Báo cáo năm 2010 về nạn buôn người

Part 2

Chapter 22,752 wordsPublic domain (Wikisource)

Chính phủ Việt Nam đã thể hiện những nỗ lực trong việc tăng cường công tác thực thi pháp luật nhằm ngăn chặn việc buôn người bóc lột tình dục xuyên quốc gia, tuy nhiên những số liệu này của Chính phủ bao gồm cả một số tội danh không nằm trong tội danh buôn người chẳng hạn như bắt cóc và bán trẻ em làm con nuôi. Chính phủ cũng không có bất kỳ báo cáo nào về các vụ điều tra hay truy tố các trường hợp buôn bán người trong nước hay buôn bán lao động mà nạn nhân là công dân Việt Nam. Mặc dù các điều khoản quy định tại Điều 119 Bộ luật Hình sự có thể được sử dụng để khởi tố một số hình thức buôn người và trong năm nay đã được mở rộng phạm vi để bao gồm cả các nạn nhân là nam giới, nhưng các bộ luật hiện hành vẫn chưa điều chỉnh được toàn bộ các hình thức buôn người, trong đó có buôn người vì mục đích lao động và việc tuyển dụng để buôn người, che dấu các nạn nhân của nạn buôn người. Phần lớn những kẻ buôn người bị khởi tố theo Điều 119 và 120 của Bộ luật Hình sự, và những điều khoản này cũng có thể được sử dụng để truy tố nhiều tội danh khác có liên quan. Luật của Việt Nam không có các điều khoản điều chỉnh tội âm mưu thực hiện hành vi buôn bán người, đồng phạm và tổ chức hoặc chỉ đạo người khác thực hiện hành vi phạm tội. Trong năm qua, Chính phủ đã thừa nhận nạn buôn bán người vì mục đích lao động và buôn bán nam giới có xảy ra, Quốc hội cũng đã bỏ phiếu thông qua việc mở rộng các luật liên quan đến buôn bán người nhằm bao hàm cả những nạn nhân là nam giới. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn chưa có động thái nào để nhận diện các trường hợp buôn bán người vì mục đích lao động. Các luật về lao động hiện hành của Việt Nam không quy định các mức phạt hình sự đối với hành vi buôn người vì mục đích lao động.

Những tranh chấp về hợp đồng giữa người lao động và công ty tuyển dụng lao động xuất khẩu đặt tại Việt Nam hay các công ty tuyển dụng nước ngoài hầu như được giao hoàn toàn cho công ty tuyển dụng lao động xuất khẩu giải quyết. Mặc dù người lao động có quyền hợp pháp để đưa các vụ việc ra tòa, nhưng trong thực tế chỉ có rất ít các trường hợp có đủ nguồn lực để làm việc này, cũng không có số liệu nào cho thấy số nạn nhân Việt Nam bị buôn bán vì mục đích lao động được bồi thường trước tòa; do vậy, người lao động trên thực tế đã không thực hiện được quyền đòi bồi thường theo pháp luật một cách thỏa đáng. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết trong năm 2009, đã có 98 công ty tuyển dụng lao động bị phạt với tổng số tiền phạt là 10.900 đô-la Mỹ, hai công ty bị thu hồi giấy phép hoạt động. Tuy nhiên, Chính phủ không hề báo cáo về các vụ điều tra, truy tố hay kết án nào đối với những kẻ buôn người vì mục đích lao động trong suốt thời gian đánh giá của báo cáo này. Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam cho biết trong năm 2009 cảnh sát đã điều tra 183 vụ buôn bán người vì mục đích tình dục, bao gồm 440 kẻ tình nghi và kết án 360 kẻ phạm tội buôn bán người vì mục đích tình dục; tuy nhiên những số liệu này dựa trên Điều 119 và 120 Bộ luật Hình sự Việt Nam, trong đó điều chỉnh cả các tội danh không phải tội buôn bán người, bao gồm tội buôn người và bắt cóc trẻ em làm con nuôi. Hầu hết những người phạm tội bị kết án từ ba đến bảy năm tù giam. Chính phủ không báo cáo bất kỳ vụ truy tố hay kết án nào đối với các trường hợp buôn bán người bên trong lãnh thổ Việt Nam. Các vụ tham nhũng liên quan đến buôn người có xảy ra tại cấp địa phương, nơi các quan chức ở khu vực biên giới và cửa khẩu nhận hối lộ để làm ngơ trước những hoạt động này, tuy nhiên, chính phủ chưa bao giờ báo cáo về bất kỳ vụ điều tra hay truy tố cán bộ vì tội đồng lõa với bọn buôn người nào.

Bảo vệ nạn nhân

Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục có nỗ lực bảo vệ các nạn nhân của nạn buôn người xuyên biên giới vì mục đích tình dục, nhưng chính quyền cần tiếp tục tăng cường nỗ lực nhận diện hay bảo vệ nạn nhân của nạn buôn người vì mục đích lao động hay buôn người trong nước. Chính phủ đã không áp dụng các quy trình hệ thống trên phạm vi toàn quốc để chủ động nhận diện hiệu quả các nạn nhân của nạn buôn người trong những nhóm dễ bị tổn thương, ví dụ như phụ nữ bị bắt làm nghề mại dâm và những người lao động nhập cư hồi hương, và những nỗ lực nhận diện nạn nhân vẫn còn yếu ở tất cả các luồng nhập cư và buôn người được xác định. Lực lượng công an và biên phòng ở cấp tỉnh và huyện được đào tạo rất ít về cách thức nhận diện nạn nhân của nạn buôn người cũng như cách thức xử lý các trường hợp này, mặc dù ít nhiều cũng đã nâng cao được năng lực giám sát và điều tra của cán bộ, nhưng do thiếu đào tạo nên khiến các cuộc điều tra không hiệu quả và kỹ năng nghèo nàn khiến một số nạn nhân rơi vào tình huống bất lợi. Theo báo cáo của Ủy ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng chống nạn buôn người của Việt Nam, cảnh sát Việt Nam và nước ngoài đã nhận diện được 250 nạn nhân người Việt, các chính phủ nước ngoài đã nhận diện được 500 nạn nhân và đưa họ hồi hương, trong số này có 100 người bị đưa sang Hàn Quốc, Malaysia và Singapore; tuy nhiên, các số liệu của Việt Nam bao gồm một số vụ án liên quan đến việc trẻ em bị bắt cóc và bị bán làm con nuôi, một loại tội phạm không được xếp vào loại buôn bán người theo luật pháp Hoa Kỳ.

Chính phủ Việt Nam đã không cung cấp sự hỗ trợ và bảo vệ pháp lý đầy đủ cho gần 500.000 người lao động Việt Nam ở nước ngoài trong tình trạng bị lao động cưỡng bức. Trong năm vừa qua, đã có một số lượng lớn các báo cáo về việc các công ty xuất khẩu lao động thu tiền vượt mức. Trong một số ít trường hợp, chính quyền đã yêu cầu các công ty này phải trả người lao động khoản phí đã bị thu quá mức. Trong năm vừa qua, Chính phủ đã ký kết ba thỏa thuận mới với Libi, Các tiểu vương quốc Arập Thống nhất và Canađa về cung cấp lao động Việt Nam, tuy nhiên không rõ các hợp đồng ký với chính phủ của các nước có nhu cầu về lao động này có bao gồm các điều khoản về ngăn ngừa nạn buôn người và bảo vệ các nạn nhân của nạn buôn người hay không. Việt Nam không có Đại sứ quán ở nhiều quốc gia nơi xảy ra hoạt động buôn bán người và những biện pháp bảo vệ người lao động di cư cũng thường không hiệu quả; theo phản ánh thì những quan chức ngoại giao thường không phản hồi nhanh chóng với các khiếu nại về việc bị bóc lột, lạm dụng và bị buôn bán của những người lao động di cư. Các quy định của Chính phủ không cấm các công ty xuất khẩu lao động giữ hộ chiếu của người lao động khi họ đến nơi và được biết là các công ty này có thu các giấy tờ thông hành của người lao động, một nhân tố được coi là góp phần vào hoạt động buôn bán người. Người lao động Việt Nam không được trợ giúp pháp lý đầy đủ để có thể khởi kiện các công ty tuyển dụng lao động ra tòa trong những trường hợp mà họ có thể trở thành nạn nhân của nạn buôn người. Được biết, tháng 12 năm 2009, một tòa án Hà Nội đã bãi nại một vụ kiện dân sự do một số nạn nhân của vụ buôn bán lao động sang Jordan năm 2008 khởi kiện bốn công ty xuất khẩu lao động. Không có báo cáo nào về việc nạn nhân của các vụ buôn người vì mục đích lao động nhận được trợ giúp qua các tòa án dân sự ở Việt Nam.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã hợp tác với các tổ chức phi chính phủ thành lập 8 khu nhà tạm lánh ở ba tỉnh thành để tư vấn, đào tạo nghề cho các nạn nhân nữ của các vụ buôn bán người vì mục đích tình dục. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn thiếu nguồn lực và chuyên môn để hỗ trợ cho các hệ thống nhà tạm lánh này một cách đầy đủ. Hệ quả là ở nhiều nơi, các hệ thống nhà tạm lánh rất thiếu thốn, thiếu nguồn kinh phí hoạt động và nguồn nhân lực được đào tạo bài bản. Không nhà tạm lánh hay dịch vụ cụ thể nào được trang bị để hỗ trợ các nạn nhân nam của các vụ buôn người hay nạn nhân của các vụ buôn người vì mục đích lao động. Các dịch vụ tại nhà tạm lánh hiện tại chỉ tập trung hỗ trợ những nạn nhân nữ của nạn buôn người vì mục đích tình dục; Chính phủ đã kêu gọi các bộ, ngành cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân của nạn buôn người và mở rộng những dịch vụ này cho cả nam giới. Một tổ chức phi chính phủ cho biết bộ đội biên phòng Việt Nam đã đưa năm người đàn ông là nạn nhân bị buôn bán vì mục đích lao động đến một trung tâm đón tiếp nạn nhân, nơi có hỗ trợ y tế và đào tạo nghề. Các chính quyền báo cáo rằng những nạn nhân Việt Nam hồi hương nếu đã được chính quyền chính thức xác nhận là nạn nhân thì đều không bị phạt vì những hành động trái pháp luật họ đã làm do hệ lụy của việc bị buôn bán. Chính phủ có một hệ thống để nhận diện các nạn nhân của các vụ buôn người vì mục đích tình dục xuyên quốc gia, nhưng lại không có một hệ thống toàn diện để nhận diện các nạn nhân của các vụ buôn người trong nước hay buôn người vì mục đích lao động trong các nhóm dễ bị tổn thương. Một số nạn nhân bị bán làm lao động phản ánh là chính quyền đã không hỗ trợ họ để đòi lại khoản phí dịch vụ trong một số trường hợp hợp đồng bị chấm dứt trước thời hạn mà không phải do lỗi của người lao động thông qua hệ thống tòa án dân sự. Chính phủ khuyến khích các nạn nhân hỗ trợ quá trình truy tố những kẻ đã buôn bán họ, tuy nhiên không có số liệu về số nạn nhân tham gia và quá trình truy tố trong khoảng thời gian thực hiện báo cáo. Các nạn nhân thường miễn cưỡng tham gia vào các vụ điều tra hay xét xử do lo ngại bị xã hội kỳ thị, sợ bị cộng đồng nơi họ sinh sống lên án và thiếu động lực để tham gia và bảo vệ nhân chứng. Chưa có các biện pháp pháp lý nào khác để đưa những nạn nhân ở nước ngoài trở về nước nơi mà họ phải đối mặt với sự trừng phạt hay gặp nhiều khó khăn. Năm 2009, Bộ Công an, với sự trợ giúp của một tổ chức phi chính phủ, đã xây dựng những hướng dẫn nhằm bảo vệ các nạn nhân của nạn buôn người trong quá trình điều tra và truy tố. Cũng trong năm qua, lực lượng Biên phòng đã phối hợp với một tổ chức quốc tế để tiến hành đào tạo cho một số đồn biên phòng về nhận diện và hỗ trợ các nạn nhân của nạn buôn người.

Phòng ngừa

Chính phủ Việt Nam tiếp tục có những nỗ lực ngăn chặn nạn buôn người với sự hỗ trợ và hợp tác của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các nhà tài trợ nước ngoài. Mặc dù Chính phủ vẫn tiếp tục đẩy mạnh mục tiêu tăng xuất khẩu lao động, kể cả ở một số quốc gia nơi mà tình trạng những lao động di cư bị lạm dụng diễn ra rất phổ biến, nhưng lại chưa có những nỗ lực thích hợp để ngăn chặn việc buôn bán lao động bằng cách yêu cầu chính phủ của các nước nơi người lao động đến làm việc cung cấp các biện pháp bảo vệ phù hợp để chống lại việc cưỡng ép lao động những người lao động di cư của Việt Nam. Những quy định của Chính phủ về môi giới lao động và hôn nhân còn rất lỏng lẻo và thậm chí còn không tồn tại ở một số khu vực. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức các chiến dịch giáo dục về nguy cơ của việc bị buôn bán vì mục đích tình dục ở cấp địa phương, bao gồm cả các khu vực biên giới xa xôi. Chính phủ đã phát hành, đôi khi với sự trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ, cẩm nang về nguy cơ bị buôn bán dành cho người lao động Việt Nam ở nước ngoài, và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng đã phát những tờ rơi và lập một trang web về nhập cư vào nước ngoài an toàn. Các chính quyền cấp quốc gia và địa phương đã phối hợp với một tổ chức viện trợ nước ngoài và làm việc với kênh truyền hình MTV để tiến hành một chiến dịch nâng cao nhận thức về nạn buôn người tại năm thành phố lớn nhất Việt Nam. Ủy ban Quốc gia về Phòng chống nạn buôn người đã thu thập các ý kiến và đóng góp của các tổ chức phi chính phủ quốc tế về việc thực hiện Kế hoạch Hành động Quốc gia mới nhất về Phòng chống nạn buôn người. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp tục hợp tác với đối tác Hàn Quốc trong lĩnh vực tư vấn tiền hôn nhân nhằm ngăn chặn việc buôn bán phụ nữ Việt Nam thông qua kết hôn với người ngoại quốc. Tháng 9 năm 2009, Chính phủ đã ký một bản Hiệp định song phương với Campuchia về thống nhất quy trình hồi hương những nạn nhân bị buôn bán. Chính phủ cũng đã phát những tờ rơi về ngăn chặn du lịch tình dục trẻ em đến những khách du lịch nội địa và nước ngoài. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn chưa đạt được những thỏa thuận thỏa đáng với chính phủ những quốc gia là điểm đến về bảo vệ chống lại lao động cưỡng bức. Những quy định của Chính phủ về buôn người vì mục đích lao động vẫn còn lỏng lẻo. Việt Nam chưa tham gia vào Nghị định thư về Chống Buôn người năm 2000 của Liên Hợp Quốc.

  Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với  bản quyền của nội dung gốc.

Bản gốc:

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105 ).

Public domain Public domain false false

Bản dịch:

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105 ).

Public domain Public domain false false