Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền năm 2021

d. Tự do đi lại và quyền rời khỏi đất nước

Chapter 48,643 wordsPublic domain (Wikisource)

Hiến pháp quy định quyền tự do đi lại trong nước, ra nước ngoài, di trú và hồi hương, nhưng chính quyền thường xuyên áp đặt giới hạn về tự do đi lại đối với các cá nhân, đặc biệt là những người bị kết án về các tội an ninh quốc gia hoặc các tội có liên quan hoặc những người bày tỏ quan điểm chỉ trích chính quyền.

Đi lại trong nước: Nhà chức trách hạn chế đi lại đối với một số nhà hoạt động chính trị đang bị quản chế hoặc quản thúc tại gia, cùng với những người khác không chịu sự hạn chế theo quy định của pháp luật. Nhà chức trách tiếp tục theo dõi và hạn chế có chọn lọc sự đi lại của nhiều nhà hoạt động nổi bật và các chức sắc tôn giáo. Nhà chức trách tiếp tục ngăn cản các nhà hoạt động rời khỏi nhà trong thời gian diễn ra các sự kiện mà có thể thu hút sự chú ý của công chúng. Một số nhà hoạt động cho biết nhà chức trách đã tịch thu chứng minh thư của họ, ngăn không cho họ đi lại trong nước bằng đường hàng không cũng như thực hiện các việc hành chính thông thường.

Các quy định hạn chế đi lại của chính quyền yêu cầu công dân và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam phải xin giấy phép đến thăm các khu vực biên giới, các cơ sở quốc phòng, các khu công nghiệp liên quan đến quốc phòng, các khu “dự trữ chiến lược quốc gia” và những “công trình cực kỳ quan trọng vì mục đích chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội”.

Công dân (và chủ nhà trọ) phải đăng ký với cảnh sát địa phương khi ngủ qua đêm ở bất kỳ nơi nào bên ngoài nhà riêng của họ. Người mang hộ chiếu nước ngoài cũng phải đăng ký nếu tá túc ở nhà dân, mặc dù không có trường hợp nào bị chính quyền địa phương từ chối cho phép du khách nước ngoài tá túc tại nhà bạn bè hay gia đình họ.

Các chức sắc tôn giáo bị yêu cầu phải xác định cụ thể các khu vực địa lý nơi họ sẽ hoạt động. Một số cho biết nhà chức trách nói với họ rằng việc giảng đạo bên ngoài các khu vực đã được chấp thuận là bất hợp pháp, mặc dù quy định này của luật không được thực thi một cách thống nhất.

Nhà chức trách không thực thi luật cư trú một cách nghiêm ngặt đối với người dân, và việc di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn không giảm. Tuy nhiên, việc di cư không phép đã gây khó khăn cho người dân trong việc xin giấy phép cư trú hợp pháp và hưởng các phúc lợi về giáo dục công lập và chăm sóc sức khỏe.

Xuất cảnh: Những công dân có ý định di cư đôi khi gặp khó khăn trong quá trình xin hộ chiếu hoặc giấy phép xuất cảnh; các nhà chức trách thường tịch thu hộ chiếu của các nhà hoạt động và những người chỉ trích chính quyền, đôi khi là tịch thu không thời hạn. Luật cho phép nhà chức trách trì hoãn cấp phép xuất cảnh đối với bất kỳ người nào dựa trên những căn cứ chung chung, trong đó có lý do an ninh quốc gia và quốc phòng. Có nhiều báo cáo về những người trốn ra nước ngoài qua biên giới trên bộ với Lào hoặc Campuchia vì họ không thể có được hộ chiếu hoặc giấy phép xuất cảnh; trong một số trường hợp bao gồm những người bị truy nã do bị cáo buộc phạm tội, do hoạt động chính trị hay hoạt động khác.

Bộ Công an tiếp tục cấm xuất cảnh đối với một số nhà hoạt động và chức sắc tôn giáo. Nhà chức trách cấm và ngăn cản hàng chục cá nhân xuất cảnh, thu hộ chiếu vì những cáo buộc mập mờ, hoặc từ chối cấp hộ chiếu cho một số nhà hoạt động hoặc chức sắc tôn giáo mà không có giải thích rõ ràng. Các nhà hoạt động cho rằng việc từ chối cấp giấy phép xuất cảnh là nhằm giảm thiểu cơ hội lên tiếng phản đối chính phủ Việt Nam của các nhà hoạt động này. Nhà chức trách cũng từ chối cấp hộ chiếu cho người nhà của một số nhà hoạt động.

e. Tình trạng và sự đối xử với người bị buộc di cư ở trong nước

Không có thông tin.

f. Bảo vệ người tị nạn

Chính quyền nhìn chung không hợp tác với Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn và các tổ chức khác về đối xử với người tị nạn, người tị nạn hồi hương, người xin tị nạn cũng như những người khác có liên quan.

Xin tị nạn: Luật không quy định việc cấp quy chế tị nạn và chính phủ cũng không thiết lập hệ thống bảo vệ người tị nạn.

g. Người không có quốc tịch

Theo thống kê của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn năm 2020, có 32.890 người không quốc tịch được công nhận và người không xác định được quốc tịch đang sinh sống ở Việt Nam. Con số nói trên tăng đáng kể so với con số ước tính năm 2016 là 11.000 người không quốc tịch; sự gia tăng này là do chính quyền đẩy mạnh nỗ lực xác định người không quốc tịch. Phần lớn những người này là người dân tộc H’mông sống ở khu vực biên giới, ngoài ra những người không quốc tịch còn bao gồm nhiều phụ nữ đã mất quốc tịch Việt Nam sau khi kết hôn với người nước ngoài nhưng sau đó lại mất quốc tịch nước ngoài, chủ yếu vì ly hôn.

Trong tháng 3, một nhà ngoại giao cho biết nhà chức trách địa phương ở Tiểu khu 179, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục từ chối cấp giấy tờ tùy thân và hộ khẩu cho cộng đồng người H’mong theo đạo Thiên Chúa sinh sống trong khu vực này. Không có giấy tờ tùy thân và hộ khẩu, những cư dân này không thể tiếp cận dịch vụ y tế công cộng hay giáo dục và gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm hợp pháp. Nhà chức trách địa phương chỉ cấp giấy tờ tùy thân và hộ khẩu cho các gia đình đồng ý mua nhà trong khu vực được quy hoạch làm khu dân cư bên ngoài “đất rừng”, trong đó bao gồm Tiểu khu 179.

Phần 3. Tự do tham gia các quy trình chính trị

Công dân không thể lựa chọn chính quyền thông qua bầu cử tự do, công bằng dựa trên việc bỏ phiếu phổ thông, bình đẳng và kín, bảo đảm quyền tự do biểu đạt và ý chí của nhân dân. Mặc dù Hiến pháp quy định khả năng bầu trực tiếp đại biểu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước khác, các quy định của Hiến pháp và pháp luật thiết lập độc quyền về quyền lực chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, và Đảng Cộng sản Việt Nam giám sát tất cả các cuộc bầu cử.

Bầu cử và tham gia chính trị

Các cuộc bầu cử gần đây: Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 23 tháng 5 đã cho phép cạnh tranh hạn chế giữa các ứng viên được Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét kỹ lưỡng, nhưng không tự do và không công bằng, và chính quyền không cho phép các tổ chức phi chính phủ giám sát bầu cử. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã lựa chọn và xem xét kỹ lưỡng tất cả các ứng viên thông qua một quy trình không rõ ràng với nhiều giai đoạn. Các ứng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành 485 trong số 499 ghế được bầu. 14 người còn lại là những ứng viên ngoài Đảng không có liên hệ với bất kỳ đảng phái nào, 9 trong 14 người đó tự ứng cử. Không có ứng viên nào thuộc một đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo chính phủ, 99% cử tri đủ điều kiện đã đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử ngày 23 tháng 5 - một con số mà các nhà hoạt động và các quan sát viên quốc tế cho là cao một cách khó tin. Cử tri có thể đi bỏ phiếu thay, và chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm đảm bảo rằng tất cả các cử tri đủ điều kiện đều đi bỏ phiếu bằng cách tổ chức bầu cử theo các đơn vị bầu cử, và phải xác thực rằng tất cả các cử tri đủ điều kiện trong khu vực bỏ phiếu mà họ phụ trách đã đi bỏ phiếu.

Luật cho phép công dân “tự ứng cử” đại biểu Quốc hội và nộp đơn ứng cử để bắt đầu quy trình xem xét ứng viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Có tổng cộng 74 ứng viên ngoài đảng tự ứng cử được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phê duyệt và tham gia tranh cử trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội ngày 23 tháng 5, giảm so với 97 ứng viên tự ứng cử trong cuộc bầu cử năm 2016. Các ứng viên độc lập bao gồm các nhà cải cách pháp luật, các nhà báo, các học giả, các nhà hoạt động và những người bảo vệ nhân quyền, và có cả một ứng viên đầu tiên thuộc cộng đồng người đồng tính, song tính, chuyển giới, dị tính, liên giới tính (LGBTQI+) công khai, nhưng ứng viên này đã không đắc cử ở Hà Nội. Trái ngược với các ứng viên của Đảng, các ứng viên này chủ động sử dụng Facebook và mạng xã hội để quảng bá về lập trường chính sách của họ.

Ngày 9 tháng 3, công an tỉnh Ninh Bình bắt Trần Quốc Khánh với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước”. Ông Khánh từng công bố trên mạng xã hội về ý định ra tranh cử đại biểu Quốc hội với tư cách là ứng viên độc lập. Trước khi bị bắt, ông Khánh đã bị công an chất vấn nhiều lần về hoạt động blog, về việc tuyên bố tranh cử đại biểu Quốc hội và về việc ông đăng ký tham gia một tổ chức xã hội dân sự vận động dân chủ có tên là Hội Dân chủ.

Ngày 25 tháng 3, công an Hà Nội bắt ứng viên tự ứng cử đại biểu Quốc hội Lê Trọng Hùng và cáo buộc ông này về tội “tuyên truyền chống Nhà nước”. Tại thời điểm bị bắt, ông Hùng đã nộp các giấy tờ sơ bộ để tranh cử trong cuộc bầu cử tháng 5 nhưng chưa được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sàng lọc chính thức. Ông Hùng là một nhà vận động nhân quyền lâu năm, hoạt động vận động quyền dân sự của ông tập trung vào bất công xã hội bằng việc phân phát các bản sao hiến pháp Việt Nam. Ông cũng chỉ trích nhiều đại biểu Quốc hội đang nắm giữ chức vụ và các nhà lãnh đạo đảng, nhà nước khác trên trang Facebook cá nhân.

Đảng phái chính trị và tham gia chính trị: Các phong trào đối lập chính trị và các đảng phái chính trị khác được coi là bất hợp pháp. Mặc dù hiến pháp quy định rằng “tất cả các tổ chức Đảng và Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, song trên thực tế, Bộ Chính trị có vai trò là cơ quan ra quyết định tối cao, mặc dù về nguyên tắc, Bộ Chính trị phải báo cáo trước Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự tham gia của phụ nữ và các dân tộc thiểu số: Không có luật nào hạn chế phụ nữ hoặc người dân tộc thiểu số tham gia vào quy trình chính trị, và thực tế họ đã tham gia. Luật quy định 35% ứng viên chính thức đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là phụ nữ và 18% là người dân tộc thiểu số. 151 đại biểu là nữ chiếm 30% tổng số đại biểu Quốc hội. 89 đại biểu là người dân tộc thiểu số chiếm 18% tổng số đại biểu Quốc hội.

Phần 4. Tham nhũng và sự thiếu minh bạch trong chính quyền

Mặc dù luật pháp quy định các hình phạt hình sự đối với hành vi tham nhũng của quan chức, nhưng chính quyền không phải lúc nào cũng thực thi pháp luật một cách hiệu quả, và các quan chức thường xuyên dính líu đến tham nhũng, bao gồm cả các quan chức đương nhiệm và đã nghỉ hưu thuộc Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quân đội và công an.

Tham nhũng: Việc thiếu sự tham vấn của công chúng về kế hoạch sử dụng đất và khung bồi thường đất đai của chính phủ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng tham nhũng trong chuyển nhượng đất đai - một dạng tham nhũng chiếm đa số. Tham nhũng trong các ngành tài chính, ngân hàng, khai thác tài nguyên thiên nhiên và đầu tư công vẫn là vấn đề chính trị và xã hội lớn.

Ngày 6 tháng 7, Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã cách chức bí thư tỉnh ủy tỉnh Bình Dương Trần Văn Nam do những vi phạm trong quản lý đất đai. Sau đó, công an bắt ông Nam ngày 27 tháng 7 với cáo buộc phạm tội hình sự trong việc giúp một công ty tư nhân lấy được một khu đất có giá trị một cách bất hợp pháp.

Ngày 5 tháng 8, Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng công bố gần 180 đảng viên Đảng cộng sản bị kỷ luật trong 6 tháng đầu năm do tham nhũng và cố ý làm trái quy định trong quản lý, và hơn 20 đảng viên khác bị kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập.

Ngày 23 tháng 9, cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao bắt đại tá Phùng Anh Lê, Trưởng phòng cảnh sát kinh tế Công an thành phố Hà Nội về hành vi nhận tiền để tha trái pháp luật người bị giam giữ. Ít nhất ba cán bộ công an cũng bị khởi tố trong vụ án này.

Ngày 6 tháng 11, Cựu Phó Tổng cục trưởng Tổng cục tình báo Nguyễn Duy Linh bị tuyên phạt 14 năm tù do nhận hối lộ trị giá 5 tỷ đồng (220.000 USD) từ thuộc cấp của mình là Phan Văn Anh Vũ, người bị điều tra về tội làm cố ý làm lộ bí mật Nhà nước và về các vi phạm khác liên quan đến việc bán tài sản công ở Đà Nẵng. Cùng ngày, Vũ bị tuyên phạt 7 năm 6 tháng tù về tội đưa hối lộ.

Phần 5. Thái độ của chính quyền đối với điều tra quốc tế và điều tra phi chính phủ về các cáo buộc vi phạm quyền con người

Chính quyền không cho phép các tổ chức nhân quyền độc lập trong nước được thành lập hoặc hoạt động, cũng như không dung thứ cho các tổ chức hay cá nhân chỉ trích công khai về các thực tiễn nhân quyền. Một số nhà hoạt động cho biết họ bị đe dọa đến tính mạng bởi các cá nhân mặc thường phục mà họ tin rằng có mối liên hệ với chính quyền. Nhà chức trách thường khẳng định rằng nhân quyền và vận động dân chủ là những hoạt động chống lại Đảng cộng sản và nhà nước.

Ngày 16 tháng 7, công an và cán bộ an ninh ở tỉnh Đăk Lăk thuộc khu vực Tây Nguyên đã tạm giữ ít nhất 21 cá nhân được cho là đã tham gia vào một khóa tập huấn xã hội dân sự do một tổ chức phi chính phủ về nhân quyền tổ chức. Những người bị tạm giữ có liên hệ với hai hội thánh Tin lành chưa đăng ký mà từ lâu đã bị chính quyền nhắm đến. Một người bị tạm giữ cho biết khoảng 30 cán bộ công an ập đến nhà anh ta trong trang phục bảo hộ cá nhân ngụy trang như những cán bộ y tế. Ít nhất một nạn nhân báo cáo rằng các cán bộ công an đánh đập anh ta trong quá trình hỏi cung và dọa giết khi anh ta từ chối ký vào bản nhận tội. Một nạn nhân khác báo cáo rằng công an đã cùm chân khi giam giữ chị ta và con nhỏ. Các cán bộ hỏi cung được cho là đã chất vấn những người bị giam giữ về khóa tập huấn xã hội dân sự, về mối liên hệ của họ với Mục sư A Ga; mối quan hệ chặt chẽ của họ với những người Việt ở hải ngoại, và những cuộc gặp gỡ với các nhà ngoại giao nước ngoài. Theo báo cáo, các cán bộ hỏi cung đã cảnh báo các nạn nhân rằng họ đang phạm pháp bằng việc có liên hệ với các hội thánh chưa đăng ký, tham gia khóa tập huấn xã hội dân sự, nghiên cứu Luật tín ngưỡng, tôn giáo, và liên hệ với bất kỳ cá nhân nào ở ngoài nước. Nhà chức trách thả tất cả những người bị tạm giữ sau 3 ngày mà không có cáo buộc phạm tội nào.

Phần 6. Phân biệt đối xử và Bạo hành xã hội

Phụ nữ

Hiếp dâm và bạo lực gia đình: Luật nghiêm cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo lực đối với phụ nữ, trong đó có hiếp dâm, bao gồm cả hành vi hiếp dâm bạn đời, “hành vi quan hệ tình dục khác” và “tội cưỡng dâm”. Luật cũng tội phạm hóa hành vi hiếp dâm nam giới. Người phạm tội hiếp dâm có thể phải chịu hình phạt đến 15 năm tù, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vụ việc. Bộ Công an công bố có 244 vụ hiếp dâm với 252 nghi can, trong đó công an đã khởi tố điều tra 230 vụ án và 246 bị can.

Các cơ quan chức năng coi các vụ bạo lực gia đình là vụ việc dân sự, trừ trường hợp nạn nhân bị thương tích lên đến hơn 11%. Luật quy định cụ thể các hành vi cấu thành bạo lực gia đình và quy định các mức hình phạt đối với người phạm tội từ cảnh cáo đến phạt tù đến ba năm.

Tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ là khá phổ biến. Vào năm 2019, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam báo cáo rằng có ít nhất 58% phụ nữ đã kết hôn lo lắng về bạo lực gia đình và 87% không tìm kiếm sự giúp đỡ. Các quan chức chính phủ thừa nhận bạo lực gia đình là một mối quan ngại xã hội đáng kể, và truyền thông đã thảo luận vấn đề này một cách công khai. Sự kỳ thị xã hội khiến cho nhiều nạn nhân không dám đối mặt do lo sợ bị bạn đời hoặc gia đình họ quấy rối.

Mặc dù lực lượng cảnh sát và hệ thống pháp luật nói chung vẫn chưa đủ để đối phó với các vụ việc liên quan đến bạo lực gia đình, song với sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước, chính phủ vẫn đang tiếp tục đào tạo về pháp luật cho lực lượng cảnh sát, các luật sư, những người hoạt động cộng đồng và các cán bộ tư pháp; hỗ trợ các cuộc hội thảo và hội nghị chuyên đề nhằm mục đích giáo dục phụ nữ và nam giới về bạo hành gia đình và về các quyền của phụ nữ, nhấn mạnh vấn đề này thông qua các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng.

Quấy rối tình dục: Luật pháp chỉ nghiêm cấm hành vi quấy rối tình dục ở nơi làm việc. Bộ luật Lao động có hiệu lực từ tháng 1 cho phép người lao động chấm dứt hợp đồng lao động ngay lập tức mà không cần thông báo trước nếu người lao động bị quấy rối tình dục ở nơi làm việc. Bộ luật Lao động mới cũng yêu cầu người sử dụng lao động phải có quy định về chống quấy rối tình dục trong “nội quy lao động”. Người có hành vi quấy rối tình dục ngoài nơi làm việc có thể bị xử phạt.

Trong những trường hợp nghiêm trọng, nạn nhân có thể kiện người phạm tội theo điều luật quy định về tội “làm nhục người khác” với các hình phạt bao gồm cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Quyền sinh con: Không có báo cáo nào về việc nhà chức trách cưỡng ép người dân phá thai hoặc triệt sản bắt buộc. Các chính sách dân số mang tính bắt buộc đã hạn chế quyền sinh con. Hiến pháp quy định xã hội, gia đình và mọi công dân thực hiện “chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình”. Theo luật, các cặp vợ chồng hoặc cá nhân chỉ được sinh một hoặc hai con với ngoại lệ được quy định trong nghị định của Chính phủ. Các chế tài do vi phạm quy định này được áp dụng đối với đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam và các cán bộ thuộc khu vực công.

Đảng Cộng sản Việt Nam và một số bộ và chính quyền địa phương ban hành quy định riêng về số con trong một gia đình để áp dụng đối với đảng viên và cán bộ. Chẳng hạn, Bộ chính trị đã ban hành quy định rằng đảng viên sẽ bị kỷ luật khiển trách nếu có ba con, bị cách chức nếu có bốn con, và bị khai trừ ra khỏi Đảng nếu có năm con. Vi phạm quy định này cũng khiến đảng viên bị hạn chế khả năng thăng tiến và có thể dẫn đến bị buộc thôi việc. Đảng Cộng sản Việt Nam không thực thi quy định này một cách thống nhất.

Mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ sức khỏe tình dục và sinh sản, trong đó có những nạn nhân bị bạo hành tình dục. Các dịch vụ này bao gồm dịch vụ tránh thai khẩn cấp, một phần của liệu pháp điều trị đối với nạn nhân bị hiếp dâm.

Phân biệt đối xử: Pháp luật quy định về bình đẳng giới, nhưng phụ nữ vẫn tiếp tục phải đối mặt với sự phân biệt đối xử của xã hội. Mặc dù phần lớn các đạo luật và các quy định dưới luật đều bảo vệ các quyền của phụ nữ trong hôn nhân và tại nơi làm việc, đồng thời, có nhiều quy định kêu gọi đối xử ưu đãi đối với nữ giới, song phụ nữ không phải lúc nào cũng được đối xử bình đẳng trong tuyển dụng, giáo dục, hoặc nhà ở, đặc biệt là ở các vùng nông thôn.

Mặc dù pháp luật quy định về quyền thừa kế bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ, nhưng con trai thường được thừa kế tài sản nhiều hơn con gái, trừ khi được quy định khác trong một văn bản mang tính pháp lý như di chúc.

Lựa chọn giới tính thai nhi do định kiến giới: Theo số liệu năm 2019 của Bộ Y tế (số liệu cập nhật nhất tính đến thời điểm hiện nay), tỷ lệ giới tính bé trai/bé gái trung bình của trẻ sơ sinh ở Việt Nam là 111,5 bé trai/100 bé gái, còn cách xa so với mức chuẩn tự nhiên là 104-106 bé trai/100 bé gái. Để giải quyết vấn đề lựa chọn giới tính thai nhi do định kiến giới, chính phủ cấm xác định giới tính trước khi sinh và cấm các hành vi bạo lực và phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới. Người vi phạm các quy định này có thể bị phạt tiền hoặc thậm chí là phạt tù. Ở cấp địa phương hoặc cấp tỉnh, một số cơ quan chức năng thưởng bằng tiền mặt cho các gia đình để khuyến khích sinh con gái. Chẳng hạn, chính quyền tỉnh Hậu Giang thưởng cho các cặp vợ chồng sinh hai con gái số tiền thưởng một lần từ 390.000 đồng đến 1,3 triệu đồng ($17 đến $56).

Bạo lực và phân biệt đối xử có hệ thống giữa các chủng tộc, dân tộc

Luật nghiêm cấm phân biệt đối xử đối với người dân tộc thiểu số, nhưng sự phân biệt đối xử của xã hội đối với người dân tộc thiểu số đã tồn tại từ lâu và tiếp tục dai dẳng.

Các nhóm dân tộc thiểu số chiếm một tỷ lệ lớn dân số ở một số nơi, trong đó có khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và một phần của đồng bằng sông Cửu Long. Hiến pháp ghi nhận quyền của thành viên các nhóm dân tộc thiểu số được sử dụng ngôn ngữ của họ và bảo tồn, phát huy truyền thống và văn hóa riêng của họ. Tuy nhiên, có các báo cáo cho thấy rằng không phải tất cả thành viên các nhóm dân tộc thiểu số có thể tham gia vào quy trình ra quyết định ảnh hưởng đến đất đai, văn hóa và truyền thống của họ.

Các tổ chức nhân quyền quốc tế và người tị nạn tiếp tục cáo buộc chính quyền giám sát, sách nhiễu và hăm dọa các thành viên của một số nhóm dân tộc thiểu số, đặc biệt là các nhóm dân tộc-tôn giáo thiểu số ở Tây Bắc và Tây Nguyên, trong đó có người H’mông theo Thiên Chúa giáo.

Trong những năm trước đây, nhà chức trách viện dẫn các quy định về an ninh quốc gia để bỏ tù những người dân tộc thiểu số do họ có liên hệ với các tổ chức ở nước ngoài mà chính phủ cho là có mục đích ly khai, và đã kết án những người này nhiều năm tù. Tuy nhiên không có trường hợp nào như vậy trong năm qua.

Mặc dù Chính phủ tiếp tục giao đất cho các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, việc thu hồi đất ở các khu vực này vẫn diễn ra phổ biến. Chính phủ dành điều kiện ưu đãi cho các công ty trong nước và nước ngoài đầu tư ở khu vực miền núi nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Ngoài ra, Chính phủ cũng hỗ trợ các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng tại những khu vực nghèo đói, nhiều dân tộc thiểu số sinh sống và xây dựng các chương trình khuyến nông cho các khu vực nông thôn xa xôi hẻo lánh.

Trẻ em

Đăng ký khai sinh: Theo quy định của luật, bất cứ ai có cha hoặc mẹ là người Việt Nam đều được chính phủ công nhận là công dân Việt Nam. Những người có cha mẹ không phải là người Việt Nam cũng có thể được cấp quy chế công dân trong một vài trường hợp nhất định.

Trẻ em có cha mẹ là người không có quốc tịch hoặc mẹ là người không có quốc tịch và không biết cha là ai có thể được công nhận là công dân Việt Nam nếu cha mẹ hoặc người mẹ không có quốc tịch thường trú ở Việt Nam, điều này khiến cho quy trình cấp quy chế công dân trong hầu hết các trường hợp là khó khăn.

Luật yêu cầu phải trình giấy khai sinh khi sử dụng các dịch vụ công cộng, chẳng hạn như giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, một số cha mẹ, đặc biệt là người dân tộc thiểu số, vẫn không đăng ký khai sinh cho con. Nhà chức trách địa phương đã ngăn cản một số cha mẹ đăng ký khai sinh cho con để hạn chế tình trạng di cư trong nước.

Giáo dục: Theo luật, giáo dục là bắt buộc, miễn học phí, và phổ cập cho đến khi trẻ 14 tuổi, mặc dù các trường học thường thu các loại phí. Theo một chương trình trợ cấp của chính phủ, học sinh dân tộc thiểu số được miễn học phí. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng không phải lúc nào cũng thực hiện đúng quy định về giáo dục bắt buộc này, hoặc chưa thực hiện một cách đồng đều đối với các bé trai và bé gái, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi mà ngân sách của chính phủ và gia đình dành cho giáo dục còn hạn chế và đóng góp của trẻ em trong lực lượng lao động nông nghiệp vẫn được đánh giá cao.

Khoảng cách về giới trong giáo dục vẫn còn. Có sự chênh lệch đáng kể về hồ sơ giáo dục của nam và nữ ở trình độ trên trung học, nhất là ở trong các chương trình công nghệ ứng dụng.

Chính quyền đôi khi từ chối không cho trẻ em thuộc các gia đình không đăng ký nhân khẩu ở địa phương tiếp cận giáo dục, điều này tạo ra sự phân biệt đối xử chủ yếu đối với các cộng đồng người H’mông ở Tây Nguyên và con cái của một số nhà hoạt động chính trị và tôn giáo.

Xâm hại trẻ em: Chính phủ không thực thi có hiệu quả các luật hiện hành về xâm hại trẻ em; tình trạng trẻ em bị đối xử tệ về thể chất và tinh thần còn phổ biến.

Các quan sát viên đồng thuận rằng bạo lực đối với trẻ em xảy ra ở nhiều môi trường, bao gồm cả trường học và gia đình, và thường do người có quen biết với trẻ em gây ra. Các hình thức phổ biến nhất của bạo lực học đường là bắt nạt và hình phạt thân thể do các giáo viên áp dụng. Số lượng các vụ việc xâm hại trẻ em được báo cáo, đặc biệt là số vụ xâm hại tình dục trẻ em, đang gia tăng. Đường dây nóng quốc gia về bảo vệ trẻ em báo cáo có sự gia tăng đáng kể (150%) số cuộc gọi đến đường dây liên quan đến bạo hành và xâm hại trẻ em trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 8 so với 3 tháng đầu năm. Ngoài ra còn có thêm nhiều báo cáo về tình trạng xâm hại trẻ em qua mạng xuất phát từ việc trường học đóng cửa và cách ly xã hội do dịch COVID-19.

Năm 2019, UNICEF cho biết không có các thủ tục và quy trình hiệu quả mang tính liên ngành và nhạy cảm về giới để xử lý các tố cáo xâm hại trẻ em, và trách nhiệm của các cơ quan chức năng là không rõ ràng. Lực lượng bảo vệ trẻ em, từ những cán bộ công tác xã hội đến những người làm công tác chuyên môn có liên quan như công an, thẩm phán, kiểm sát viên, giáo viên và chuyên viên y tế chỉ được đào tạo rất sơ sài, không được cung cấp thông tin và nói chung không đủ để giải quyết vấn đề này, nhất là ở cấp địa phương.

Kết hôn ở độ tuổi trẻ em, kết hôn sớm và bị ép buộc: Theo luật, độ tuổi kết hôn tối thiểu là 18 tuổi đối với nữ và 20 tuổi đối với nam, và luật quy định hành vi tổ chức kết hôn hoặc kết hôn với người chưa đủ tuổi là hành vi phạm tội.

Bóc lột tình dục trẻ em: Pháp luật quy định tất cả các hành vi mua bán, tước đoạt tự do của trẻ em cũng như tất cả các hành vi liên quan đến mại dâm trẻ em đối với trẻ em dưới 16 tuổi là phạm tội. Hành vi liên quan đến mại dâm trẻ em đối với trẻ em 16 tuổi và 17 tuổi không bị coi là tội phạm. Luật cũng cấm tất cả các hành vi đối xử tàn ác với trẻ em, xúc phạm trẻ em, bắt cóc, mua bán trẻ em, cưỡng ép trẻ em thực hiện các hoạt động có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em.

Hình phạt cho những người phạm tội bóc lột tình dục trẻ em là từ 3 năm tù đến tù chung thân và phạt tiền ở mức đáng kể. Pháp luật cũng quy định hình phạt tù đối với các hành vi liên quan đến mại dâm trẻ em, trong đó có hành vi chứa chấp mại dâm trẻ em (từ 12 đến 20 năm tù), môi giới mại dâm trẻ em (từ 7 đến 15 năm tù), và mua dâm người chưa thành niên (từ 3 đến 15 năm tù). Việc sản xuất, phân phối, phổ biến, hoặc bán các sản phẩm khiêu dâm trẻ em là bất hợp pháp và có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm. Việt Nam là một điểm đến của du lịch tình dục trẻ em.

Tuổi được quan hệ tình dục có sự đồng thuận tối thiểu là 18. Hành vi hiếp dâm có thể bị kết án tù chung thân hoặc tử hình. Hình phạt cho hành vi quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên từ 16 đến 18 tuổi là từ 5 đến 10 năm tù tùy từng trường hợp cụ thể. Hình phạt đối với tội hiếp dâm trẻ em trong độ tuổi từ 13 đến dưới 16 là từ 7 đến 15 năm tù. Nếu làm nạn nhân có thai, hiếp dâm có tính chất loạn luân, hoặc người phạm tội là người giám hộ của nạn nhân thì mức án tăng lên từ 12 đến 20 năm tù. Luật quy định tất cả các trường hợp giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi đều được coi là hiếp dâm trẻ em, và người phạm tội có thể bị kết án từ 12 năm tù đến tử hình. Chính quyền thực thi pháp luật và những kẻ phạm tội hiếp dâm phải nhận những bản án nghiêm khắc.

Trẻ em lang thang: Báo chí đưa tin rằng vào thời điểm năm 2014, có khoảng 22.000 trẻ em sống lang thang trên đường phố và đôi khi các em bị cảnh sát quấy rối, bóc lột tình dục và bạo hành.

Bắt cóc trẻ em quốc tế: Việt Nam không phải là thành viên của Công ước Hague năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em quốc tế. Xem Báo cáo thường niên về việc cha mẹ bắt cóc trẻ em quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tại trang web: https://www.travel.state.gov/content/travel/en/International-Parental-Child-Abduction/for-providers/legal-reports-and-data/reported-cases.html.

Thái độ thù địch đối với người Do Thái

Có rất ít người nước ngoài là người Do Thái sinh sống tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, và không có báo cáo nào về những hành vi chống lại người Do Thái.

Nạn buôn người

Xem Báo cáo về nạn buôn người của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trên trang web: https://www.state.gov/trafficking-in-persons-report/.

Người khuyết tật

Hiến pháp có các quy định bảo vệ người bị khuyết tật về thể chất và tâm thần. Luật pháp nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử hoặc ngược đãi đối với người khuyết tật về thể chất, hoặc tâm thần, hoặc cả hai, và bảo vệ quyền của họ trong việc tiếp cận giáo dục và các dịch vụ khác của nhà nước, nhưng chính phủ gặp khó khăn trong việc thực thi các quy định này. Người khuyết tật phải đối mặt với sự kỳ thị xã hội diễn ra trên diện rộng. Luật pháp bảo vệ các quyền của người khuyết tật bao gồm quyền tiếp cận giáo dục, việc làm, dịch vụ y tế, thông tin, truyền thông, xây dựng, giao thông vận tải, hệ thống tư pháp và các dịch vụ khác của nhà nước; tuy nhiên, đa số người khuyết tật vẫn phải đối mặt với những thách thức trong việc thực hiện các quyền của họ.

Các dịch vụ cho người khuyết tật còn hạn chế, và các chính sách đã công bố không được thực thi. Chẳng hạn, mặc dù pháp luật quy định việc xây dựng và tu bổ các tòa nhà làm việc của chính phủ và các công trình công cộng lớn phải tính đến việc tạo thuận lợi cho người khuyết tật di chuyển, nhưng việc thực thi quy định này còn rời rạc, nhất là đối với các dự án ở bên ngoài các thành phố lớn.

Tiếp cận giáo dục đối với trẻ em khuyết tật, đặc biệt là trẻ bị điếc và trẻ bị khiếm khuyết về mặt trí tuệ vẫn còn cực kỳ hạn chế.

Pháp luật không có quy định nào hạn chế quyền bỏ phiếu của người khuyết tật, tuy nhiên nhiều điểm bỏ phiếu khó tiếp cận đối với những người bị khuyết tật về thể chất.

Mặc dù việc cung cấp các dịch vụ xã hội cho người khuyết tật còn hạn chế, song chính phủ đã nỗ lực hỗ trợ thành lập các tổ chức trợ giúp người khuyết tật và tham vấn ý kiến của các tổ chức đó khi xây dựng hoặc rà soát các chương trình quốc gia, chẳng hạn như chương trình giảm nghèo quốc gia, pháp luật về hướng nghiệp và các chính sách giáo dục. Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật, Liên hiệp hội người khuyết tật Việt Nam và các thành viên của các tổ chức này từ nhiều bộ ngành phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước để bảo vệ, hỗ trợ, tăng khả năng tiếp cận về thể chất cũng như tiếp cận giáo dục và việc làm của người khuyết tật. Chính phủ điều hành một mạng lưới nhỏ các trung tâm phục hồi chức năng để cung cấp dịch vụ vật lý trị liệu lâu dài cho bệnh nhân nội trú.

Các tổ chức phi chính phủ cho biết họ tiếp tục gặp phải những thách thức trong việc đề nghị chính quyền cấp tỉnh cấp kinh phí và tổ chức các khóa đào tạo cho các chương trình liên quan đến người khuyết tật, chính quyền cấp tỉnh đã gây trở ngại cho các nhân viên quốc tế trong việc tiếp cận để tiến hành đào tạo cho người khuyết tật.

Kỳ thị xã hội đối với những người nhiễm HIV và AIDS

Người bị nhiễm HIV tiếp tục đối mặt với tình trạng phân biệt đối xử trong việc tiếp cận và duy trì việc làm. Việc bị bắt và giam giữ trong các trung tâm cai nghiện bắt buộc do tiếp tục sử dụng heroin hoặc ma túy tổng hợp đã ngăn cản người sử dụng ma túy tiếp cận các dịch vụ điều trị HIV và dịch vụ y tế khác, mặc dù việc điều trị này được coi là quyền cơ bản của các bệnh nhân nhiễm HIV.

Các hành vi bạo hành, tội phạm hóa và hành vi xâm hại khác dựa trên khuynh hướng tính dục và bản dạng giới

Luật pháp không cấm phân biệt đối xử với những người thuộc cộng đồng LGBTQI+ về nhà ở, việc làm, pháp luật quốc tịch, tiếp cận dịch vụ của chính phủ. Bộ luật dân sự quy định cá nhân đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính có quyền đăng ký hộ tịch mới, nhưng tính đến cuối năm, văn bản hướng dẫn thi hành quy định này vẫn chưa được ban hành.

Những người thuộc cộng đồng LGBTQI+ và các tổ chức phi chính phủ cho biết thông tin không chính xác về khuynh hướng tính dục và bản dạng giới vẫn tràn lan, vẫn còn sự kỳ thị xã hội và phân biệt đối xử trên diện rộng đối với người thuộc nhóm LGBTQI+, bao gồm cả ở trường học nơi những học sinh LGBTQI+ thường bị bắt nạt. Trong xã hội vẫn tồn tại phổ biến quan niệm rằng sự hấp dẫn với người đồng giới là một tình trạng sức khỏe tâm thần có thể chẩn đoán và điều trị khỏi, dẫn đến việc người thuộc nhóm LGBTQI+ có thể đối mặt với rủi ro bị ép thực hiện “liệu pháp chuyển đổi giới tính”. Một số người đồng tính nữ cho biết họ bị hiếp dâm để sửa chữa khuynh hướng tính dục và bị cưỡng ép kết hôn.

Phần 7. Quyền của người lao động

a. Tự do lập hội và quyền thương lượng tập thể

Pháp luật quy định người lao động là công dân Việt Nam có quyền thành lập và tham gia các tổ chức công đoàn thuộc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, một tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam báo cáo trực tiếp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quy định này không bảo vệ các tổ chức công đoàn trước sự can thiệp và kiểm soát của chính quyền đối với hoạt động công đoàn. Bộ luật lao động mới có hiệu lực từ tháng 1 cho phép người lao động thành lập hoặc tham gia các tổ chức đại diện người lao động độc lập do họ lựa chọn (tổ chức đại diện của người lao động), các tổ chức này không nhất thiết phải thuộc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam; tuy nhiên, một số nghị định cần thiết để hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động vẫn chưa được ban hành.

Luật Công đoàn hạn chế tự do lập hội khi không cho các tổ chức công đoàn có quyền tự chủ hoàn toàn trong điều hành các công việc của họ. Tất cả các tổ chức công đoàn phải tuân theo các quy định pháp luật và hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luật trao cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quyền sở hữu mọi tài sản của công đoàn, đồng thời trao cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quyền đại diện cho các công đoàn cấp dưới. Theo luật, những người lãnh đạo và cán bộ công đoàn được bổ nhiệm chứ không phải do các công đoàn viên bầu ra.

Luật quy định ở nơi nào không có tổ chức công đoàn, “công đoàn cấp trên trực tiếp” phải thực hiện các nhiệm vụ của công đoàn cơ sở, kể cả khi người lao động không đề nghị hoặc đã tự nguyện lựa chọn không có tổ chức công đoàn.

Bộ luật lao động mới có các quy định về thương lượng tập thể về bất kỳ vấn đề nào mà cả hai bên đều quan tâm nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định. Luật quy định quy trình thương lượng tập thể phải được bắt đầu trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày một bên yêu cầu và các bên có 90 ngày để đạt được thỏa thuận.

Luật cho phép thương lượng tập thể tại doanh nghiệp, thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, nhưng quy định thêm một số điều kiện, chẳng hạn ủy ban nhân dân tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở hoặc ủy ban nhân dân tỉnh nơi các doanh nghiệp lựa chọn trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp tham gia phải thành lập hội đồng thương lượng tập thể.

Luật cấm người lao động đình công trong những lĩnh vực mà chính phủ cho là thiết yếu đối với nền kinh tế quốc dân, quốc phòng và trật tự công cộng. “Các dịch vụ thiết yếu” bao gồm sản xuất điện; bưu chính viễn thông; vận tải, giao thông và quản lý vận tải biển và hàng không; các công trình công cộng; sản xuất dầu khí. Luật cũng cho chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyền được đình chỉ những cuộc đình công bị coi là gây hại đến nền kinh tế quốc dân hay an toàn công cộng.

Bộ luật lao động mới quy định người lao động có quyền thương lượng tập thể thông qua Tổng liên đoàn lao động Việt Nam hoặc tổ chức đại diện người lao động thì có quyền đình công nhưng với những hạn chế về nội dung và thủ tục. Luật chỉ cho phép đình công trong trường hợp cuộc đình công xuất phát từ tranh chấp lao động tập thể và trường hợp thỏa ước lao động tập thể không được ký kết trong thời hạn luật định, hoặc trường hợp hội đồng trọng tài lao động chưa được thành lập. Người lao động phải báo trước 5 ngày cho người sử dụng lao động và cán bộ phụ trách lao động thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện trước khi đình công. Các cuộc đình công không tuân theo đúng trình tự do luật quy định bị coi là bất hợp pháp.

Luật quy định ban chấp hành công đoàn chỉ được ban hành quyết định đình công khi có ít nhất 50% người lao động ủng hộ việc này. Người lao động phải yêu cầu và phải trải qua một quy trình hòa giải và trọng tài phức tạp và rườm rà trước khi được phép đình công hợp pháp. Công đoàn hoặc đại diện của người lao động có quyền kháng cáo quyết định của hội đồng trọng tài cấp tỉnh lên tòa án nhân dân cấp tỉnh, hoặc có quyền tổ chức đình công. Luật cũng quy định rằng những người đình công sẽ không được hưởng lương trong thời gian không làm việc. Luật cấm trả đũa người đình công. Theo luật, các cá nhân tham gia các cuộc đình công mà bị tòa án nhân dân tuyên bố là bất hợp pháp và gây thiệt hại cho người sử dụng lao động thì phải bồi thường các thiệt hại đó, tuy nhiên quy định này chưa bao giờ được thực thi.

Luật có những quy định cấm hành vi phân biệt đối xử chống lại công đoàn và áp đặt các chế tài hành chính và phạt tiền đối với hành vi vi phạm. Tuy nhiên, luật không phân biệt giữa người lao động và người quản lý và không cấm các nhân viên dưới quyền của người sử dụng lao động, chẳng hạn như người quản lý, tham gia ban lãnh đạo công đoàn hoặc can thiệp vào hoạt động công đoàn.

Chính quyền không thực thi pháp luật một cách hiệu quả. Hình phạt không tương xứng với quy định trong các luật tương tự.

Có rất ít cuộc đình công do những lệnh hạn chế đi lại và tụ tập nhằm phòng chống dịch COVID-19. Không cuộc đình công nào trong số này tuân theo quy trình hòa giải và trọng tài, do đó, chính quyền coi đây là những cuộc đình công "tự phát" bất hợp pháp. Tuy nhiên, chính phủ đã không thực hiện hành động nào chống lại những người lao động tham gia đình công.

Do việc thành lập hoặc tìm cách thành lập tổ chức công đoàn độc lập là bất hợp pháp trước khi có Bộ luật lao động mới, nên không có tổ chức phi chính phủ trong nước nào về lao động tham gia vào việc tổ chức lao động. Tuy nhiên, các tổ chức phi chính phủ về lao động chưa được đăng ký của địa phương đã hỗ trợ các nỗ lực nâng cao nhận thức về quyền của người lao động và các vấn đề về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, đồng thời hỗ trợ người lao động di trú trong nước và nước ngoài. Nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế về lao động đã phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong việc đào tạo cho các đại diện công đoàn thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về tổ chức lao động, thương lượng tập thể và các vấn đề công đoàn khác. Chương trình Better Work Vietnam của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) cho biết sự can thiệp của những người quản lý vào hoạt động của công đoàn là một vấn đề lớn tại các nhà máy dệt may và nhà máy sản xuất giày dép ở Việt Nam.

b. Cấm lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc

Hiến pháp và luật nghiêm cấm mọi hành vi lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc. Tuy nhiên, định nghĩa về lao động cưỡng bức trong Bộ luật lao động không bao hàm lao động để trừ nợ. Luật tội phạm hóa tất cả các hình thức buôn bán lao động là người thành niên và trẻ em dưới 16 tuổi. Chính quyền không thực thi luật một cách hiệu quả. Hình phạt cho các tội này không tương xứng với hình phạt dành cho các tội phạm nghiêm trọng tương tự; trên thực tế, pháp luật không quy định chế tài xử phạt nào đối với hành vi vi phạm quy định về cấm lao động cưỡng bức. Các tổ chức phi chính phủ tiếp tục cho biết lao động cưỡng bức đối với nam giới, phụ nữ và trẻ em tại Việt Nam vẫn còn tiếp diễn. (xem thêm mục 7.c.).

Các công ty xuất khẩu lao động, phần lớn có liên kết với các doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị môi giới không có giấy phép được cho là đã thu tiền của người lao động có nguyện vọng xuất khẩu lao động cao hơn mức phí pháp luật cho phép. Trong năm 2020, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã thanh tra 84 doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, xử phạt vi phạm hành chính đối với 32 doanh nghiệp và thu hồi 6 giấy phép hoạt động do những sai phạm của các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, vi phạm vẫn tiếp diễn dù Bộ đã tiến hành thanh tra, xử phạt cũng như tổ chức nhiều hội thảo nhằm nâng cao nhận thức. Người lao động có nguyện vọng xuất khẩu lao động phải gánh chịu những khoản nợ lớn và do đó dễ trở thành nạn nhân của lao động cưỡng bức, kể cả việc phải lao động để trừ nợ, tại các nước tiếp nhận lao động. Ngoài ra, tiếp tục có các báo cáo cho thấy tình trạng lao động cưỡng bức trong ngành dệt may không chính thức.

Xem thêm Báo cáo về tình trạng buôn bán người của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tại trang web: https://www.state.gov/trafficking-in-persons-report/.