Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền năm 2020
d. Bắt người hoặc giam giữ tùy tiện
Hiến pháp quy định rằng việc bắt bất kỳ cá nhân nào cũng phải có quyết định của tòa án hoặc viện kiểm sát, trừ trường hợp “phạm tội một cách rõ ràng”. Luật cho phép chính quyền bắt và giam giữ người “đến khi kết thúc điều tra” đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong đó có các vụ án về an ninh quốc gia. Người bị giam giữ có thể khiếu nại tính hợp pháp của việc họ bị giam giữ với cơ quan đã bắt họ, trừ trường hợp khiếu nại dựa trên căn cứ chính trị, nhưng người bị giam giữ hoặc người đại diện của họ không có quyền khiếu nại tính hợp pháp của việc bắt người trước tòa án. Có nhiều trường hợp nhà chức trách bắt hoặc giam giữ các nhà hoạt động hoặc những người chỉ trích chính quyền trái với quy định của luật hoặc dựa trên các căn cứ không xác thực. Nhà chức trách thường xuyên không cho các nhà hoạt động và nghi can phạm tội hình sự ra khỏi nhà mà không có cáo buộc phạm tội.
Thủ tục bắt và đối xử với người bị giam giữ
Theo luật, công an nói chung cần có lệnh của Viện kiểm sát nhân dân về việc bắt nghi can, dù trong một số trường hợp công an cần quyết định của tòa án. Bộ luật tố tụng hình sự cũng cho phép công an có quyền “bắt người” mà không cần lệnh bắt trong “trường hợp khẩn cấp”, chẳng hạn như có bằng chứng chứng minh một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm hoặc khi công an phát hiện một người phạm tội quả tang. Các luật sư bảo vệ nhân quyền đồng quan điểm rằng việc giam giữ người mà không có lệnh bắt là một thực tiễn phổ biến. Các luật sư và các tổ chức phi chính phủ về nhân quyền báo cáo rằng trong nhiều trường hợp, công an “mời” các cá nhân đến trình diện tại đồn công an mà không cung cấp lý do rõ ràng. Những cá nhân này sẽ bị giữ lại trong nhiều giờ và bị thẩm vấn hoặc bị yêu cầu viết hoặc ký vào các báo cáo. Nhiều trường hợp như vậy không có liên quan gì đến chính trị hoặc các vấn đề nhạy cảm. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp các nhà hoạt động bị giam giữ bởi các cá nhân mặc thường phục mà không có lệnh bắt.
Công an có thể tạm giữ nghi phạm trong 72 giờ mà không cần lệnh bắt. Trong các trường hợp này, Viện Kiểm sát nhân dân phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc bắt người trong vòng 12 giờ sau khi nhận được thông báo từ công an. Trên thực tế, nhất là trong các vụ án có động cơ chính trị, các thủ tục này không được áp dụng thống nhất và chặt chẽ.
Luật quy định phải ghi âm, ghi hình các cuộc hỏi cung bị can trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Trong trường hợp không thể tiến hành ghi âm, ghi hình, chỉ được phép hỏi cung nếu người bị hỏi cung đồng ý. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định này không được áp dụng thống nhất. Theo các nhà hoạt động nhân quyền, trong nhiều phiên tòa hình sự, các bản ghi hình được nhà chức trách sử dụng để gây ảnh hưởng đến nhận thức của tòa án và công chúng về bị can và về vụ án. Tại phiên tòa xét xử 29 người dân xã Đồng Tâm hồi tháng 9 (xem mục 1.a.), Viện kiểm sát đã trình chiếu nhiều clip trong đó các bị cáo có vẻ như đã thừa nhận các cáo buộc phạm tội đối với họ. Luật sư bào chữa cho các bị cáo cho biết clip này thể hiện không đúng ý chí của các bị cáo, và thực tế là họ đã bị ép buộc nhận tội trong clip đó.
Theo luật, Viện Kiểm sát nhân dân phải ban hành quyết định điều tra chính thức đối với người bị tạm giữ và thông báo cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong vòng ba ngày kể từ ngày bắt; nếu không, công an phải thả nghi phạm. Luật cho phép Viện kiểm sát nhân dân đề nghị tòa án có thẩm quyền đối với vụ án gia hạn thời gian tạm giữ hai lần, mỗi lần ba ngày, tối đa là chín ngày trước khi bắt đầu điều tra.
Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự quy định thời hạn tạm giam để điều tra, kể cả đối với các tội phạm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng (đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, một người có thể bị tạm giam đến 16 tháng), nhưng luật cho phép Viện kiểm sát nhân dân tối cao tạm giam một người “đến khi kết thúc điều tra” trong trường hợp phạm tội “đặc biệt nghiêm trọng”, trong đó có các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Chỉ sau khi kết thúc điều tra, các nghi phạm mới bị buộc tội chính thức.
Trong thời gian nghi phạm bị tạm giam, nhà chức trách có quyền từ chối không cho người nhà vào thăm; họ thường xuyên từ chối quyền này của những người bị bắt với cáo buộc xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các trường hợp phạm tội khác có động cơ chính trị.
Luật cho phép bảo lãnh tại ngoại dưới hình thức đặt tiền hoặc tài sản có giá trị như một biện pháp thay thế tạm giam, nhưng hiếm khi nhà chức trách áp dụng.
Luật yêu cầu các cơ quan chức năng phải thông báo cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về các quyền của họ theo quy định của pháp luật, bao gồm cả quyền có luật sư trong vòng ba ngày kể từ ngày bị bắt. Theo luật, chính quyền phải chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo nếu bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không nhờ luật sư bào chữa trong các trường hợp bị cáo bị buộc tội theo khung hình phạt có mức án cao nhất là tử hình theo quy định của bộ luật hình sự, hoặc bị cáo là người chưa thành niên hoặc người bị khuyết tật về thể chất hoặc bị coi là mất khả năng nhận thức. Chính phủ cũng có thể chỉ định luật sư và trên thực tế đã chỉ định luật sư trong một số vụ án nhất định, bao gồm các vụ án có bị cáo là người có công lao đóng góp đáng kể cho đất nước, thành viên hộ nghèo hoặc cận nghèo, người dân tộc thiểu số ở các địa phương nghèo, vùng sâu vùng xa, và người chưa thành niên. Chính phủ cũng có thể chỉ định luật sư trong các vụ án mà bị cáo hoặc gia đình họ là nạn nhân chất độc da cam, người cao tuổi hoặc người khuyết tật, người chưa thành niên, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân buôn người, người nhiễm HIV.
Mặc dù luật cho phép người bị giam giữ được tiếp xúc với luật sư từ lúc bị tạm giữ, nhưng nhà chức trách dùng nhiều cách trì hoãn quan liêu để ngăn không cho người bị giam giữ tiếp xúc với luật sư một cách kịp thời. Trong nhiều trường hợp, nhà chức trách chỉ cho phép luật sư tiếp cận với thân chủ của họ hoặc tiếp cận chứng cứ chống lại thân chủ ngay trước khi vụ án được đưa ra xét xử và do đó luật sư không có đủ thời gian để chuẩn bị bào chữa.
Trong những vụ án được điều tra theo luật an ninh quốc gia, chính quyền thường xuyên sử dụng các cách thức trì hoãn quan liêu để cấm luật sư bào chữa tiếp cận với thân chủ cho đến khi các cán bộ kết thúc điều tra và nghi phạm đã chính thức bị buộc tội.
Người bị giam giữ có quyền thông báo cho người nhà về việc họ bị bắt. Mặc dù công an nhìn chung có thông báo cho gia đình người bị giam giữ về nơi giam giữ, nhưng Bộ Công an đã giam giữ nhiều blogger và nhà hoạt động bị tình nghi xâm phạm an ninh quốc gia mà không cho họ liên lạc. Việc bắt và giam giữ tùy tiện, đặc biệt đối với các nhà hoạt động chính trị và các cá nhân phản đối việc thu hồi đất hoặc các sự việc bất công khác vẫn còn là một vấn đề nghiêm trọng. Một số nhà hoạt động cũng báo cáo về việc công an thường xuyên thẩm vấn họ để lấy thông tin buộc tội các nhà hoạt động nhân quyền khác.
Nhà chức trách giam giữ nhiều nhà hoạt động tôn giáo và chính trị một cách tùy tiện ở các mức độ khác nhau như giam giữ tại nhà, trên xe, tại đồn công an địa phương, tại “các trung tâm bảo trợ xã hội”, hoặc tại cơ quan chính quyền địa phương. Nhà chức trách cũng thường chất vấn các nhà hoạt động nhân quyền khi họ trở về từ các chuyến đi ra nước ngoài. Việc giam giữ này xảy ra phổ biến nhất trong khoảng thời gian diễn ra các sự kiện có khả năng thu hút sự chú ý rộng rãi của công chúng.
Ngày 8 tháng 5, công an thành phố Hồ Chí Minh được cho là đã bắt giam nhà hoạt động Phùng Thủy mà không có lệnh bắt và thẩm vấn ông Thủy trong nhiều giờ về mối quan hệ của ông với Nhà xuất bản Tự do – một nhà xuất bản độc lập. Theo một nhà hoạt động, các cán bộ công an đã sử dụng các phương pháp lấy cung dùng bạo lực để buộc ông Thủy trả lời các câu hỏi của cán bộ thẩm vấn. Thời gian cho phép tạm giam để điều tra là trong khoảng từ 3 tháng đến 16 tháng, tùy vào mức độ phạm tội. Không có quy định chuẩn trong luật hoặc văn bản hành chính về thời hạn nghi phạm phải được đưa đến trình diện một cán bộ tòa án. Thời hạn này là khác nhau tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và tính chất của hành vi phạm tội. Trong những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bao gồm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, luật cho phép tạm giam “cho đến khi kết thúc điều tra”.
Tương tự, thời hạn chuẩn bị xét xử cho phép là từ 45 đến 120 ngày. Theo luật, phiên tòa phải được mở trong thời hạn 30 ngày từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tổng thời gian tạm giam chờ xét xử là tổng tất cả các thời hạn này; thời hạn tạm giam chờ xét xử trên danh nghĩa tối đa là 21 tháng trong những trường hợp “phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. Nhà chức trách thường tạm giam quá thời hạn này mà không bị xử phạt, và các nhà hoạt động cho biết công an và kiểm sát viên thường kéo dài thời hạn tạm giam chờ xét xử nhằm trừng phạt hoặc gây sức ép để những người bảo vệ nhân quyền phải nhận tội. Theo luật, nhà chức trách phải cung cấp căn cứ để tạm giam quá thời hạn 4 tháng, nhưng các báo cáo cho biết các cán bộ tòa án thường xuyên bỏ qua việc công an hoặc kiểm sát viên không tuân thủ quy định này khi xét xử các vụ án hình sự.
Chính quyền tạm giam 8 thành viên của nhóm Hiến pháp, một tổ chức xã hội dân sự độc lập, trong 23 tháng trước khi phiên tòa xét xử chính thức được mở vào ngày 31 tháng 7.
Việc kéo dài thời hạn tạm giam chờ xét xử không chỉ áp dụng đối với các nhà hoạt động. Truyền thông nhà nước cho biết trong năm 2018, 230 người bị tạm giữ, tạm giam vượt quá thời hạn quy định.
Khả năng của người bị giam giữ được yêu cầu xem xét lại tính hợp pháp của việc giam giữ trước tòa án: Người bị giam giữ không có quyền này. Người bị giam giữ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định giam giữ. Nếu cơ quan này kết luận rằng việc bắt hoặc giam giữ là không đúng đắn, người bị giam giữ có thể được bồi thường thiệt hại.
e. Từ chối xét xử công khai và công bằng
Luật pháp quy định tính độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân, song hệ thống tư pháp dễ chịu ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua Bộ Công an. Trong năm qua, có các báo cáo đáng tin cậy rằng ảnh hưởng chính trị, vấn nạn tham nhũng, hối lộ và sự thiếu hiệu quả đã bóp méo hệ thống tòa án rất nhiều. Hầu hết, nếu không phải là tất cả, các thẩm phán đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và đều do Đảng Cộng sản Việt Nam và các quan chức địa phương sàng lọc trong quá trình lựa chọn để quyết định sự phù hợp với vị trí thẩm phán. Thẩm phán được tái bổ nhiệm 5 năm một lần sau khi được các cán bộ đảng xem xét. Quyền lực của Đảng đặc biệt rõ ràng trong những vụ án nổi tiếng và những trường hợp mà trong đó nhà chức trách buộc tội bị cáo về hành vi tham nhũng, chống lại hoặc làm tổn hại đến Đảng và nhà nước. Các luật sư bào chữa thường phàn nàn rằng trong nhiều vụ án, có vẻ các thẩm phán đã xác định bị cáo có tội trước khi tiến hành xét xử.
Vẫn có các báo cáo đáng tin cậy cho rằng nhà chức trách đã gây sức ép để các luật sư bào chữa không nhận bào chữa cho các thân chủ là nhà hoạt động tôn giáo hay dân chủ và chất vấn luật sư về động cơ của họ khi bào chữa cho các thân chủ này. Nhà chức trách cũng hạn chế, sách nhiễu, bắt và khai trừ khỏi đoàn luật sư các luật sư bảo vệ nhân quyền làm đại diện cho các nhà hoạt động chính trị. Bộ luật hình sự quy định buộc luật sư phải vi phạm đặc quyền bảo mật thông tin giữa luật sư và thân chủ trong các vụ án liên quan đến an ninh quốc gia hoặc các tội nghiêm trọng khác.
Ngày 14 tháng 9, phiên tòa sơ thẩm xét xử 29 người dân xã Đồng Tâm bị bắt sau cuộc đụng độ ngày 9 tháng 1 (xem mục 1.a.) đã kết thúc. Trong số 29 bị cáo, 2 bị cáo bị tuyên án tử hình, 1 bị cáo bị tuyên án tù chung thân còn 2 bị cáo khác lãnh án 12 đến 16 năm tù do đã gây ra cái chết của 3 cán bộ công an trong vụ đụng độ. Các bị cáo khác bị kết án về tội “chống người thi hành công vụ” và nhận các hình phạt nhẹ hơn. Các nhà nghiên cứu pháp luật, giới học thuật và các nhà hoạt động nhân quyền chỉ ra “những điểm bất thường nghiêm trọng” của phiên tòa này. Tòa án ngăn không cho người nhà của các bị cáo tham dự phiên tòa, trong khi người nhà của các cán bộ công an bị giết trong vụ đụng độ lại được tham dự.
Ngày 21 tháng 2, Tòa án phúc thẩm ở Khánh Hòa đã giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với vợ chồng luật sư Trần Vũ Hải, họ bị kết án và tuyên phạt 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội trốn thuế vào tháng 11 năm 2019. Với lý do ông Hải bị khởi tố vào tháng 7 năm 2019, Bộ Công an đã từ chối đề nghị của ông Hải về việc bào chữa cho nhà hoạt động đang bị giam giữ Trương Duy Nhất, người được cho là đã bị trả về Việt Nam từ Thái Lan vào tháng 1 năm 2019. Với việc khởi tố bị can, công an được khám xét nơi làm việc của ông Hải và tịch thu các tài liệu nhạy cảm liên quan đến việc bào chữa cho các nhà hoạt động nhân quyền, trong đó có Trương Duy Nhất.
Thủ tục xét xử
Mặc dù Hiến pháp quy định quyền được xét xử công khai và công bằng, quyền này không được thực thi một cách thống nhất. Luật quy định rằng bị cáo vô tội cho đến khi chứng minh được người đó có tội. Bị cáo có quyền được cung cấp thông tin nhanh chóng và chi tiết về các cáo buộc chống lại họ, nhưng quyền này hiếm khi được tôn trọng. Quyền được xét xử kịp thời của bị cáo đã bị phớt lờ mà không có chế tài xử phạt, và mặc dù các phiên tòa thường công khai trước công chúng, nhưng trong các vụ án nhạy cảm, các thẩm phán đã xét xử kín hoặc hạn chế chặt chẽ người dự phiên tòa.
Nhà chức trách nhìn chung cho phép bị cáo thực hiện quyền có mặt tại phiên tòa. Đôi khi tòa án không cho bị cáo thực hiện quyền lựa chọn luật sư mà chỉ định luật sư cho họ. Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho phép bị cáo được xếp ngồi cạnh luật sư bào chữa của họ, mặc dù đây không phải là thực tiễn phổ biến. Bị cáo có quyền liên hệ với luật sư tại phiên tòa đối với trường hợp họ bị cáo buộc về tội mà có thể phải chịu hình phạt 15 năm tù hoặc nặng hơn, bao gồm cả các vụ án mà bị cáo bị buộc tội theo khung hình phạt cao nhất là tử hình, tuy nhiên bị cáo thường không thể thực hiện được quyền này. Tại phiên tòa xét xử những người dân xã Đồng Tâm vào tháng 9 (xem mục 1.a.), các luật sư cho biết ban đầu công an ngăn cản họ nói chuyện với thân chủ và chỉ cho phép họ nói chuyện với thân chủ sau nhiều lần yêu cầu và có đơn đề nghị chính thức với tòa án.
Mặc dù luật sư bào chữa có quyền đối chất với các nhân chứng, nhưng đã có nhiều vụ án mà bị cáo cũng như luật sư của mình không biết nhân chứng nào sẽ được triệu tập, hoặc không được phép đối chất với các nhân chứng hoặc phản bác các lời khai chống lại bị cáo. Trong các phiên tòa xét xử các tội phạm về chính trị, bị cáo cũng như luật sư của họ không được phép thẩm tra hoặc xem xét các chứng cứ của bên công tố. Bị cáo có quyền bào chữa, nhưng luật không quy định rõ ràng về việc bị cáo có quyền triệu tập nhân chứng. Các thẩm phán chủ tọa những phiên tòa nhạy cảm về chính trị thường không cho phép luật sư bào chữa và bị cáo thực hiện các quyền của họ theo quy định của luật.
Luật quy định rằng ngôn ngữ nói và viết trong tố tụng hình sự là tiếng Việt, nhưng nhà nước cung cấp người phiên dịch nếu những người tham gia tố tụng sử dụng một ngôn ngữ nói hoặc viết khác. Luật không quy định cụ thể dịch vụ phiên dịch đó có miễn phí hay không.
Mặc dù các yếu tố của tố tụng tranh tụng đang được triển khai áp dụng, nhưng Tòa án vẫn duy trì hệ thống tố tụng thẩm vấn, trong đó thẩm phán đóng vai trò chủ yếu trong việc đặt câu hỏi và xác định các tình tiết của vụ án tại phiên tòa. Nhà chức trách đã cho phép các nhà ngoại giao nước ngoài quan sát phiên tòa thông qua truyền hình mạch kín trong ba vụ án nổi tiếng, trong đó có phiên tòa phúc thẩm xét xử blogger Trương Duy Nhất và phiên tòa sơ thẩm xét xử 29 người dân xã Đồng Tâm. Các nhà ngoại giao cũng đã quan sát hai phiên tòa hình sự thường trong năm qua. Trong hầu hết các phiên tòa này, luật sư bào chữa được tòa án cho thời gian để trình bày trước hội đồng xét xử và hỏi các thân chủ, nhưng họ không được phép triệu tập nhân chứng hoặc thẩm tra các chứng cứ của bên công tố. Trong các vụ án khác liên quan đến các cá nhân bị buộc tội xâm phạm an ninh quốc gia, thẩm phán đôi khi không cho luật sư bào chữa được lập luận thay mặt thân chủ của mình trước tòa. Người bị kết án có quyền kháng cáo ít nhất một lần.
Tù nhân chính trị và người bị giam giữ vì lý do chính trị
Các tổ chức phi chính phủ ước tính rằng đến tháng 8, nhà chức trách đã giam giữ từ 140 đến 275 cá nhân vì lý do chính trị. Theo một tổ chức phi chính phủ, từ ngày 1 tháng 1 đến 23 tháng 8, nhà chức trách đã tạm giam 50 người và kết án 15 người (hầu hết là những người bị tạm giam trong những năm trước) vì họ thực hiện các quyền con người đã được quốc tế công nhận, chẳng hạn như quyền tự do biểu đạt, tự do hội họp hòa bình và tự do lập hội. Đa số những người bị bắt và bị kết án có liên hệ đến việc đăng blog, và các bị cáo bị kết án về tội “làm, tàng trữ, phát tán, truyền bá thông tin, tài liệu, đồ vật” nhằm chống lại nhà nước và “lạm dụng các quyền tự do dân chủ”. Những người khác bị kết án bao gồm các cá nhân đăng blog và phản đối việc thu phí đường cao tốc theo mô hình xây dựng – kinh doanh – chuyển giao bị kết án về tội “gây rối trật tự công cộng”. Ngày 31 tháng 7, tám thành viên của nhóm Hiến Pháp muốn nâng cao nhận thức về quyền biểu tình hòa bình, một quyền hiến định của công dân, đã bị kết án về tội “gây rối an ninh” và bị tuyên phạt tổng cộng 40 năm tù.
Nhà chức trách ở trại giam thường giam tù nhân chính trị theo nhóm nhỏ tách biệt với cộng đồng tù nhân nói chung và đối xử với họ theo cách khác biệt. Một số tù nhân chính trị được hưởng điều kiện vật chất tốt hơn nhưng bị sách nhiễu về tâm lý nhiều hơn. Trong các trường hợp khác, tù nhân chính trị bị sách nhiễu bởi cả nhà chức trách ở trại giam và các bạn tù, và đôi khi, việc sách nhiễu của bạn tù là do cán bộ trại giam chỉ đạo. Trong nhiều trường hợp, lịch sinh hoạt hàng ngày của tù nhân chính trị khác biệt với lịch sinh hoạt của cộng đồng tù nhân nói chung và họ không có cơ hội rời buồng giam để làm việc hoặc tương tác với cộng đồng tù nhân nói chung. Các cán bộ trại giam thường biệt giam tù nhân chính trị với thời hạn dài hơn so với thời hạn biệt giam 3 tháng đối với các tù nhân khác. Vào tháng 1, theo báo cáo, Trại giam Ba Sao ở tỉnh Hà Nam đã biệt giam Phan Kim Khánh và Nguyễn Viết Dũng sau khi họ phản đối các quy định của trại giam. Nhà chức trách ở trại giam ngăn cản họ mua thực phẩm bổ sung tại cửa hàng của trại giam, và do đó đã hạn chế các bữa ăn của họ do trại giam cung cấp.
Khẩu phần được cấp cho tù nhân chính trị có vẻ bị hạn chế hơn so với các tù nhân khác. Các cựu tù nhân chính trị cho biết họ chỉ được nhận hai bát cơm nhỏ và rau mỗi ngày, thường bị trộn lẫn các chất lạ như côn trùng hoặc sạn. Người nhà của nhiều nhà hoạt động đang bị giam giữ đã từng bị ốm hoặc đổ bệnh trong tù khẳng định rằng việc điều trị y tế ở trại là không đầy đủ khiến cho bệnh tình diễn biến phức tạp hơn và để lại hậu quả lâu dài. Chẳng hạn, vào tháng 6, người nhà của Nguyễn Văn Đức Độ nộp đơn yêu cầu Trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai yêu cầu chấm dứt đối xử vô nhân đạo với ông Độ, cáo buộc rằng các cán bộ trại giam đã hành hung ông Độ, biệt giam, và đưa cho ông ta thức ăn lẫn với chất thải của người.
Các nhà chức trách thường giam giữ tù nhân chính trị ở các địa điểm xa gia đình của họ, gây khó khăn cho người nhà đến thăm và thường xuyên không thông báo cho người nhà về việc chuyển trại. Ngày 27 tháng 2, vợ của Võ Thương Trung đến thăm chồng ở một trại giam thuộc tỉnh Đồng Nai và phát hiện ra ông Trung đã bị chuyển đến Trại giam Gia Trung thuộc tỉnh Gia Lai, cách đó gần 300 dặm. Vào tháng 5, nhà hoạt động ở Hà Nội Nguyễn Tương Thụy bị bắt tại Hà Nội và bị chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh để tạm giam.
Các tù nhân chính trị và người nhà của họ cho biết các cán bộ quản trại đôi khi thu hồi, hạn chế, từ chối hoặc trì hoãn quyền được thăm viếng và không cho phép họ chu cấp thêm đồ cho người thân.
Trong năm qua, nhiều tù nhân chính trị tổ chức tuyệt thực để phản đối việc ngược đãi tù nhân. Từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 17 tháng 4, Nguyễn Năng Tĩnh tuyệt thực để phản đối việc các cán bộ trại giam Nghi Kim từ chối không cho phép ông Tĩnh gặp linh mục Công giáo, mặc dù về nguyên tắc ông Tĩnh không đủ điều kiện được gặp linh mục trong khi vụ án của ông này còn đang chờ xem xét ở cấp phúc thẩm. Vào tháng 8, Trịnh Bá Tư tuyệt thực trong hơn 20 ngày để phản đối tình trạng ngược đãi trong nhà tù ở Trại giam Chăm Mát, tỉnh Hòa Bình.
Giống như các năm trước, tòa án tiếp tục tuyên án nghiêm khắc đối với các cá nhân có hoạt động vận động nổi bật hoặc có liên hệ với các nhóm ở nước ngoài. Ngày 2 tháng 3, một tòa án ở thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản án tuyên phạt các nhà hoạt động môi trường Trần Văn Quyền và Nguyễn Văn Viên tương ứng là 10 và 11 năm tù về tội “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” do họ bị cáo buộc là thành viên của Việt Tân, một nhóm vận động dân chủ ở hải ngoại bị cấm hoạt động. Hai bị cáo trên bị bắt cùng với công dân Australia Châu Văn Khảm, người bị kết án 12 năm tù và nhà chức trách cáo buộc là thành viên của một nhóm hoạt động ở hải ngoại. Một trong số các tội danh mà các nhà hoạt động thường bị cáo buộc nhiều nhất là tội “sản xuất, tàng trữ, phát tán, truyền bá thông tin, tài liệu chống lại nhà nước”. Trong năm qua, ít nhất 8 cá nhân đã lãnh án đến 11 năm tù về tội này.
Hành động trả thù có động cơ chính trị chống lại các cá nhân ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam Vào tháng 3, blogger Đài phát thanh châu Á tự do Trương Duy Nhất, người bị buộc trở về Việt Nam từ Thái Lan vào tháng 1 năm 2019 sau khi làm đơn xin quy chế tị nạn gửi Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR), bị đưa ra xét xử và bị tuyên án 10 năm tù về tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi đang thi hành công vụ”. Bản án phúc thẩm vào tháng 8 đã giữ nguyên bản án sơ thẩm. Trả lời câu hỏi của luật sư của ông Nhất tại phiên tòa phúc thẩm về thời gian, địa điểm ông Nhất bị bắt, kiểm sát viên nói rằng ông Nhất bị bắt tại Hà Nội vào tháng 1 năm 2019. Tòa án từ chối xem xét khoảng thời gian từ khi ông Nhất bị buộc trở về Việt Nam từ Thái Lan vào tháng 1 năm 2019 đến khi ông xuất hiện sau đó ở Hà Nội vào tháng 3, phớt lờ các yêu cầu ở trong nước và quốc tế về sự minh bạch liên quan đến hoàn cảnh dẫn đến ông Nhất bị giam giữ.
Vào tháng 3, Bùi Thanh Hiếu, một blogger sống lưu vong ở Đức, thông báo trên Facebook rằng ông sẽ chấm dứt đăng blog do nhà chức trách Việt Nam sách nhiễu gia đình ông ở Việt Nam.
Thủ tục và các biện pháp khắc phục tư pháp dân sự
Hiến pháp quy định người nào bị bắt và giam giữ trái phép, bị khởi tố hình sự, bị điều tra, truy tố, đưa ra xét xử, hoặc bị thi hành án trái pháp luật có quyền được đòi bồi thường về vật chất và tinh thần và phục hồi danh dự. Luật quy định cơ chế khởi kiện dân sự nhằm giải quyết hoặc khắc phục hậu quả trong trường hợp nhà chức trách lạm quyền.
Những vụ kiện dân sự được xét xử bởi tòa hành chính và tòa dân sự, trong đó áp dụng thủ tục xét xử giống như trong các vụ án hình sự và được xét xử bởi các thành viên của cùng một hội đồng thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Các tòa án hành chính và dân sự tiếp tục có biểu hiện tham nhũng, chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, thiếu tính độc lập và thiếu kinh nghiệm. Rất ít nạn nhân của việc chính quyền lạm dụng quyền hạn đã khởi kiện hoặc đã nhận được số tiền bồi thường hay khắc phục thông qua hệ thống tòa án.
Chính quyền tiếp tục ngăn cấm các vụ kiện tập thể đối với các bộ thuộc chính phủ, do đó đã khiến cho quyền khiếu kiện chung của công dân về đất đai trở nên kém hiệu quả.
Bồi thường tài sản
Theo luật, toàn bộ đất đai thuộc về chính quyền (“toàn thể nhân dân Việt Nam”). Luật trao quyền hạn lớn trong việc xác định giá đất, giao đất và thu hồi đất cho ủy ban nhân dân và hội đồng nhân dân địa phương, điều này đã góp phần dẫn đến những hành vi kinh doanh không công bằng và tham nhũng.
Trong năm qua, đã có nhiều báo cáo về các vụ đụng độ giữa người dân địa phương và chính quyền tại các địa điểm thu hồi đất. Tranh chấp về thu hồi đất cho các dự án phát triển vẫn là nguồn cơn chủ yếu gây bất bình trong dân chúng. Nhiều người dân có đất bị chính quyền cưỡng chế thu hồi đã phản đối tại các cơ quan chính quyền do đơn khiếu nại của họ không được giải quyết. Một số vụ cưỡng chế thu hồi đất đã gây ra các vụ bạo lực và thương tích cho cả cán bộ nhà nước và người dân. Các báo cáo cũng cho biết những người được nghi là công an mặc thường phục và “côn đồ” do các công ty phát triển bất động sản thuê đã cưỡng chế thu hồi đất bằng cách hăm dọa và đe dọa người dân hoặc đột nhập vào nhà dân. Nhà chức trách đã bắt và kết án nhiều người biểu tình đòi quyền lợi về đất đai với cáo buộc “chống người thi hành công vụ” hoặc “gây rối trật tự công cộng”.
f. Can thiệp tùy tiện hoặc trái pháp luật vào quyền riêng tư, gia đình, nhà ở hay thư tín
Luật pháp nghiêm cấm các hành vi can thiệp tùy tiện hoặc trái luật vào quyền riêng tư, nhà ở hay thư tín, nhưng chính phủ không bảo hộ nhất quán và đôi khi vẫn vi phạm các quyền này.
Theo luật, lực lượng an ninh chỉ được phép xông vào nhà dân nếu có lệnh khám xét được viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn, song các cán bộ an ninh vẫn thường xông vào hoặc khám xét nhà dân, nhất là nhà của các nhà hoạt động mà không có lệnh theo quy định của luật. Họ thường hăm dọa người dân với lời đe dọa về các hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra nếu không cho họ vào nhà.
Ngày 3 tháng 1, theo báo cáo, công an huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã đột nhập vào căn hộ của Hồ Sỹ Quyết ở Ecopark, Hà Nội, lục soát căn hộ và tịch thu các tài sản cá nhân mà không có lệnh. Công an địa phương cũng đưa ông Quyết và vợ đến đồn công an huyện để thẩm vấn trong nhiều giờ, đe dọa bắt và truy tố ông ta nếu ông không chấm dứt việc tham gia vào các hoạt động mà nhà chức trách cho là hoạt động chống chính quyền. Ông Quyết là một trong hàng chục cá nhân bị công an sách nhiễu từ cuối năm 2019 vì phân phối các ấn phẩm của Nhà xuất bản Tự do, một nhà xuất bản tư nhân trái phép hiện đã chấm dứt hoạt động.
Mặc dù không có lệnh theo quy định của luật, các nhà chức trách thường xuyên mở và kiểm duyệt thư từ cá nhân, tịch thu đồ đạc và giấy tờ, theo dõi các cuộc nói chuyện điện thoại, e-mail, tin nhắn văn bản, blog và các giấy tờ gửi qua fax của nhiều đối tượng. Chính quyền cắt điện thoại và tạm ngưng cung cấp dịch vụ điện thoại di động và Internet của một số nhà hoạt động chính trị và người nhà của họ.
Bộ Công an duy trì hệ thống đăng ký nhân khẩu và đội ngũ cảnh sát khu vực để giám sát các hoạt động trái pháp luật. Mặc dù hệ thống này ít can thiệp vào đời tư của người dân hơn so với trước đây, nhưng Bộ Công an vẫn tiếp tục theo dõi sát sao những người tham gia hoặc bị nghi ngờ tham gia các hoạt động chính trị trái phép.
FireEye, một công ty an ninh mạng đặt ở nước ngoài, báo cáo về việc chính quyền vi phạm quyền riêng tư của công dân. FireEye viết rằng chính phủ đã phát triển năng lực hoạt động gián điệp mạng một cách đáng kể trong những năm gần đây. Công ty này cũng lưu lại tài liệu về các cuộc tấn công bởi một nhóm có tên là OceanLotus hay APT32 vào các mục tiêu bao gồm các nhà báo Việt Nam ở nước ngoài và các tổ chức thuộc khu vực tư và khu vực công ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam. Mặc dù không có mối liên hệ trực tiếp giữa APT32 và chính phủ, FireEye cho rằng các thông tin và dữ liệu cá nhân tiếp cận được từ các tổ chức là mục tiêu bị tấn công “có giá trị sử dụng rất ít đối với bất kỳ bên nào khác ngoài chính phủ Việt Nam”.
Phần 2. Tôn trọng tự do của người dân, bao gồm:
a. Tự do biểu đạt, trong đó có tự do báo chí
Hiến pháp và pháp luật quy định quyền tự do biểu đạt, bao gồm tự do báo chí; tuy nhiên, trên thực tế, chính quyền không tôn trọng các quyền này và một số luật can thiệp vào tự do biểu đạt. Chính quyền vẫn tiếp tục áp dụng các quy định chung chung về an ninh quốc gia và các quy định chống phỉ báng nhằm hạn chế tự do biểu đạt. Các luật này coi tội “phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”, “gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo” và “tuyên truyền chống Nhà nước” là những tội nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia. Pháp luật cũng quy định rõ là cấm “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân”. Chính quyền tiếp tục hạn chế những phát ngôn có nội dung chỉ trích các cá nhân lãnh đạo chính quyền, chỉ trích đảng, ủng hộ chủ nghĩa đa nguyên chính trị hoặc dân chủ đa đảng, hoặc chất vấn các chính sách về những vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, tự do tôn giáo, hay vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.
Theo mạng xã hội và báo cáo của các nhà hoạt động, đại diện các tổ chức của nhà nước và các nhóm ủng hộ chính quyền đã đến nơi ở của các nhà hoạt động và tìm cách hăm dọa để buộc họ đồng ý rằng các chính sách của chính quyền là đúng đắn. Người nhà của các nhà hoạt động cho biết họ nhiều lần bị sách nhiễu về thân thể, hăm dọa và chất vấn bởi các cán bộ an ninh.
Trong tháng 9, các cán bộ an ninh tỉnh Đồng Tháp đã ba lần “mời” bà Nguyễn Thị Tình, vợ của tù nhân Nguyễn Năng Tĩnh, đến để trao đổi về những quan ngại của chính quyền về các bài đăng Facebook của bà. Bà Tình nói với nhà chức trách rằng bà chỉ chia sẻ thông tin về gia đình, trong đó có những thông tin cập nhật liên quan đến tình hình của chồng bà ở trong tù. Bà cho biết các cán bộ an ninh nói với bà rằng chính quyền coi những bài đăng trên mạng xã hội của bà là vi phạm một nghị định của chính phủ về viễn thông và bà có thể phải đối mặt với hình phạt trong tương lai.
Vào tháng 6, trong một chuyến thăm tỉnh Thanh Hóa của một nhà ngoại giao, các cán bộ an ninh đã hăm dọa bà Nguyễn Thị Lành, vợ của mục sư đang chấp hành án phạt tù đồng thời là nhà hoạt động vận động dân chủ Nguyễn Trung Tôn, và con trai ông Tôn là Nguyễn Trung Trọng Nghĩa, hàm ý rằng họ có thể bị tổn thương về thể chất trừ khi họ ở nhà “đến khi có thông báo tiếp theo”. Các cán bộ an ninh giữ gia đình họ ở trong nhà bị khóa cửa trong vài ngày cho đến khi gia đình phá khóa thoát ra ngoài. Các cán bộ an ninh địa phương sau đó đã tạm giữ bà Lành và tiếp tục sách nhiễu bà tại đồn công an địa phương. Khi Nghĩa đến đồn công an địa phương để tìm hiểu tình hình của bà Lành, các cá nhân mặc thường phục được cho là đã hành hung anh ta trước sự có mặt của cán bộ an ninh và cảnh sát giao thông.
Tự do báo chí và truyền thông, trong đó có truyền thông trực tuyến: Đảng Cộng sản Việt Nam, chính phủ và các tổ chức đoàn thể chịu sự lãnh đạo của Đảng kiểm soát tất cả các hoạt động in ấn, phát thanh truyền hình, truyền thông trực tuyến và điện tử, chủ yếu thông qua Bộ Thông tin và Truyền thông, dưới sự chỉ đạo chung của Ban Tuyên giáo Trung ương. Luật quy định tổng biên tập phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều báo còn áp dụng quy định này đối với những chức vụ quản lý khác của tòa soạn.
Tuy nhiên, nhiều tổ chức phi chính phủ sản xuất và phát hành các xuất bản phẩm dưới hình thức thuê xuất bản, liên kết xuất bản, hoặc mua giấy phép từ các tổ chức thuộc chính phủ hoặc các tổ chức xuất bản công lập. Báo chí nhà nước cho biết các tổ chức tư nhân sản xuất hơn 90% toàn bộ xuất bản phẩm ở Việt Nam, mặc dù việc sở hữu tư nhân hoặc vận hành bất kỳ cơ sở báo chí hoặc nhà xuất bản nào của tư nhân vẫn bị cấm. Báo chí độc lập với chính quyền hoạt động trực tuyến một cách hạn chế, chủ yếu thông qua blog và mạng xã hội, nhưng các nhà báo độc lập gặp phải sự sách nhiễu của chính quyền.
Nhà chức trách tiếp tục củng cố sự kiểm soát của chính quyền với các tổ chức truyền thông, bao gồm việc yêu cầu họ phải trực thuộc một cơ quan chính phủ trong tương lai và hạn chế nghiêm trọng số lượng báo và tạp chí có thể được xuất bản bởi một tổ chức hoặc trong một khu vực. Trong năm qua, nhà chức trách thành phố Hà Nội đã đóng cửa 6 tạp chí và 3 tờ báo và buộc sáp nhập 2 tờ báo. Nhà chức trách ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi có môi trường truyền thông sôi động nhất cả nước, đã tái cơ cấu 28 tổ chức truyền thông thành 19 tổ chức.
Ngày 20 tháng 6, Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu Thời báo Kinh tế Việt Nam, một tờ báo do Hiệp hội kinh tế Việt Nam xuất bản, phải chấm dứt hoạt động từ tháng 1 năm 2021 và thu hồi giấy phép của tờ báo. Ngày 26 tháng 6, Bộ này cấp phép cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam, tên mới của Thời báo Kinh tế Việt Nam đã bị chính thức đình chỉ hoạt động ngày 15 tháng 6, nhưng không có bài viết nào được xuất bản bởi tờ báo hay tạp chí nói trên từ tháng 1. Các ấn phẩm khác như báo điện tử Dân Trí được phổ biến trên toàn quốc đã tự mình liên kết với các bộ để tiếp tục hoạt động.
Nhà chức trách tăng cường trấn áp đối với các thành viên Hội nhà báo độc lập Việt Nam, được thành lập nhằm vận động cho tự do biểu đạt, tự do báo chí và vận động dân chủ. Tháng 11 năm 2019, Công an thành phố Hồ Chí Minh đã bắt Phạm Chí Dũng, chủ tịch hội, và cáo buộc ông này phạm tội tuyên truyền chống nhà nước. Vào tháng 5 và tháng 6, nhà chức trách đã bắt giam các nhà báo độc lập Phạm Chí Thành, Nguyễn Tương Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn, cũng là thành viên của hội, với các cáo buộc tương tự. Ngày 23 tháng 6, cơ quan điều tra công an thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với công an Vũng Tàu đã triệu tập nhà báo độc lập Chu Vĩnh Hải để thẩm vấn về mối quan hệ của ông với hội nhà báo độc lập.
Theo luật, chính quyền có thể xử phạt các nhà báo và báo chí về hành vi không trích dẫn nguồn tin hoặc “sử dụng tài liệu, hồ sơ từ các tổ chức, thư tín hay tài liệu của các cá nhân”.
Luật cho phép chính quyền xử phạt các nhà xuất bản nếu họ xuất bản “thông tin sai sự thật” trong các lĩnh vực thống kê; năng lượng nguyên tử; quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn; giáo dục; hàng không dân dục; đào tạo nghề; khí tượng thủy văn; bản đồ; y tế.
Luật chỉ cho phép các quan chức cấp cao, người nước ngoài, khách sạn hạng sang và báo chí được tiếp cận truyền hình vệ tinh, nhưng người dân trên khắp cả nước vẫn có thể tiếp cận các chương trình nước ngoài thông qua thiết bị vệ tinh gia đình hoặc truyền hình cáp.
Chính quyền cho phép các nhà báo thuộc các cơ quan truyền thông nước ngoài hoạt động với những hạn chế đáng kể. Tuy nhiên, luật quy định việc phát sóng “trực tiếp” các chương trình truyền hình nước ngoài phải được phát chậm 30 đến 60 phút để có thể giám sát về nội dung. Người xem truyền hình cho biết nhiều bài bình luận, phim tài liệu, phim truyền hình về các sự kiện nhân quyền trong nước, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh lạnh, thời Xô Viết hoặc bài đưa tin về những căng thẳng thương mại đã bị phá sóng. Các nhà báo nước ngoài phải được chính quyền chính thức cho phép khi đi ra khỏi Hà Nội để đưa tin. Khi các nhà báo nước ngoài đề nghị tiếp cận một khu vực được cho là nhạy cảm, chẳng hạn như Tây Bắc hoặc Tây Nguyên, hoặc đưa tin về một vấn đề mà chính phủ có thể cho là nhạy cảm, nhà chức trách thường cố ý trì hoãn trả lời hoặc từ chối cấp phép đi lại cho họ.
Các hãng truyền thông lớn của nước ngoài cho biết chính quyền chậm trễ hoặc từ chối cấp thị thực cho những phóng viên trước đây đã viết bài về các chủ đề chính trị nhạy cảm, đặc biệt là các phóng viên của các báo Việt ngữ ở nước ngoài. Chính quyền thường tìm cách kiểm soát các phóng viên nước ngoài thường trú ở Việt Nam bằng cách đe dọa thu hồi hoặc không gia hạn thị thực cho họ.
Bộ Thông tin và Truyền thông có thể thu hồi giấy phép hoạt động của các nhà xuất bản nước ngoài, và các nhà xuất bản nước ngoài hàng năm phải làm thủ tục gia hạn giấy phép hoạt động.
Chính quyền cũng tìm cách ngăn chặn các chỉ trích bằng việc giám sát các cuộc gặp gỡ và hoạt động thông tin liên lạc của các nhà báo. Tiếp tục có nhiều báo cáo về việc các nhân viên an ninh đã tấn công hoặc đe dọa các nhà báo vì họ đã đề cập đến những vấn đề nhạy cảm. Các nhà báo độc lập bị hạn chế tự do đi lại, chịu các hình thức sách nhiễu khác, kể cả tấn công thân thể dưới hình thức dàn cảnh gây tai nạn xe máy nếu họ đưa tin về những chủ đề nhạy cảm.
Nhà chức trách tăng cường sách nhiễu Nhà xuất bản Tự do. Theo một tổ chức phi chính phủ, các cán bộ công an đã chất vấn và thẩm vấn gần 100 cá nhân về việc mua và đọc sách do nhà xuất bản này ấn hành. Một tổ chức phi chính phủ báo cáo rằng công an đã giam giữ, thẩm vấn và tra tấn nhà hoạt động Vũ Huy Hoàng ở thành phố Hồ Chí Minh vì tiến hành hoạt động cùng với nhà xuất bản này. Ngày 6 tháng 10, nhà chức trách bắt cây viết, nhà hoạt động nổi tiếng Phạm Đoan Trang vì “hoạt động chống nhà nước” sau khi chính quyền tổ chức một cuộc họp với các cán bộ nước ngoài về nhân quyền. Bà Trang bị buộc tội “sản xuất, tàng trữ, phát hành, truyền bá thông tin, tài liệu, đồ vật nhằm chống Nhà nước”. Vào tháng 7, bà Trang công bố trên trang Facebook của mình rằng bà đã thôi việc ở Nhà xuất bản Tự do và yêu cầu các cán bộ công an chấm dứt việc sách nhiễu tất cả các cộng sự ở nhà xuất bản này. Theo bà Trang, tất cả các thành viên nhà xuất bản đã lẩn trốn nhằm duy trì hoạt động xuất bản và tránh bị sách nhiễu. Bộ Thông tin và Truyền thông và Ban Tuyên giáo Trung ương thường xuyên can thiệp trực tiếp vào báo chí truyền thông để áp đặt hoặc kiểm duyệt nội dung.
Các quan chức tuyên giáo buộc các tổng biên tập của các tờ báo lớn họp định kỳ để thảo luận về các chủ đề vượt ra ngoài giới hạn đưa tin. Đảng Cộng sản và chính phủ có thể kiểm soát được các nội dung truyền thông thông qua hình thức tự kiểm duyệt, kể cả đối với các nhà báo độc lập và blogger, với lời đe dọa sẽ sa thải và có thể bắt giữ các nhà báo. Chính quyền trừng phạt các nhà báo không thực hiện tự kiểm duyệt, trong đó có việc thu hồi thẻ nhà báo. Luật pháp quy định phạt tiền ở mức đáng kể đối với các nhà báo, báo chí và truyền thông trực tuyến nếu đăng tải hoặc phát thông tin được cho là làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, hoặc nếu phát tán thông tin được cho là xuyên tạc lịch sử và thành quả cách mạng. Trong một số trường hợp, các “vi phạm” này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cảnh sát đã bắt và khởi tố các nhà báo nhằm hạn chế việc chỉ trích các chính sách của chính quyền hoặc chỉ trích cán bộ, trên cơ sở viện dẫn pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.
Tự do Internet
Chính quyền hạn chế và ngăn cản việc truy cập Internet, kiểm duyệt nội dung trực tuyến, áp đặt chế tài hình sự đối với các biểu đạt trực tuyến, và giám sát các hoạt động thông tin liên lạc trực tuyến của tư nhân mà không được pháp luật cho phép. Chỉ có một số lượng hạn chế các nhà cung cấp dịch vụ Internet được cấp phép, tất cả đều thuộc quyền sở hữu nhà nước hoặc là công ty với quyền kiểm soát đáng kể của nhà nước. Chính quyền theo dõi các bài viết đăng trên Facebook và trừng phạt những người sử dụng Internet để tổ chức các cuộc biểu tình hoặc công bố các nội dung chỉ trích chính quyền. Ngày 7 tháng 7, một tòa án ở tỉnh Lâm Đồng đã kết án người dùng Facebook Nguyễn Quốc Đức Vượng về tội tuyên truyền chống nhà nước và tuyên phạt ông 8 năm tù. Theo truyền thông nhà nước đưa tin, ông Nguyễn đã lập một tài khoản Facebook để đăng và chia sẻ nhiều bài viết với nội dung “chống nhà nước” trên Facebook được cho là “bôi nhọ đảng, nhà nước và chủ tịch Hồ Chí Minh”.
Chính quyền đôi khi chặn một số trang web được coi là không phù hợp về chính trị hoặc văn hóa, trong đó có các trang web được điều hành bởi các nhóm chính trị người Việt Nam ở hải ngoại, ngoài các trang web của Đài phát thanh Châu Á Tự do, Đài tiếng nói Hoa Kỳ và trang tin tức BBC tiếng Việt. Các nhà cung cấp dịch vụ Internet thuộc sở hữu nhà nước thường xuyên khóa các trang tiếng Việt tại Việt Nam chứa các nội dung chỉ trích Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc thúc đẩy cải cách chính trị.
Một quy định hành chính buộc chủ sở hữu tất cả các trang web và mạng xã hội phải hợp tác với Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc ngăn chặn việc phát tán “tin xấu, tin độc”.
Một quy định khác yêu cầu tất cả các công ty và các tổ chức vận hành các trang web cung cấp thông tin về “chính trị, kinh tế, văn hóa, và xã hội” và các mạng xã hội, bao gồm cả blog, phải đăng ký với chính quyền. Chính quyền cũng yêu cầu các chủ sở hữu phải đệ trình các kế hoạch chi tiết về nội dung và phạm vi đưa tin để chính phủ phê duyệt. Các công ty và tổ chức nói trên phải đặt ít nhất một máy chủ tại Việt Nam để tạo thuận lợi cho chính quyền yêu cầu cung cấp thông tin và phải lưu trữ thông tin đã đăng trong 90 ngày và lưu trữ một số siêu dữ liệu đến hai năm.
Chính phủ cấm truy cập trực tiếp Internet thông qua nhà cung cấp dịch vụ Internet nước ngoài, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet phải cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và chỗ làm việc cho các nhân viên an ninh giám sát các hoạt động trên Internet. Bộ Công an từ lâu đã yêu cầu “các đại lý Internet”, bao gồm cả các quán cà phê Internet, phải đăng ký thông tin cá nhân của khách hàng, lưu trữ các trang web mà khách hàng đã truy cập, và tham gia các cuộc điều tra của chính quyền về hoạt động trên mạng. Các quán cà phê Internet tiếp tục cài đặt và sử dụng phần mềm do chính phủ phê duyệt để theo dõi các hoạt động trực tuyến của khách hàng. Bộ Công an triển khai thực hiện những việc này và các yêu cầu khác và tiến hành theo dõi internet có chọn lọc.
Chính phủ tiếp tục gây sức ép lên các công ty như Facebook và Google để buộc họ xóa các “tài khoản ảo” và các nội dung được cho là “độc hại”, bao gồm các nội dung chống nhà nước. Tháng 10 năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông công bố rằng Google đã gỡ xuống gần 8.200 video, YouTube đã khóa 19 kênh YouTube, và Facebook đã phong tỏa gần 2.500 đường link, 249 tài khoản ảo và 249 đường link bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền. Bộ Thông tin và Truyền thông tăng cường gây sức ép đáng kể buộc các nền tảng mạng xã hội phải tuân thủ một số lượng lớn yêu cầu gỡ xuống các phát ngôn chính trị, nhất là những bài đăng chỉ trích các cán bộ cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo báo cáo, nhà chức trách đã tấn công các máy chủ ở Việt Nam của Facebook vào đầu năm, làm giảm đáng kể lưu lượng, cho đến khi công ty này đồng ý tăng cường đáng kể việc tuân thủ với các yêu cầu kiểm duyệt của chính quyền.
Lực lượng 47, một đơn vị đặc biệt thuộc Bộ Quốc phòng, giám sát internet để phát hiện các thông tin xấu và các hoạt động tuyên truyền chống nhà nước.
Nhà chức trách cũng trấn áp các phát biểu mang tính chính trị trên mạng bằng hành động trực tiếp chống lại các blogger như bắt, giam giữ ngắn hạn, theo dõi, hăm dọa, tịch thu bất hợp pháp máy tính và điện thoại di động của các nhà hoạt động và người nhà của họ. Chính quyền tiếp tục áp dụng các quy định về an ninh quốc gia và các quy định mập mờ khác của bộ luật hình sự đối với các nhà hoạt động thể hiện quan điểm chính trị ôn hòa trên mạng. Những người bất đồng chính kiến và các blogger cho biết Bộ Công an thường xuyên ra lệnh ngắt kết nối dịch vụ Internet tại nhà của họ. Ngày 13 tháng 6, công an thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ Huỳnh Anh Khoa và Nguyễn Đăng Thương với cáo buộc “lạm dụng các quyền tự do dân chủ” do họ tổ chức một nhóm thảo luận trên Facebook gọi là Thảo luận Kinh tế - Chính trị thu hút gần 50.000 người dùng Facebook, theo báo cáo của một tổ chức phi chính phủ.
Người sử dụng mạng xã hội và blog phải cung cấp họ tên đầy đủ, số chứng minh thư và địa chỉ trước khi tạo tài khoản. Các trang web trong nước và các tổ chức vận hành mạng xã hội phải cho phép nhà chức trách thanh tra máy chủ trong nước khi có yêu cầu và phải có cơ chế xóa nội dung bị cấm trong vòng 3 giờ kể từ khi nhà chức trách phát hiện hoặc thông báo.
Ngày 15 tháng 4, một nghị định của chính phủ bắt đầu có hiệu lực, quy định phạt tiền ở mức đáng kể đối với hành vi sử dụng mạng xã hội nhằm “cung cấp và phát tán thông tin sai lệch”, bao gồm việc sử dụng mạng xã hội để phát tán các bản đồ thể hiện không chính xác chủ quyền quốc gia và phát tán tin giả để gây hoang mang trong công chúng. Nghị định này được ban hành là một phần trong chiến lược của chính phủ nhằm kiểm soát tất cả các thông tin được chính quyền cho là thông tin sai lệch, chống chính quyền và bôi nhọ trên mạng xã hội.
Vào tháng 9, Bộ Thông tin và Truyền thông xử phạt 4 tờ báo tổng cộng 72 triệu đồng về đưa thông tin sai lệch về việc bắt và truy tố các cựu cán bộ thành phố, về Hồ Chí Minh và về một dự án cơ sở hạ tầng lớn.
Tự do học thuật và các sự kiện văn hóa
Chính quyền hạn chế tự do học thuật và các sự kiện văn hóa. Các chuyên gia nước ngoài làm việc tạm thời tại các trường đại học trong nước được phép thảo luận về các chủ đề phi chính trị một cách rộng rãi và tự do trên lớp học, nhưng các nhà quan sát của chính phủ thường xuyên tham dự những lớp học được các nhà khoa học nước ngoài và trong nước giảng dạy. Chính phủ tiếp tục yêu cầu các tổ chức quốc tế và trong nước phải có sự phê duyệt của chính phủ trước khi tổ chức các hội nghị có sự tài trợ hoặc tham gia của nước ngoài. Chính quyền cho phép các trường đại học có nhiều quyền tự chủ hơn trong các hoạt động trao đổi quốc tế và các chương trình hợp tác quốc tế, tuy nhiên yêu cầu về thị thực đối với các học giả và các sinh viên trao đổi vẫn còn phiền phức.
Chính quyền tiếp tục cấm mọi chỉ trích công khai Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của nhà nước, bao gồm các chỉ trích của các tổ chức khoa học và kỹ thuật độc lập, kể cả khi các chỉ trích đó hoàn toàn mang tính học thuật.
Chính quyền gây ảnh hưởng đến các cuộc triển lãm nghệ thuật, âm nhạc và các hoạt động văn hóa khác bằng việc yêu cầu thực hiện nhiều thủ tục xin phép.
Nhiều nhà hoạt động cho biết các cán bộ Bộ Công an đã đe dọa lãnh đạo các trường đại học nếu họ không đuổi học các nhà hoạt động tham gia các hoạt động mang tính ôn hòa và gây sức ép không cho họ và người nhà tham dự một số cuộc hội thảo. Nhiều nhà hoạt động cũng cho biết các cơ sở đào tạo từ chối cho họ hoặc con cái họ tốt nghiệp vì lý do họ vận động nhân quyền.
b. Tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình
Chính quyền hạn chế tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình.
Tự do hội họp hòa bình
Chính quyền hạn chế tự do hội họp hòa bình. Luật và các văn bản dưới luật yêu cầu những người muốn tụ tập theo nhóm phải xin phép, chính quyền địa phương có thể đồng ý hoặc từ chối cấp phép mà không nêu lý do. Chỉ những người tổ chức tụ họp công khai để bàn về các vấn đề nhạy cảm thì mới phải xin giấy phép. Chính quyền nói chung không cho phép tiến hành bất kỳ cuộc biểu tình nào có thể được cho là mang tính chất chính trị. Luật pháp cho phép các lực lượng an ninh bắt giam các cá nhân tụ tập hoặc phản đối bên ngoài trụ sở tòa án trong khi diễn ra các phiên tòa. Mọi người vẫn thường xuyên tụ tập theo các nhóm không chính thức mà không bị chính quyền can thiệp, miễn là việc tụ tập đó không được cho là có tính chất chính trị hoặc đe dọa đến nhà nước.
Bộ Công an và công an địa phương thường xuyên ngăn cản các nhà hoạt động tham gia hội họp một cách ôn hòa. Có nhiều báo cáo về việc công an giải tán các cuộc tụ tập của các nhà hoạt động vì môi trường, các nhà vận động đòi quyền lợi về đất đai, các nhà bảo vệ nhân quyền, các blogger, các nhà báo độc lập và các cựu tù nhân chính trị. Chẳng hạn, ngày 18 tháng 7, công an địa phương ở xã Cẩm Vinh, tỉnh Hà Tĩnh đã giải tán một cuộc tụ tập của các tín đồ Pháp Luân Công tại nhà riêng.
Công an và cán bộ mặc thường phục thường xuyên ngược đãi, sách nhiễu và hành hung các nhà hoạt động và những người biểu tình phản đối chính quyền.
Tự do lập hội
Hiến pháp cho phép cá nhân có quyền lập hội, song chính quyền tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do lập hội trong những lĩnh vực mà chính quyền cho rằng hoạt động “nhạy cảm” như chính trị, tôn giáo và lao động. Khung khổ pháp lý và quy định của Việt Nam thiết lập các cơ chế nhằm hạn chế tự do của các tổ chức phi chính phủ, trong đó có các tổ chức tôn giáo, về tổ chức và hoạt động. Chính phủ nói chung cấm thành lập các tổ chức tư nhân, độc lập, yêu cầu mọi người hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức quần chúng do đảng thành lập hoặc kiểm soát, thường là dưới sự bảo trợ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Luật pháp và các quy định điều chỉnh các tổ chức phi chính phủ hạn chế khả năng của các tổ chức này trong việc tham gia vận động chính sách hoặc tiến hành các nghiên cứu ngoài các chủ đề được nhà nước phê duyệt, và luật cấm các tổ chức khoa học xã hội và công nghệ hoạt động trong các lĩnh vực như chính sách kinh tế, chính sách công, các vấn đề chính trị và một loạt các lĩnh vực khác được coi là nhạy cảm. Chính quyền cũng không cho phép họ thể hiện công khai các lập trường vận động chính sách.
Luật yêu cầu các nhóm tôn giáo phải đăng ký với cơ quan chức năng và phải được nhà chức trách chấp thuận hoạt động của họ. Một số nhóm tôn giáo chưa đăng ký như Liên hữu Tin lành Báp tít Việt Nam và các nhóm Ngũ tuần độc lập có báo cáo về sự can thiệp của chính quyền.
Theo một số tổ chức tôn giáo đã được công nhận và các tổ chức khác đang làm thủ tục đăng ký, có sự thực thi luật không đồng đều giữa các tỉnh. Một số tổ chức đã đăng ký, trong đó có các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực quản trị, nữ quyền và môi trường, cho biết các hoạt động của họ bị giám sát nhiều hơn.