu Âu và bọn buôn người thường bóc lột nạn nhân Việt Nam dưới hình thức cưỡng bức lao động hoặc bóc lột tình dục trước khi nạn nhân đến được đích cuối cùng. Người điều hành các đồn điền nông nghiệp do người Việt Nam sở hữu đã biến người lao động di cư ở địa phương trở thành nạn nhân lao động cưỡng bức ở Lào.
Ở trong nước, tình trạng thất nghiệp liên quan đến đại dịch, hạn chế đi lại và các yếu tố khác gây sức ép về kinh tế - xã hội đã làm tăng nguy cơ trở thành nạn nhân buôn người, đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em ở các vùng nông thôn và vùng dân tộc thiểu số.
Bọn buôn người đôi khi chính là cha mẹ, thành viên trong gia đình, hoặc các mạng lưới buôn người quy mô nhỏ, bóc lột đàn ông, phụ nữ và trẻ em Việt Nam - trong đó có trẻ em lang thang và trẻ em khuyết tật - biến họ thành nạn nhân của cưỡng bức lao động, mặc dù có rất ít thông tin về các vụ việc này. Một nghiên cứu cho thấy 80% nạn nhân buôn người ở Việt Nam là thành viên các cộng đồng dân tộc thiểu số. Một nghiên cứu khác cho thấy 5,6% trẻ em Việt Nam có thể đã từng bị cưỡng bức lao động hoặc bóc lột có dấu hiệu của buôn người hoặc trong bối cảnh di cư, trong đó trẻ em nông thôn và các cộng đồng nghèo đói có nguy cơ đặc biệt cao. Bọn buôn người bóc lột trẻ em và người đã thành niên dưới hình thức cưỡng bức lao động trong ngành may mặc, ép buộc trẻ em hành nghề bán rong và ăn xin trên đường phố ở các trung tâm đô thị lớn, cưỡng bức nạn nhân lao động hoặc lao động để trừ nợ trong các nhà máy gạch, các gia đình ở đô thị và các mỏ vàng ở nông thôn do tư nhân khai thác. Bọn buôn bán nô lệ tình dục nhắm mục tiêu vào nhiều trẻ em đến từ các vùng nông thôn nghèo và ngày càng nhiều phụ nữ đến từ tầng lớp trung lưu và khu vực đô thị. Bọn buôn người cũng ngày càng gia tăng bóc lột trẻ em gái thuộc các cộng đồng người dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, bao gồm bóc lột nô lệ tình dục và nô lệ giúp việc gia đình, bằng cách lợi dụng tập quán “bắt cóc cô dâu” truyền thống để thực hiện hoạt động tội phạm của chúng. Khách du lịch tình dục trẻ em, theo báo cáo đến từ châu Á, Vương quốc Anh và các nước khác ở châu Âu, Ô-xtrây-lia, Ca-na-đa và Hoa Kỳ, bóc lột trẻ em ở Việt Nam.
Chính phủ Bắc Triều Tiên có thể đã cưỡng bức người lao động Bắc Triều Tiên làm việc ở Việt Nam. Trong năm 2021, chính phủ Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ báo cáo về tình trạng gia tăng số nạn nhân buôn người là phụ nữ và trẻ em gái người Campuchia quá cảnh qua Việt Nam để sang Trung Quốc. Trong các năm trước đây, có các báo cáo về việc một số cán bộ nhà nước Việt Nam, chủ yếu ở cấp xã và thôn, đồng lõa và giúp sức cho việc buôn bán hoặc bóc lột nạn nhân bằng cách nhận hối lộ của bọn buôn người, bỏ qua các dấu hiệu cảnh báo buôn người, và moi tiền để đổi lấy việc nạn nhân được đoàn tụ với gia đình. Năm 2019, chính phủ công bố đã chấm dứt tình trạng cưỡng bức lao động đối với người sử dụng ma túy trong các trung tâm cai nghiện 105. Một điều luật năm 2014 yêu cầu phải có trình tự tố tụng tư pháp trước khi tạm giữ người sử dụng ma túy trong các trung tâm cai nghiện bắt buộc và người bị tạm giữ chỉ phải làm việc tối đa bốn giờ một ngày. Đã có các báo cáo trước đây về việc tù nhân, trong đó có những người bất đồng chính kiến về chính trị và tôn giáo, bị cưỡng bức lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp chế tạo và các ngành nghề độc hại như chế biến hạt điều.
Thể loại:Báo cáo về nạn buôn người