Báo cáo tình hình buôn người năm 2022
Part 1
Chính phủ Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu về xóa bỏ nạn buôn người, và cũng không có những nỗ lực đáng kể để thực hiện việc này, thậm chí là không xem xét tác động của dịch COVID-19 đối với năng lực chống nạn buôn người của chính quyền, do đó Việt Nam bị tụt xuống danh sách theo dõi nhóm 3. Mặc dù không có nỗ lực đáng kể, chính quyền đã thực hiện một số biện pháp đối phó với nạn buôn người, bao gồm việc ban hành các chính sách điều tra chính thức lấy trẻ em làm trung tâm nhằm khắc phục những thiếu sót đã tồn tại từ lâu trong pháp luật hiện hành; tăng cường hợp tác quốc tế trong thực thi pháp luật; triển khai một quy trình đánh giá pháp luật hiện hành về chống buôn người để sửa đổi luật; đạt được sự gia tăng khiêm tốn trong việc xác định nạn nhân trong 5 năm; và trợ giúp được nhiều nạn nhân hơn so với năm 2020. Chính quyền cũng đã ban hành một loạt các chính sách để xóa bỏ các khoản phí dịch vụ và phí hoa hồng do người lao động chi trả mà lâu nay đã đặt người lao động Việt Nam trước rủi ro cao của việc trở thành nạn nhân lao động cưỡng bức để trừ nợ trong một số ngành và ở một số quốc gia nhập khẩu lao động chủ yếu. Tuy nhiên, chính quyền báo cáo số vụ kết án bọn buôn người bị giảm trong năm thứ 5 liên tiếp; và số vụ truy tố tội phạm buôn người cũng giảm đáng kể so với năm 2020. Nhà chức trách tiếp tục thanh tra hàng ngàn cơ sở có nguy cơ buôn bán nô lệ tình dục cao nhất mà không xác định được nạn nhân của tình trạng buôn bán nô lệ tình dục nào trong quá trình thanh tra, mặc dù tình trạng này rất phổ biến tại các cơ sở nói trên. Chính quyền không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hành chính đối với hai nhà ngoại giao Việt Nam được cho là đã đồng lõa dẫn đến hai người Việt Nam trở thành nạn nhân buôn người ra nước ngoài trong kỳ báo cáo, và chính quyền đã không có những nỗ lực đáng kể để bảo vệ nạn nhân trong những vụ việc trên. Ngược lại, đôi khi nhà chức trách đã sách nhiễu và gây sức ép đối với những nạn nhân sống sót và gia đình họ để cố gắng dập tắt những cáo buộc về việc cán bộ nhà nước đồng lõa trong các vụ buôn người.
CÁC KHUYẾN NGHỊ CẦN ĐƯỢC ƯU TIÊN: Phối hợp với các tổ chức phi chính phủ và xã hội dân sự để sửa đổi pháp luật về chống buôn người, bao gồm việc sửa đổi bộ luật hình sự để tội phạm hóa tất cả các hình thức buôn bán nô lệ tình dục trẻ em 16 tuổi và 17 tuổi phù hợp với pháp luật quốc tế * Truy tố nghiêm khắc tất cả các hình thức buôn người, kết án và trừng trị bọn buôn người, bao gồm các vụ án liên quan đến lao động cưỡng bức hoặc có cán bộ nhà nước đồng lõa; * Tiếp tục đào tạo cán bộ về các văn bản hướng dẫn thi hành Điều 150 và Điều 151 Bộ luật hình sự, tập trung vào việc xác định và điều tra các vụ án về cưỡng bức lao động và buôn người trong nước, bao gồm cả các vụ việc mà nạn nhân là nam giới. * Phối hợp với xã hội dân sự, cập nhật và đào tạo các cán bộ nhà nước về các văn bản hướng dẫn về xác định nạn nhân và tăng cường hợp tác liên ngành về xác định và trợ giúp nạn nhân trong số các nhóm dễ bị tổn thương, chẳng hạn như người lao động di cư, người hành nghề mại dâm, bao gồm phụ nữ và trẻ em gái được phát hiện trong các cuộc kiểm tra và thanh tra của cảnh sát đối với các cơ sở kinh doanh tiếp tay cho hoạt động mại dâm; lao động trẻ em; công dân Bắc Triều Tiên, công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. * Hoàn thiện và thực thi những sửa đổi của cơ chế chuyển nạn nhân quốc gia (NRM) năm 2014. * Xóa bỏ tất cả các khoản phí tuyển dụng do người lao động chi trả và các hình thức tuyển dụng lao động có tính chất săn mồi đối với người lao động di cư ra nước ngoài hoặc di cư đến Việt Nam; tăng cường các nỗ lực giám sát các công ty tuyển dụng lao động và bên thứ ba môi giới lại lao động, và giám sát thực hiện các điều khoản bảo vệ người lao động trong các hợp đồng ký kết với người lao động di cư; truy tố các mạng lưới môi giới lại lao động có tính chất săn mồi hoặc bất hợp pháp. * Mở rộng đào tạo cho các nhân viên công tác xã hội, các cán bộ có trách nhiệm phản ứng đầu tiên với nạn buôn người và tòa án về các phương pháp tiếp cận lấy nạn nhân làm trung tâm khi làm việc với nạn nhân buôn người, trong đó có sự quan tâm hỗ trợ dựa trên hiểu biết về sang chấn tâm lý. * Thực thi và phân bổ đủ nguồn lực cho kế hoạch hành động quốc gia giai đoạn 2021-2025. * Mời các chuyên gia độc lập xác minh về việc chấm dứt tình trạng lao động cưỡng bức trong các trung tâm cai nghiện ma túy và công khai kết quả xác minh.
HOẠT ĐỘNG TRUY TỐ
Chính quyền đã giảm các nỗ lực thực thi pháp luật, trong đó có việc không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hành chính đối với hai cán bộ được cho là đã đồng lõa trong các tội phạm về cưỡng bức lao động. Điều 150 Bộ luật hình sự tội phạm hóa hành vi buôn bán người lao động và buôn người vì mục đích tình dục đối với nạn nhân là người đã thành niên và quy định hình phạt tù từ 5 đến 10 năm và phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng (từ 879 đến 4.390 đô la). Điều 151 tội phạm hóa hành vi buôn bán người lao động và buôn người vì mục đích tình dục đối với nạn nhân là trẻ em dưới 16 tuổi và quy định hình phạt tù từ 7 đến 12 năm và phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu đồng (từ 2.200 đến 8.790 đô la). Các hình phạt này đủ mức độ nghiêm khắc, và hình phạt đối với hành vi buôn người vì mục đích tình dục tương xứng với các hình phạt quy định cho các tội phạm nghiêm trọng khác như tội hiếp dâm. Điều 150 không thống nhất với pháp luật quốc tế, áp dụng đối với trẻ em từ 16 tuổi đến 17 tuổi và yêu cầu phải có thủ đoạn ép buộc, lừa gạt, hoặc cưỡng bức thì mới cấu thành hành vi buôn người vì mục đích tình dục; do đó, quy định này không tội phạm hóa tất cả các hình thức buôn bán trẻ em vì mục đích tình dục. Theo báo cáo trước đây của các quan sát viên xã hội dân sự, điều này dẫn đến sự lúng túng của các tòa án về cách thức xử lý các vụ việc liên quan đến trẻ em 16 tuổi và 17 tuổi, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến buôn bán người lao động, và cản trở các thực tiễn tốt nhất theo cách tiếp cận lấy trẻ em làm trung tâm trong những vụ việc nói trên. Trong một nỗ lực khắc phục tình trạng này, năm 2021, Bộ Công an ban hành một chính sách mới quy định quy trình lấy trẻ em làm trung tâm trong điều tra tội phạm buôn người đối với nạn nhân dưới 18 tuổi; đây là văn bản đầu tiên do chính quyền ban hành hướng dẫn các cán bộ thực thi pháp luật xử lý các vụ án buôn người liên quan đến trẻ em 16 tuổi và 17 tuổi như là các vụ buôn bán trẻ em. Nhà chức trách không báo cáo số liệu thống kê về thực thi pháp luật trong năm 2021. Việt Nam vẫn duy trì luật phòng chống mua bán người năm 2011 có phạm vi rộng, tập trung chủ yếu vào các biện pháp phòng ngừa; luật này có một số quy định mâu thuẫn với các định nghĩa trong bộ luật hình sự. Theo các đại diện của các tổ chức phi chính phủ, một số cán bộ nhà nước không biết chắc chắn là áp dụng luật phòng chống mua bán người năm 2011 hay bộ luật hình sự khi xử lý các vụ án buôn người. Chính phủ đã hoàn thành tổng kết thi hành luật này và ban hành kế hoạch hành động gồm 6 bước để khắc phục những thiếu sót của luật, trong đó có khoảng trống về phạm vi điều chỉnh của luật đối với vụ việc buôn người liên quan đến trẻ em 16 tuổi và 17 tuổi, dự kiến luật sẽ được sửa đổi, bổ sung vào năm 2023. Chính phủ cũng đã ban hành quyết định chính thức phê duyệt chương trình bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng đầu tiên của Việt Nam giai đoạn 2021-2025, trong đó bao gồm hướng dẫn cụ thể về truy tố. Không có thông tin cụ thể hơn được công bố về nội dung của những sáng kiến nói trên hay tình trạng thực hiện các sáng kiến này vào cuối kỳ báo cáo.
Chính phủ tăng số vụ điều tra tội phạm buôn người trong năm 2021 nhưng giảm số vụ truy tố và kết án tội phạm buôn người so với năm trước. Mặc dù gặp phải những thách thức do đại dịch, chính phủ đã tiếp tục cung cấp dữ liệu thực thi pháp luật được bóc tách theo loại hình buôn người. Theo Bộ Công an, nhà chức trách đã điều tra 149 đối tượng bị tình nghi buôn bán người trong 77 vụ buôn người trong năm 2021 (so với 144 đối tượng bị tình nghi buôn bán người bị điều tra trong 110 vụ buôn người năm 2020). Con số này bao gồm 7 vụ điều tra buôn bán người vì mục đích tình dục, 3 vụ điều tra về cưỡng bức lao động, và 67 vụ điều tra về tình trạng bóc lột chưa được xác định cụ thể “vì mục đích giao hoặc nhận tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác” theo quy định tại Điều 150 và Điều 151 bộ luật hình sự (dữ liệu này không được bóc tách trong năm 2020). Nhà chức trách không cung cấp thông tin đầy đủ để xác định 67 vụ buôn người nói trên có đáp ứng định nghĩa về buôn người theo tiêu chuẩn quốc tế hay không. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã khởi tố 177 đối tượng bị tình nghi phạm tội buôn người trong 98 vụ án trong năm 2021, giảm so với 180 đối tượng trong 106 vụ án năm 2020. Trong số này, 120 đối tượng trong 68 vụ án đã bị truy tố, bao gồm 44 vụ án truy tố theo Điều 150 và 24 vụ án truy tố theo Điều 151; giảm so với 102 vụ án – 65 vụ truy tố theo Điều 150 và 37 vụ truy tố theo Điều 151 – liên quan đến 161 đối tượng trong năm 2020. 68 vụ truy tố bao gồm 14 vụ buôn bán người vì mục đích tình dục, 3 vụ lao động cưỡng bức và 51 vụ bóc lột chưa xác định rõ mục đích; 3 vụ liên quan đến tội phạm buôn người trong nước và 65 vụ buôn người xuyên quốc gia (giảm so với 79 vụ buôn bán người vì mục đích tình dục, 18 vụ lao động cưỡng bức và 5 vụ bóc lột chưa xác định rõ mục đích, với 5 vụ buôn người trong nước và 97 vụ buôn người xuyên quốc gia trong năm 2020). Các tòa án đã thụ lý 66 vụ án liên quan đến 132 đối tượng bị cáo buộc phạm tội buôn người nhưng chỉ đưa ra xét xử 49 vụ liên quan đến 94 bị cáo (giảm so với 107 vụ án được thụ lý liên quan đến 175 đối tượng bị cáo buộc phạm tội buôn người, dẫn đến xét xử 84 vụ liên quan đến 136 bị cáo trong năm 2020). Trong số 49 vụ truy tố, tòa án xét xử 27 vụ liên quan đến 51 bị cáo bị truy tố theo Điều 150 và 22 vụ liên quan đến 43 bị cáo bị truy tố theo Điều 151 (giảm so với 60 vụ và 95 bị cáo bị truy tố theo Điều 150 và 24 vụ và 136 bị cáo bị truy tố theo Điều 151 trong năm 2020). Việt Nam duy trì tỷ lệ kết án cao và tiếp tục áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với tội phạm buôn người. Hệ thống tòa án kết án tổng cộng 94 bị cáo (giảm so với 136 bị cáo bị kết án năm 2020) theo Điều 150 và Điều 151. Các bản án tuyên phạt bọn buôn người từ dưới 3 năm tù đến tù chung thân theo Điều 150 và Điều 151 (năm 2020 các bản án tuyên phạt bọn buôn người từ 3 năm tù đến 20 năm tù).
Trong kỳ báo cáo, tòa án đôi khi phải đóng cửa do đại dịch; tuy nhiên, để bảo đảm rằng các vụ án hình sự - bao gồm các vụ án về buôn bán người – được xét xử kịp thời, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nghị quyết cho phép tất cả các phiên tòa hình sự, dân sự và hành chính có thể được tiến hành trực tuyến bắt đầu từ tháng 1 năm 2022. Tòa án nhân dân tối cao cũng tiếp tục chỉ đạo các tòa án lên lịch xét xử vào cuối tuần, thuê thêm địa điểm hoặc sử dụng các địa điểm ngoài trời để tổ chức các phiên họp, và ưu tiên mở các phiên tòa sắp hết thời hạn xét xử. Các quan sát viên xã hội dân sự ghi nhận những cải thiện đáng kể trong việc thực thi pháp luật về chống buôn người ở một số tỉnh, trong đó có nỗ lực khắc phục tình trạng cưỡng bức lao động trẻ em trong ngành may mặc ở khu vực Tây Bắc. Dự liệu rằng các lệnh đóng cửa biên giới do đại dịch có thể dẫn đến gia tăng tình trạng buôn người trong nước, Bộ Công an đã ban hành các chính sách chỉ đạo cán bộ thực thi pháp luật tập trung vào việc phát hiện và xử lý tội phạm buôn người xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Công an tiếp tục tiến hành kiểm tra các cơ sở bị nghi ngờ buôn bán người vì mục đích tình dục, mặc dù có những thách thức liên quan đến đại dịch. Theo báo cáo, các cán bộ thực thi pháp luật đã tăng cường các hoạt động chia sẻ thông tin và hợp tác điều tra với các cơ quan đối tác ở Trung Quốc, Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Hoa Kỳ và một số quốc gia ở hạ lưu sông Mê kong, bao gồm các đặc khu kinh tế ở Lào. Chính phủ không nhận được yêu cầu dẫn độ nào liên quan đến các vụ việc buôn người trong năm 2021.
Năm 2021, một tùy viên lao động người Việt Nam ở Ả rập Xê út và một nhân viên khác bị cáo buộc đã trực tiếp giúp sức cho hành vi cưỡng bức lao động đối với một số người Việt Nam ở Ả rập Xê út. Chính quyền cho biết đã bắt đầu điều tra về vụ việc; quá trình điều tra vẫn tiếp diễn vào cuối kỳ báo cáo. Nhà chức trách cho phép viên chức ngoại giao nói trên tiếp tục giữ chức vụ và không khởi tố hay áp dụng bất kỳ chế tài xử phạt hành chính nào. Mặc dù nhà chức trách xử phạt hành chính đối với một số doanh nghiệp liên quan đến việc tuyển dụng gian dối hoặc vận chuyển các nạn nhân đến Ả rập Xê út, nhưng nhà chức trách không truy cứu trách nhiệm hình sự; một số kẻ đồng phạm này trở về Việt Nam hoặc di chuyển sang nước khác trong khu vực và theo báo cáo, họ vẫn tiếp tục các hoạt động tuyển dụng mà không bị xử phạt. Nhà chức trách Việt Nam đã xử phạt một công ty xuất khẩu lao động do không giải quyết được một vấn đề về thanh toán; công ty này cho rằng hành động này của chính quyền là sự trả đũa đối với nỗ lực của công ty trong việc trợ giúp một số nạn nhân báo cáo về tình trạng bị lạm dụng. Trong một vụ án khác, chính quyền bắt và khởi tố 4 viên chức lãnh sự cao cấp của Bộ Ngoại giao về hành vi âm mưu trục lợi bằng việc ép buộc những người Việt Nam bị kẹt lại ở nước ngoài trong đại dịch phải chi trả các khoản phí cao cắt cổ để được trở về nước – một nguồn cho vay nợ phổ biến mà bọn buôn người thường khai thác. Nhà chức trách không cung cấp thêm thông tin về những cáo buộc này, và các cáo buộc này dường như không xuất phát từ các sự việc xảy ra ở Ả rập Xê út nêu trên. Công an lưu ý rằng việc trích xuất, lưu trữ, phân tích chứng cứ điện tử cùng với những quy định không rõ ràng về việc chấp nhận chứng cứ điện tử tại tòa án đã ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng của chính quyền trong việc chống tội phạm buôn người trên Internet. Chính phủ tiếp tục cung cấp các khóa đào tạo về chống buôn người – đôi khi với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và chính phủ nước ngoài – cho các cán bộ nhà nước, bao gồm các cán bộ thực thi pháp luật, các lực lượng bảo vệ biên giới, kiểm sát viên, thẩm phán và các nhân viên công tác xã hội ở cấp huyện, tỉnh và xã. Trên cơ sở phối hợp với các nhà tài trợ nước ngoài, Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục xem xét và tổ chức các cuộc thảo luận về các vụ án buôn người đã kết thúc với nỗ lực phát triển án lệ để tham khảo trong các vụ án sau này.
BẢO VỆ NẠN NHÂN
Chính phủ duy trì các nỗ lực trong việc bảo vệ nạn nhân, nhưng hai cán bộ bị cáo buộc đồng lõa với bọn buôn người đã sách nhiễu, hăm dọa và tiếp tay cho việc tiếp tục bóc lột các nạn nhân buôn người sống sót mà không bị xử phạt. Năm 2021, chính phủ công bố đã xác định 126 nạn nhân buôn người, trong đó có 114 người là phụ nữ và 12 người là nam giới; 45 nạn nhân là trẻ em (tăng so với 121 nạn nhân được xác định năm 2020, trong đố có 112 người là phụ nữ, 9 người là nam giới và 32 nạn nhân là trẻ em). Trong số này, 120 nạn nhân là người Việt Nam, và 96 người là nạn nhân buôn người xuyên quốc gia. 22 người là nạn nhân của lao động cưỡng bức và 28 người là nạn nhân của “bóc lột tình dục”, một số người trong 28 nạn nhân này có thể nằm ngoài định nghĩa về buôn người theo tiêu chuẩn quốc tế. Hơn một nửa số nạn nhân được xác định (64 người) là thành viên các cộng đồng dân tộc thiểu số. 76 người là nạn nhân buôn người chưa xác định rõ mục đích; trong những năm trước, số này bao gồm nạn nhân của tình trạng “kết hôn bất hợp pháp” và “nuôi con nuôi bất hợp pháp”, cả hai trường hợp này đều nằm ngoài định nghĩa quốc tế về buôn người (năm 2020, các con số tương ứng là 64 và 3). Chính phủ áp dụng các tiêu chí xác định nạn nhân theo Sáng kiến phối hợp cấp bộ trưởng về chống buôn người tiểu vùng sông Mê kông (COMMIT) và quy trình riêng được phê chuẩn năm 2014 của mình để xác định nạn nhân; tuy nhiên, các quy trình xác định nạn nhân này vẫn chủ yếu mang tính chất phản ứng tình thế - hơn là mang tính chủ động – của các cơ quan chủ chốt. Quy trình xác định nạn nhân vẫn còn quá rắc rối và phức tạp, yêu cầu sự xác nhận của nhiều bộ để nạn nhân có thể chính thức được xác định và hỗ trợ. Các văn bản hướng dẫn thi hành kém hiệu quả về quy trình xác định nạn nhân đã ngăn cản bộ đội biên phòng, cán bộ thực thi pháp luật và các cán bộ nhà nước phát hiện và trợ giúp nạn nhân một cách đầy đủ. Nhà chức trách không chủ động sử dụng các tiêu chí COMMIT hoặc quy trình riêng của họ để sàng lọc các dấu hiệu cảnh báo về buôn người trong các nhóm dân số dễ bị tổn thương, bao gồm những người hành nghề mại dâm, những người quá cảnh qua biên giới, người lao động trong ngành ngư nghiệp và chế biến hải sản, người lao động di trú từ nước ngoài trở về và lao động trẻ em. Mặc dù tiến hành hơn 36.000 cuộc thanh tra các cơ sở kinh doanh có nguy cơ cao nhất về buôn người vì mục đích tình dục, nhà chức trách không xác định được bất kỳ nạn nhân buôn người vì mục đích tình dục nào trong các cuộc thanh tra này.
Chính phủ duy trì một quy trình chuyển nạn nhân chính thức trên toàn quốc được phê chuẩn năm 2014, nhưng cơ chế này không được thực thi một cách có hệ thống do một số cán bộ địa phương chưa quen thuộc với các quy tắc và chính sách chống tội phạm buôn người, thiếu sự hợp tác giữa các vùng, và năng lực hạn chế của các nhân viên công tác xã hội. Trong kỳ báo cáo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chủ trì thực hiện một quy trình liên bộ để rà soát và sửa đổi cơ chế chuyển nạn nhân quốc gia cũng như để soạn thảo các văn bản hướng dẫn bổ sung về tiếp nhận nạn nhân và cung cấp các dịch vụ bảo trợ nạn nhân buôn người; nhưng chưa hoàn thành hoạt động nào tính đến cuối kỳ báo cáo. Chính phủ không công bố tổng số nạn nhân được chuyển đến các trung tâm bảo trợ nạn nhân của các tổ chức phi chính phủ hoặc của nhà nước (năm 2020, có 25 nạn nhân được chuyển đến các trung tâm bảo trợ, 20 nạn nhân được chuyển đến công an, 19 nạn nhân được chuyển đến tổ chức phi chính phủ và 3 nạn nhân được chuyển đến Trung tâm phát triển phụ nữ thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam), và cũng không bóc tách dữ liệu về việc nạn nhân nhận được sự trợ giúp từ các tổ chức phi chính phủ hay từ các nguồn chính thức. Nhà chức trách có ghi nhận và giải quyết 111 yêu cầu trợ giúp nạn nhân dưới hình thức chăm sóc y tế và tâm lý, trợ giúp pháp lý, chỗ ở, nhu cầu thiết yếu, chi phí đi lại, đào tạo nghề và vay vốn (tăng so với 84 yêu cầu trợ giúp được giải quyết trong năm 2020). Những nạn nhân sống sót được hưởng lợi từ các dịch vụ này bao gồm 12 nạn nhân là nam giới, 99 nạn nhân là phụ nữ, và 5 nạn nhân là người nước ngoài – trong đó có 4 người Campuchia và 1 người Thái Lan (năm 2020 không có báo cáo về số liệu này). 34 nạn nhân có yêu cầu và đã được trợ giúp pháp lý. Về xác định nạn nhân, hơn một nửa số nạn nhân sống sót được trợ giúp là thành viên các nhóm dân tộc thiểu số (64 người). Với nguồn kinh phí tài trợ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục vận hành đường dây nóng hoạt động 24/24 giờ dành cho nạn nhân của tội phạm, trong đó có nạn nhân buôn người. Các nhân viên trực tổng đài đường dây nóng có thể nói tiếng Việt, tiếng Anh và 7 ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Mặc dù đường dây nóng báo cáo tổng số cuộc gọi nhận được có tăng – 3.808 cuộc gọi so với 2.826 cuộc gọi trong năm 2020 – nhưng số cuộc gọi liên quan đến nạn nhân buôn người trong kỳ báo cáo lại giảm: 35 cuộc gọi liên quan đến 39 nạn nhân, giảm so với 59 cuộc gọi liên quan đến số nạn nhân không xác định trong năm 2020. Đa số các trường hợp này (28 trường hợp) lên quan đến trẻ em. Các quan sát viên cho rằng sự thay đổi này là do tăng số trường hợp người mất tích được báo cáo và giảm số người dễ bị tổn thương di chuyển qua biên giới quốc tế trong thời gian áp dụng các lệnh hạn chế đi lại do đại dịch. Đường dây nóng đã chuyển 19 trường hợp trong số này đến công an để phục hồi và điều tra, 16 trường hợp đến Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để trợ giúp tiếp theo, 2 trường hợp đến một tổ chức phi chính phủ và một trường hợp đến nhà tạm lánh của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Chính phủ duy trì tùy viên lao động tại các phái đoàn ngoại giao ở các nước tiếp nhận số lượng lớn người lao động di cư Việt Nam có giấy tờ như Nhật Bản, Malaixia, Ả rập Xê út, Hàn Quốc, Đài Loan và Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất. Các phái đoàn ngoại giao này có thể cung cấp nhu yếu phẩm, dịch vụ vận chuyển và chăm sóc y tế cho công dân Việt Nam bị buôn bán ra nước ngoài. Nhà chức trách Bộ Ngoại giao không báo cáo dữ liệu đầy đủ về số người hồi hương, nhưng phái đoàn ngoại giao Việt Nam ở My-an-ma báo cáo đã tiếp nhận, xác định và cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ cho 16 nạn nhân nữ bị bóc lột tình dục là người Việt Nam tại nước này – bao gồm 14 phụ nữ và 2 trẻ em gái – tăng so với 9 nạn nhân trở về nước từ My- an-ma vào năm 2020. Bộ Ngoại giao đã làm việc với nhà chức trách My-an-ma để cấp kinh phí và tổ chức hồi hương cho 11 nạn nhân trong số 16 người nói trên, sau khi 5 người quyết định ở lại My-an-ma.