Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền năm 2021

d. Bắt người hoặc giam giữ tùy tiện

Chapter 210,163 wordsPublic domain (Wikisource)

Hiến pháp quy định rằng việc bắt bất kỳ cá nhân nào cũng phải có quyết định của tòa án hoặc viện kiểm sát, trừ trường hợp “phạm tội một cách rõ ràng”. Luật cho phép chính quyền bắt và giam giữ người “đến khi kết thúc điều tra” đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong đó có các vụ án về an ninh quốc gia. Người bị giam giữ về các tội không liên quan đến chính trị có thể khiếu nại tính hợp pháp của việc họ bị giam giữ với cơ quan đã bắt họ, nhưng người bị giam giữ hoặc người đại diện của họ không có quyền khiếu nại tính hợp pháp của việc bắt người trước tòa án. Có nhiều trường hợp nhà chức trách bắt hoặc giam giữ các nhà hoạt động hoặc những người chỉ trích chính quyền trái với quy định của luật hoặc dựa trên các căn cứ không xác thực. Nhà chức trách thường xuyên không cho các nhà hoạt động và nghi can phạm tội hình sự ra khỏi nhà mà không có cáo buộc phạm tội.

Thủ tục bắt và đối xử với người bị giam giữ

Theo luật, công an nói chung cần có lệnh của Viện kiểm sát nhân dân về việc bắt nghi can, dù trong một số trường hợp công an cần quyết định của tòa án. Bộ luật tố tụng hình sự cũng cho phép công an có quyền “bắt người” mà không cần lệnh bắt trong “trường hợp khẩn cấp”, chẳng hạn như có bằng chứng chứng minh một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm hoặc khi công an phát hiện một người phạm tội quả tang. Các luật sư bảo vệ nhân quyền đồng quan điểm rằng việc giam giữ người mà không có lệnh bắt là một thực tiễn phổ biến. Có nhiều trường hợp các nhà hoạt động bị giam giữ bởi các cá nhân mặc thường phục mà không có lệnh bắt.

Ngoài việc bắt giữ thực tế, các luật sư và các tổ chức phi chính phủ về nhân quyền báo cáo rằng trong nhiều trường hợp, công an “mời” các cá nhân đến trình diện tại đồn công an mà không cung cấp lý do rõ ràng. Những cá nhân này sẽ bị giữ lại trong nhiều giờ và bị thẩm vấn hoặc bị yêu cầu viết hoặc ký vào các báo cáo. Nhiều trường hợp như vậy không có liên quan gì đến chính trị hoặc các vấn đề nhạy cảm.

Cơ quan điều tra, trong hầu hết các trường hợp là công an, có thể tạm giữ nghi phạm trong 72 giờ mà không cần lệnh bắt. Họ phải thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân trong vòng 12 giờ kể từ khi có quyết định tạm giữ. Viện Kiểm sát nhân dân phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc bắt người trong vòng 12 giờ sau khi nhận được thông báo từ cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra có thể gia hạn tạm giữ hai lần, mỗi lần ba ngày, nếu được Viện kiểm sát phê chuẩn. Nhất là trong các vụ án có động cơ chính trị, các thủ tục này không được áp dụng thống nhất và chặt chẽ.

Luật quy định phải ghi âm, ghi hình các cuộc hỏi cung bị can trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Trong trường hợp không thể tiến hành ghi âm, ghi hình, chỉ được phép hỏi cung nếu người bị hỏi cung đồng ý. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định này không được áp dụng thống nhất. Theo các nhà hoạt động nhân quyền, trong nhiều phiên tòa hình sự, các bản ghi hình được nhà chức trách sử dụng để gây ảnh hưởng đến nhận thức của tòa án và công chúng về bị cáo và về vụ án. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vào tháng 12, bị cáo Phạm Đoan Trang, một cây viết và nhà báo ủng hộ dân chủ, khẳng định rằng bản nhận tội của bị cáo được viết khi bị ép cung và do đó không nên được chấp nhận làm chứng cứ.

Theo luật, Viện Kiểm sát nhân dân phải ban hành quyết định điều tra chính thức đối với người bị tạm giữ và thông báo cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong vòng ba ngày kể từ ngày bắt; nếu không, công an phải thả nghi phạm. Luật cho phép Viện kiểm sát nhân dân đề nghị tòa án có thẩm quyền đối với vụ án gia hạn thời gian tạm giữ hai lần, mỗi lần ba ngày, tối đa là chín ngày trước khi bắt đầu điều tra.

Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự quy định thời hạn tạm giam để điều tra, kể cả đối với các tội phạm “nghiêm trọng” và “đặc biệt nghiêm trọng” (đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, một người có thể bị tạm giam đến 16 tháng), nhưng luật cho phép Viện kiểm sát nhân dân tạm giam một người “đến khi kết thúc điều tra” trong trường hợp phạm tội “đặc biệt nghiêm trọng”, trong đó có các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Chỉ sau khi kết thúc điều tra, các nghi phạm mới bị buộc tội chính thức.

Trong thời gian nghi phạm bị tạm giam để điều tra, nhà chức trách có quyền từ chối không cho người nhà vào thăm; họ thường xuyên từ chối quyền này của những người bị bắt với cáo buộc xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các trường hợp phạm tội khác có động cơ chính trị.

Luật cho phép bảo lãnh tại ngoại dưới hình thức đặt tiền hoặc tài sản có giá trị như một biện pháp thay thế tạm giam, nhưng hiếm khi nhà chức trách áp dụng.

Luật yêu cầu các cơ quan chức năng phải thông báo cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về các quyền của họ theo quy định của pháp luật, bao gồm cả quyền có luật sư trong vòng ba ngày kể từ ngày bị bắt. Theo luật, chính quyền phải chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo nếu bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không nhờ luật sư bào chữa trong các trường hợp bị cáo bị buộc tội theo khung hình phạt có mức án cao nhất là tử hình, hoặc bị cáo là người chưa thành niên hoặc người bị khuyết tật về thể chất hoặc bị coi là mất khả năng nhận thức. Chính phủ cũng có thể chỉ định luật sư trong một số vụ án nhất định, bao gồm các vụ án có bị cáo là người có công lao đóng góp đáng kể cho đất nước, thành viên hộ nghèo hoặc cận nghèo, người dân tộc thiểu số ở các địa phương nghèo, vùng sâu vùng xa. Chính phủ cũng có thể chỉ định luật sư trong các vụ án mà bị cáo hoặc gia đình họ là nạn nhân chất độc da cam, người cao tuổi hoặc người khuyết tật, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân buôn người, người nhiễm HIV.

Mặc dù luật cho phép người bị giam giữ được tiếp xúc với luật sư từ lúc bị tạm giữ, nhưng nhà chức trách dùng nhiều cách trì hoãn quan liêu để ngăn không cho người bị giam giữ tiếp xúc với luật sư một cách kịp thời. Trong các vụ án về an ninh quốc gia có tính chất nhạy cảm về chính trị, nhà chức trách cấm luật sư tiếp cận với thân chủ của họ cho đến khi các cán bộ kết thúc điều tra và nghi phạm đã chính thức bị buộc tội. Các nhà hoạt động như Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư và Nguyễn Tường Thụy không được phép gặp luật sư trong quá trình điều tra. Đôi khi nhà chức trách chỉ cho phép luật sư tiếp cận với thân chủ của họ hoặc tiếp cận chứng cứ chống lại thân chủ ngay trước khi vụ án được đưa ra xét xử và do đó luật sư không có đủ thời gian để chuẩn bị bào chữa. Chẳng hạn, nhà chức trách tỉnh Ninh Bình chỉ cho phép blogger Trần Quốc Khánh gặp luật sư của mình một ngày trước phiên tòa sơ thẩm. Tại cuộc gặp này, ông Khánh đã từ chối nhờ luật sư bào chữa (một số người cho biết ông ta bị ép buộc làm việc này) và vì vậy không có luật sư nào bào chữa cho ông Khánh tại phiên tòa.

Người bị giam giữ có quyền thông báo cho người nhà về việc họ bị bắt. Mặc dù công an nhìn chung có thông báo cho gia đình người bị giam giữ về nơi giam giữ, nhưng Bộ Công an đã giam giữ nhiều blogger, nhà hoạt động và những người khác bị tình nghi phạm tội chính trị hoặc xâm phạm an ninh quốc gia mà không cho họ liên lạc.

Bắt người tùy tiện: Việc bắt và giam giữ tùy tiện, đặc biệt đối với các nhà hoạt động chính trị và các cá nhân phản đối việc thu hồi đất hoặc các sự việc bất công khác vẫn còn là một vấn đề nghiêm trọng. Một số nhà hoạt động cũng báo cáo về việc công an thường xuyên thẩm vấn họ để lấy thông tin buộc tội các nhà hoạt động nhân quyền khác.

Nhà chức trách giam giữ nhiều nhà hoạt động tôn giáo và chính trị một cách tùy tiện ở các mức độ khác nhau như giam giữ tại nhà, trên xe, tại đồn công an địa phương, tại “các trung tâm bảo trợ xã hội”, hoặc tại cơ quan chính quyền địa phương. Việc giam giữ này xảy ra phổ biến nhất trong khoảng thời gian diễn ra các sự kiện có khả năng thu hút sự chú ý rộng rãi của công chúng.

Trong chuyến công tác hồi tháng 8 của một quan chức nước ngoài, các nhà hoạt động nổi bật ở Hà Nội cho biết họ bị theo dõi chặt chẽ bởi các lực lượng an ninh. Các nhà hoạt động này nói rằng họ tin là các cán bộ an ninh sẽ ngăn cản họ nếu họ cố gắng rời khỏi nơi cư trú. Tương tự, vào tháng 1, các nhà hoạt động ước tính có hàng nghìn cá nhân trong cả nước bị theo dõi chặt chẽ trước và trong khi diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc.

Vào đầu tháng 10, một nhà hoạt động bị dẫn giải bằng vũ lực đến đồn công an địa phương ở Cao Bằng bởi các cán bộ mặc thường phục mà không có lệnh bắt, các cán bộ này đã khám xét tư trang và chất vấn bà trong nhiều giờ. Đến tối muộn hôm đó, bà mới được thả sau khi người nhà của bà đe dọa sẽ công bố công khai sự việc này.

Tạm giam chờ xét xử: Thời gian cho phép tạm giam để điều tra là trong khoảng từ 3 tháng đến 16 tháng, tùy vào mức độ phạm tội. Không có quy định chuẩn trong luật hoặc văn bản hành chính về thời hạn nghi phạm phải được đưa đến trình diện một cán bộ tòa án. Thời hạn này là khác nhau tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và tính chất của hành vi phạm tội. Trong những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bao gồm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, luật cho phép tạm giam “cho đến khi kết thúc điều tra”.

Tương tự, thời hạn chuẩn bị xét xử cho phép là từ 45 đến 120 ngày. Theo luật, phiên tòa phải được mở trong thời hạn 30 ngày từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tổng thời gian tạm giam chờ xét xử là tổng tất cả các thời hạn này; thời hạn tạm giam chờ xét xử trên danh nghĩa tối đa là 21 tháng trong những trường hợp “phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. Nhà chức trách thường tạm giam quá thời hạn này mà không bị xử phạt, và các nhà hoạt động cho biết công an và kiểm sát viên thường kéo dài thời hạn tạm giam chờ xét xử nhằm trừng phạt hoặc gây sức ép để những người bảo vệ nhân quyền phải nhận tội. Theo luật, nhà chức trách phải cung cấp căn cứ để tạm giam quá thời hạn 4 tháng, nhưng các cán bộ tòa án bỏ qua việc công an hoặc kiểm sát viên không tuân thủ quy định này khi xét xử các vụ án hình sự.

Việc kéo dài thời hạn tạm giam chờ xét xử không chỉ áp dụng đối với các nhà hoạt động. Truyền thông nhà nước chia sẻ một báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao hồi tháng 9 viện lý do COVID-19 để biện minh cho sự tiếp tục chậm trễ trong hệ thống tư pháp hình sự, mặc dù tình trạng chậm trễ này là phổ biến kể cả trước đại dịch. Theo báo cáo, trong khoảng thời gian 10 tháng tính đến tháng 7, hệ thống tòa án xét xử khoảng 80% trên tổng số 77.450 vụ án hình sự đã thụ lý.

Khả năng của người bị giam giữ được yêu cầu xem xét lại tính hợp pháp của việc giam giữ trước tòa án: Người bị giam giữ không có quyền này. Người bị giam giữ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định giam giữ. Nếu cơ quan này kết luận rằng việc bắt hoặc giam giữ là không đúng đắn, người bị giam giữ có thể được bồi thường thiệt hại.

e. Từ chối xét xử công khai và công bằng

Luật pháp quy định tính độc lập của tư pháp, song hệ thống tư pháp dễ chịu ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có các báo cáo đáng tin cậy rằng ảnh hưởng chính trị, vấn nạn tham nhũng, hối lộ và sự thiếu hiệu quả đã bóp méo hệ thống tư pháp rất nhiều. Chẳng hạn, vào tháng 5, một thẩm phán tòa án nhân dân thành phố Kon Tum bị bắt do bị nghi ngờ nhận hối lộ.

Hầu hết, nếu không phải là tất cả, các thẩm phán đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và đều do Đảng Cộng sản Việt Nam và các quan chức địa phương sàng lọc trong quá trình lựa chọn để quyết định sự phù hợp với vị trí thẩm phán. Thẩm phán được tái bổ nhiệm 5 năm một lần sau khi được các cán bộ đảng xem xét. Quyền lực của Đảng đặc biệt rõ ràng trong những vụ án nổi tiếng và những trường hợp mà trong đó nhà chức trách buộc tội bị cáo về hành vi tham nhũng, chống lại hoặc làm tổn hại đến Đảng và nhà nước. Các luật sư bào chữa thường phàn nàn rằng trong nhiều vụ án, có vẻ các thẩm phán đã xác định bị cáo có tội trước khi tiến hành xét xử.

Vẫn có các báo cáo đáng tin cậy cho rằng nhà chức trách đã gây sức ép để các luật sư bào chữa không nhận bào chữa cho các thân chủ là nhà hoạt động tôn giáo hay dân chủ và chất vấn luật sư về động cơ của họ khi bào chữa cho các thân chủ này. Nhà chức trách cũng hạn chế, sách nhiễu, bắt và khai trừ khỏi đoàn luật sư các luật sư bảo vệ nhân quyền đại diện cho các nhà hoạt động chính trị. Luật quy định buộc luật sư phải vi phạm đặc quyền bảo mật thông tin giữa luật sư và thân chủ trong các vụ án liên quan đến an ninh quốc gia hoặc các tội nghiêm trọng khác.

Thủ tục xét xử

Mặc dù Hiến pháp quy định quyền được xét xử công khai và công bằng, quyền này không được thực thi một cách thống nhất. Luật quy định rằng bị cáo vô tội cho đến khi chứng minh được người đó có tội. Bị cáo có quyền được cung cấp thông tin nhanh chóng và chi tiết về các cáo buộc chống lại họ, nhưng quyền này hiếm khi được tôn trọng. Quyền được xét xử kịp thời của bị cáo đã bị phớt lờ mà không có chế tài xử phạt, và mặc dù các phiên tòa thường công khai trước công chúng, nhưng trong các vụ án nhạy cảm, các thẩm phán đã xét xử kín hoặc hạn chế chặt chẽ người dự phiên tòa.

Nhà chức trách nhìn chung cho phép bị cáo thực hiện quyền có mặt tại phiên tòa. Đôi khi tòa án không cho bị cáo thực hiện quyền lựa chọn luật sư mà chỉ định luật sư cho họ. Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho phép bị cáo được xếp ngồi cạnh luật sư bào chữa của họ, mặc dù đây không phải là thực tiễn phổ biến. Bị cáo có quyền liên hệ với luật sư tại phiên tòa đối với trường hợp họ bị cáo buộc về tội mà có thể phải chịu hình phạt 15 năm tù hoặc nặng hơn, bao gồm cả các vụ án mà bị cáo bị buộc tội theo khung hình phạt cao nhất là tử hình, tuy nhiên bị cáo thường không thể thực hiện được quyền này.

Mặc dù luật sư bào chữa có quyền đối chất với các nhân chứng, nhưng đã có nhiều vụ án mà bị cáo cũng như luật sư của mình không biết nhân chứng buộc tội nào sẽ được triệu tập, hoặc không được phép đối chất với các nhân chứng đó hoặc phản bác các lời khai của nhân chứng. Trong các phiên tòa xét xử các tội phạm về chính trị, bị cáo cũng như luật sư của họ không được phép thẩm tra hoặc xem xét các chứng cứ của bên công tố. Bị cáo có quyền bào chữa, nhưng luật không quy định rõ ràng về việc bị cáo có quyền triệu tập nhân chứng. Các thẩm phán chủ tọa những phiên tòa nhạy cảm về chính trị thường không cho phép luật sư bào chữa và bị cáo thực hiện các quyền của họ theo quy định của luật.

Luật quy định rằng ngôn ngữ nói và viết trong tố tụng hình sự là tiếng Việt, nhưng nhà nước cung cấp người phiên dịch nếu những người tham gia tố tụng sử dụng một ngôn ngữ nói hoặc viết khác. Luật không quy định cụ thể dịch vụ phiên dịch đó có miễn phí hay không.

Mặc dù có một số yếu tố của tố tụng tranh tụng trong các thủ tục tố tụng tại tòa án, nhưng nhìn tổng thể, hệ thống vẫn mang tính chất của tố tụng thẩm vấn, trong đó thẩm phán đóng vai trò chủ yếu trong việc đặt câu hỏi và xác định các tình tiết của vụ án tại phiên tòa. Trong hầu hết các phiên tòa, luật sư bào chữa được tòa án cho thời gian để trình bày trước hội đồng xét xử và hỏi các thân chủ, nhưng họ không được phép triệu tập nhân chứng hoặc thẩm tra các chứng cứ của bên công tố. Trong các phiên tòa khác liên quan đến các cá nhân bị buộc tội xâm phạm an ninh quốc gia, thẩm phán đôi khi không cho luật sư bào chữa được lập luận thay mặt thân chủ của mình trước tòa. Người bị kết án có quyền kháng cáo ít nhất một lần.

Tại phiên tòa phúc thẩm hồi tháng 3 đối với 6 trong tổng số 29 người dân xã Đồng Tâm có liên quan trong một vụ tranh chấp đất đai bắt nguồn từ vụ đụng độ vào tháng 1 năm 2020 với công an, thẩm phán đã giữ nguyên toàn bộ cáo trạng và bản án sơ thẩm. Thẩm phán bác bỏ lập luận của luật sư bào chữa rằng tòa án sơ thẩm không cho họ đủ thời gian tiếp xúc thân chủ trước và tại phiên tòa sơ thẩm và ngăn cản họ tiếp cận chứng cứ của bên công tố, do đó đã cản trở các nỗ lực của họ trong việc bào chữa một cách hiệu quả.

Ngày 5 tháng 5, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình tuyên phạt Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư, một trong những người con trai của bà Thêu, mỗi người 8 năm tù và 3 năm quản chế về tội “tuyên truyền chống nhà nước”. Theo một trong các luật sư bào chữa cho các bị cáo Thêu và Tư, các thân chủ của ông không được tiếp cận hồ sơ vụ án để chuẩn bị tự bào chữa cho họ. Hội đồng xét xử cũng từ chối yêu cầu triệu tập nhân chứng của các bị cáo.

Tù nhân chính trị và người bị giam giữ vì lý do chính trị

Các tổ chức phi chính phủ ước tính rằng đến tháng 8, nhà chức trách đã giam giữ từ 130 đến 288 cá nhân vì lý do chính trị. Theo giới truyền thông, từ ngày 1 tháng 1 đến 9 tháng 11, nhà chức trách đã tạm giam 29 người và kết án 27 người vì họ thực hiện các quyền con người đã được quốc tế công nhận, chẳng hạn như quyền tự do biểu đạt, tự do hội họp hòa bình và tự do lập hội. Đa số những người bị bắt và bị kết án có liên hệ đến việc đăng blog trực tuyến, và các bị cáo bị kết án về tội “làm, tàng trữ, phát tán, truyền bá thông tin, tài liệu, đồ vật” nhằm chống lại nhà nước và “lạm dụng các quyền tự do dân chủ”.

Ngày 5 tháng 1, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên án phạt tù đối với ba thành viên Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam về tội tuyên truyền chống nhà nước. Phạm Chí Dũng, người sáng lập và chủ tịch Hội, bị tuyên phạt 15 năm tù về tội “làm, tàng trữ, phát tán, truyền bá thông tin, tài liệu, đồ vật nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đồng nghiệp của ông Dũng, Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn mỗi người bị tuyên phạt 11 năm tù về một tội mà tòa án mô tả là “tội phạm nguy hiểm đe dọa an ninh quốc gia và trật tự công cộng”.

Theo báo cáo của các tổ chức phi chính phủ, nhà chức trách thường cáo buộc các nhà hoạt động phạm các tội không liên quan đến hoạt động vận động của họ như một thủ đoạn để buộc họ phải im lặng. Chẳng hạn, vào tháng 6 và tháng 7, Cơ quan cảnh sát điều tra thuộc Công an thành phố Hà Nội đã bắt Đặng Đình Bách và Mai Phan Lợi về hành vi trốn thuế. Các nhà hoạt động cho rằng việc bắt ông Bách và ông Lợi có mối liên hệ với việc họ chỉ trích vai trò của chính quyền trong nhiều vụ việc về môi trường, đặc biệt là liên quan đến các dự án nhà máy nhiệt điện ở miền Trung Việt Nam, và liên hệ với hoạt động vận động cho tự do báo chí của ông Lợi.

Nhà chức trách ở trại giam thường giam tù nhân chính trị theo nhóm nhỏ tách biệt với cộng đồng phạm nhân nói chung và đối xử với họ theo cách khác biệt. Trong nhiều trường hợp, lịch sinh hoạt hàng ngày của phạm nhân chính trị khác biệt với lịch sinh hoạt của cộng đồng phạm nhân nói chung và họ không có cơ hội rời buồng giam để làm việc hoặc tương tác với cộng đồng phạm nhân nói chung. Một số phạm nhân chính trị được hưởng điều kiện vật chất tốt hơn nhưng bị sách nhiễu về tâm lý nhiều hơn. Trong các trường hợp khác, phạm nhân chính trị bị sách nhiễu bởi cả nhà chức trách ở trại giam và các bạn tù, và đôi khi, việc sách nhiễu của bạn tù là do cán bộ trại giam chỉ đạo. Các cán bộ trại giam thường biệt giam phạm nhân chính trị với thời hạn dài hơn so với thời hạn biệt giam 3 tháng đối với các phạm nhân khác.

Trong một số trường hợp, khẩu phần được cấp cho phạm nhân chính trị có vẻ bị hạn chế hơn so với các phạm nhân khác. Các cựu phạm nhân chính trị cho biết họ chỉ được nhận hai bát cơm nhỏ và rau mỗi ngày, thường bị trộn lẫn các chất lạ như côn trùng hoặc sạn. Một số phàn nàn rằng phạm nhân đang ăn kiêng vì lý do y tế không được cấp đủ lượng thức ăn phù hợp. Người nhà của nhiều nhà hoạt động đang bị giam giữ đã từng bị ốm hoặc đổ bệnh trong trại giam khẳng định rằng việc điều trị y tế ở trại là không đầy đủ khiến cho bệnh tình diễn biến phức tạp hơn và để lại hậu quả lâu dài.

Các phạm nhân chính trị và người nhà của họ cho biết các cán bộ quản trại đôi khi thu hồi, hạn chế, từ chối hoặc trì hoãn quyền được thăm viếng và không cho phép họ chu cấp thêm đồ cho người thân. Các nhà chức trách thường giam giữ phạm nhân chính trị ở các địa điểm xa gia đình của họ, gây khó khăn cho người nhà đến thăm và thường xuyên không thông báo cho người nhà về việc chuyển trại. Vào tháng 4, Nguyễn Tường Thụy bị chuyển đến Trại giam An Phước, tỉnh Bình Dương, một địa điểm cách xa gia đình ở Hà Nội nhưng có điều kiện tương đối tốt hơn so với trại giam trước đây trong cùng địa bàn tỉnh.

Tòa án tiếp tục tuyên án nghiêm khắc đối với các nhà hoạt động nổi bật nhất hoặc có liên hệ với các nhóm ở nước ngoài. Ngày 25 tháng 8, một tòa án ở tỉnh Phú Yên tuyên phạt Ngô Công Trứ 10 năm tù về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Theo cáo trạng chính thức, Trứ bị cáo buộc là thành viên của Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, một tổ chức hải ngoại mà Bộ Công an đã xác định là tổ chức khủng bố từ năm 2018. Nhà chức trách cáo buộc Trứ dùng tài khoản mạng xã hội của mình để chiêu mộ thành viên vào tổ chức đã bị cấm hoạt động nói trên và bôi nhọ các vị lãnh đạo của Việt Nam. Ngày 14 tháng 12, Phạm Đoan Trang, một nhà hoạt động và blogger, bị tuyên phạt 9 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước”.

Hành động trả thù có động cơ chính trị chống lại các cá nhân ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam Đe dọa, sách nhiễu, giám sát và cưỡng ép: Có các báo cáo về việc nhà chức trách sách nhiễu các cá nhân bị trục xuất và gia đình họ.

Vào tháng 2, Ủy ban bảo vệ nhà báo, một tổ chức phi chính phủ quốc tế, báo cáo rằng nhóm gián điệp mạng có tên OceanLotus hay APT32 tiếp tục xâm phạm quyền riêng tư của công dân thông qua việc gây ra các vụ tấn công bằng mã độc nhằm vào các nhà báo Việt Nam và các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền ở hải ngoại, các tổ chức truyền thông và các trang web Công giáo. Công ty an ninh mạng Volexity xác định nguồn gốc của các vụ tấn công này là từ Việt Nam nhưng không thể xác nhận mối liên hệ giữa APT32 và chính quyền.

Sức ép song phương: Các nhóm nhân quyền báo cáo rằng chính phủ đã gây áp lực lên Campuchia và Thái Lan để các nước này từ chối cấp quy chế tị nạn hoặc quy chế xin tị nạn tạm thời cho những người dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc, trong đó có những người H’mông theo đạo Thiên Chúa xin quy chế tị nạn với tư cách là nạn nhân của sự đàn áp, và gửi trả họ về Việt Nam. Chính phủ khẳng định những người này là người di cư bất hợp pháp đã rời Việt Nam để tìm kiếm các cơ hội kinh tế.

Thủ tục và các biện pháp khắc phục tư pháp dân sự

Hiến pháp quy định người nào bị bắt và giam giữ trái phép, bị khởi tố hình sự, bị điều tra, truy tố, đưa ra xét xử, hoặc bị thi hành án trái pháp luật có quyền được đòi bồi thường về vật chất và tinh thần và phục hồi danh dự. Luật quy định cơ chế khởi kiện dân sự nhằm giải quyết hoặc khắc phục hậu quả trong trường hợp nhà chức trách lạm quyền. Những vụ kiện dân sự được xét xử bởi tòa hành chính và tòa dân sự, trong đó áp dụng thủ tục xét xử giống như trong các vụ án hình sự và được xét xử bởi các thành viên của cùng một hội đồng thẩm phán và hội thẩm nhân dân để xác định có tội hay vô tội. Các tòa án xét xử vụ việc dân sự tiếp tục có biểu hiện tham nhũng, chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, thiếu tính độc lập và thiếu kinh nghiệm giống như các tòa án xét xử vụ án hình sự. Rất ít nạn nhân của việc chính quyền lạm dụng quyền hạn đã khởi kiện hoặc đã nhận được số tiền bồi thường hay khắc phục thông qua hệ thống tòa án.

Chính quyền tiếp tục ngăn cấm các vụ kiện tập thể đối với các bộ thuộc chính phủ, do đó đã khiến cho quyền khiếu kiện chung của công dân về đất đai trở nên kém hiệu quả.

Thu hồi đất và bồi thường tài sản

Theo luật, toàn bộ đất đai thuộc về chính quyền (“toàn thể nhân dân Việt Nam”). Luật trao quyền hạn lớn trong việc xác định giá đất, giao đất và thu hồi đất cho ủy ban nhân dân và hội đồng nhân dân địa phương, điều này đã góp phần dẫn đến những hành vi kinh doanh không công bằng và tham nhũng.

Tranh chấp về thu hồi đất cho các dự án phát triển vẫn là nguồn cơn chủ yếu gây bất bình trong dân chúng. Nhiều người dân có đất bị chính quyền cưỡng chế thu hồi đã phản đối tại các cơ quan chính quyền do đơn khiếu nại của họ không được giải quyết.

f. Can thiệp tùy tiện hoặc trái pháp luật vào quyền riêng tư, gia đình, nhà ở hay thư tín

Luật pháp nghiêm cấm các hành vi can thiệp tùy tiện hoặc trái luật vào quyền riêng tư, nhà ở hay thư tín, nhưng chính phủ không bảo hộ nhất quán và đôi khi vẫn vi phạm các quyền này.

Theo luật, lực lượng an ninh chỉ được phép xông vào nhà dân nếu có lệnh khám xét, song các cán bộ an ninh vẫn thường xông vào hoặc khám xét nhà dân, nhất là nhà của các nhà hoạt động mà không có lệnh theo quy định của luật. Họ thường hăm dọa người dân với lời đe dọa về các hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra nếu không cho họ vào nhà.

Mặc dù không có lệnh theo quy định của luật, các nhà chức trách thường xuyên mở và kiểm duyệt thư từ cá nhân, tịch thu đồ đạc và giấy tờ, theo dõi các cuộc nói chuyện điện thoại, e-mail, tin nhắn văn bản, blog và các giấy tờ gửi qua fax của nhiều đối tượng. Chính quyền cắt điện thoại và tạm ngưng cung cấp dịch vụ điện thoại di động và Internet của một số nhà hoạt động chính trị và người nhà của họ.

Có nhiều báo cáo về việc công an địa phương mặc dù không có lệnh khám xét nhưng đã xông vào nhà công dân được cho là không tuân thủ các lệnh hạn chế đi lại liên quan đến đại dịch và đưa họ đến các cơ sở cách ly. Chẳng hạn, ngày 28 tháng 9, công an và cán bộ chính quyền địa phương đã xông vào nhà Hoàng Thị Phương Lan ở phường Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương và lôi bà ra khỏi căn hộ để xét nghiệm COVID-19 mà không có lệnh. Nhà chức trách địa phương đã xin lỗi cho những hành động hung hăng của họ nhưng vẫn xử phạt bà Lan do vi phạm các quy định về phòng chống COVID-19.

Bộ Công an duy trì hệ thống đăng ký nhân khẩu và đội ngũ cảnh sát khu vực để giám sát các hoạt động trái pháp luật. Mặc dù hệ thống này ít can thiệp vào đời tư của người dân hơn so với trước đây, nhưng Bộ Công an vẫn tiếp tục theo dõi sát sao những người tham gia hoặc bị nghi ngờ tham gia các hoạt động chính trị trái phép.

Phần 2. Tôn trọng tự do của người dân

a. Tự do biểu đạt, trong đó có tự do báo chí và các phương tiện truyền thông khác

Hiến pháp và pháp luật quy định quyền tự do biểu đạt, bao gồm tự do báo chí và các phương tiện truyền thông khác; tuy nhiên, trên thực tế, chính quyền không tôn trọng các quyền này và một số luật can thiệp vào tự do biểu đạt. Chính quyền vẫn tiếp tục áp dụng các quy định chung chung về an ninh quốc gia và các quy định chống phỉ báng nhằm hạn chế tự do biểu đạt. Các luật này coi tội “phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”, “gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo” và “tuyên truyền chống Nhà nước” là những tội nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia. Pháp luật cũng quy định rõ là cấm “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân”.

Tự do biểu đạt: Chính quyền tiếp tục hạn chế những phát ngôn có nội dung chỉ trích các cá nhân lãnh đạo chính quyền, chỉ trích đảng, ủng hộ chủ nghĩa đa nguyên chính trị hoặc dân chủ đa đảng, hoặc chất vấn các chính sách về những vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, tự do tôn giáo, hay vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.

Theo mạng xã hội và báo cáo của các nhà hoạt động, đại diện các tổ chức của nhà nước và các nhóm ủng hộ chính quyền đã đến nơi ở của các nhà hoạt động và tìm cách tuyên truyền hoặc hăm dọa để buộc họ ủng hộ các chính sách của chính quyền. Người nhà của các nhà hoạt động cũng cho biết họ nhiều lần bị sách nhiễu về thân thể, hăm dọa và chất vấn bởi các cán bộ an ninh.

Ngày 23 tháng 4, một tòa án ở tỉnh Phú Yên tuyên phạt Trần Thị Tuyết Diệu 8 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước”. Theo cáo trạng, bà Diệu đăng tải 25 bài viết và 9 video trên Facebook và YouTube trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến tháng 4 năm 2020 “với nội dung chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Bà Diệu từng là phóng viên của Báo Phú Yên, tờ báo chính thống của tỉnh.

Ngày 2 tháng 9, công an thành phố Hồ Chí Minh và Sở Thông tin – Truyền thông xử phạt chủ tài khoản Facebook Nguyễn Thị Thùy Dương 5 triệu đồng (tương đương 220 USD) về hành vi “chia sẻ nội dung sai sự thật”, chỉ trích chính quyền trong việc ứng phó với dịch COVID-19. Theo báo cáo của giới truyền thông, Dương đăng tải một video ngày 22 tháng 7 và khẳng định rằng phường Bình Trung Đông không cung cấp đầy đủ thực phẩm cũng như sự hỗ trợ, chăm sóc cần thiết cho người dân trong thời gian cách ly xã hội.

Tự do biểu đạt cho giới báo chí và truyền thông, trong đó có truyền thông trực tuyến: Đảng Cộng sản Việt Nam, chính phủ và các tổ chức đoàn thể chịu sự lãnh đạo của Đảng kiểm soát tất cả các hoạt động in ấn, phát thanh truyền hình, truyền thông trực tuyến và điện tử, chủ yếu thông qua Bộ Thông tin và Truyền thông, dưới sự chỉ đạo chung của Ban Tuyên giáo Trung ương. Luật quy định tổng biên tập phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều báo còn áp dụng quy định này đối với những chức vụ quản lý khác của tòa soạn.

Tuy nhiên, nhiều tổ chức phi chính phủ sản xuất và phát hành các xuất bản phẩm dưới hình thức thuê xuất bản, liên kết xuất bản, hoặc mua giấy phép từ các tổ chức thuộc chính phủ hoặc các tổ chức xuất bản công lập. Báo chí nhà nước cho biết các tổ chức tư nhân sản xuất hơn 90% toàn bộ xuất bản phẩm ở Việt Nam, mặc dù việc sở hữu tư nhân hoặc vận hành bất kỳ cơ sở báo chí hoặc nhà xuất bản nào của tư nhân vẫn bị cấm. Báo chí độc lập với chính quyền hoạt động trực tuyến một cách hạn chế, chủ yếu thông qua blog và mạng xã hội, nhưng các nhà báo độc lập gặp phải sự sách nhiễu của chính quyền.

Nhà chức trách tiếp tục củng cố sự kiểm soát của chính quyền với các tổ chức truyền thông, bao gồm việc yêu cầu họ phải trực thuộc một cơ quan chính phủ. Ở thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy đảm nhận vai trò cơ quan chủ quản đối với hai tờ báo chính: Người Lao Động và Phụ Nữ, vốn trước đây thuộc sự quản lý của Liên đoàn lao động và Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố. Tương tự, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tiếp quản 4 ấn phẩm có mức độ phổ biến rộng rãi trên địa bàn thành phố là Báo Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Du lịch thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh và Tạp chí Kinh tế Sài Gòn (tiền thân là Thời báo Kinh tế Sài Gòn), vốn trước đây chịu sự quản lý của các sở. Tạp chí Doanh nhân Sài Gòn cũng được chuyển giao từ Hiệp hội doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh cho Ủy ban nhân dân thành phố.

Ngày 24 tháng 6, công an Hà Nội bắt Mai Phan Lợi và Bạch Hùng Dương, chủ tịch và giám đốc của Trung tâm Truyền thông giáo dục cộng đồng, một tổ chức phi chính phủ; Đặng Đình Bách, giám đốc tổ chức phi chính phủ Pháp luật và chính sách phát triển bền vững, về tội trốn thuế. Ông Lợi sản xuất và chia sẻ nhiều chương trình và báo cáo có tính chất phê bình về nhiều chủ đề, đặc biệt là môi trường, trên mạng xã hội.

Ngày 30 tháng 6, theo các nguồn tin từ báo chí, cảnh sát bắt Lê Văn Dũng (còn gọi là Dũng Vova), một nhà báo tự do điều hành trang Chấn Hưng Nước Việt, một trang Facebook và YouTube bàn về các chủ đề chính trị, xã hội và tham nhũng. Nhà chức trách ban hành lệnh bắt ông Dũng vào cuối tháng 5 do cáo buộc vi phạm các quy định của bộ luật hình sự cấm “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền” thông tin, tài liệu chống nhà nước.

Trong một phiên tòa xét xử kín ngày 9 tháng 7, một tòa án ở Hà Nội tuyên phạt nhà báo độc lập Phạm Chí Thành 6 năm 6 tháng tù về tội “làm, tàng trữ, phát tán, hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu chống nhà nước”. Ông Thành nổi tiếng về việc chỉ trích và chế nhạo nhiều quan chức cấp cao của đảng cộng sản và nhà nước trên trang Facebook cá nhân Bà Đầm Xòe và trên các mạng xã hội khác. Việc kết án ông Thành được cho là chủ yếu vì cuốn sách xuất bản cuối năm 2019 của ông chỉ trích Tổng bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng.

Ngày 28 tháng 10, một tòa án ở Cần Thơ tuyên phạt 5 thành viên nhóm chống tham nhũng Báo Sạch tổng cộng hơn 14 năm tù về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ”. Bản cáo trạng cáo buộc Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Phước Trung Bảo, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang và Lê Thế Thắng đã đăng tải 47 bài viết trên trang Facebook Báo Sạch với những “thông tin tiêu cực và mang tính định kiến chủ quan”. Theo luật, chính quyền có thể xử phạt các nhà báo và báo chí về hành vi không trích dẫn nguồn tin hoặc “sử dụng tài liệu, hồ sơ từ các tổ chức, thư tín hay tài liệu của các cá nhân”.

Trang thông tin trực tuyến Dân Trí bị xử phạt do đưa tin không chính xác rằng một sinh viên tử vong do COVID-19 trong khi sinh viên này vẫn đang được điều trị. Dân Trí không phải là báo duy nhất đăng tải thông tin này nhưng lại là báo duy nhất bị xử phạt bởi đây là báo đầu tiên đăng tin. Các nhà báo cho rằng việc xử phạt này là một động thái nhằm hạn chế các báo chí trong nước đăng tải thông tin chỉ trích việc chính quyền ứng phó với đại dịch hoặc thậm chí là những thông tin về đại dịch được cho là quá tiêu cực.

Luật cho phép chính quyền xử phạt các nhà xuất bản nếu họ xuất bản “thông tin sai sự thật” trong các lĩnh vực thống kê; năng lượng nguyên tử; quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn; giáo dục; hàng không dân dụng; đào tạo nghề; khí tượng thủy văn; bản đồ; y tế.

Luật chỉ cho phép các quan chức cấp cao, người nước ngoài, khách sạn hạng sang và báo chí được tiếp cận truyền hình vệ tinh, nhưng người dân trên khắp cả nước vẫn có thể tiếp cận các chương trình nước ngoài thông qua thiết bị vệ tinh gia đình hoặc truyền hình cáp.

Chính quyền cho phép các nhà báo thuộc các cơ quan truyền thông nước ngoài hoạt động với những hạn chế đáng kể. Các nhà báo nước ngoài phải được chính quyền chính thức cho phép khi đi ra khỏi Hà Nội để đưa tin. Luật còn quy định việc phát sóng “trực tiếp” các chương trình truyền hình nước ngoài phải được phát chậm 30 đến 60 phút để có thể giám sát về nội dung.

Người xem truyền hình cho biết nhiều bài bình luận, phim tài liệu, phim truyền hình về các sự kiện nhân quyền trong nước, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh lạnh, thời Xô Viết hoặc bài đưa tin về những căng thẳng thương mại đã bị phá sóng. Bộ Thông tin và Truyền thông có thể thu hồi giấy phép hoạt động của các nhà xuất bản nước ngoài, và các nhà xuất bản nước ngoài hàng năm phải làm thủ tục gia hạn giấy phép hoạt động.

Chính quyền cũng tìm cách ngăn chặn các chỉ trích bằng việc giám sát các cuộc gặp gỡ và hoạt động thông tin liên lạc của các nhà báo.

Bạo hành và sách nhiễu: Các nhà báo độc lập bị hạn chế tự do đi lại, chịu các hình thức sách nhiễu khác, và bị tấn công thân thể, nếu họ đưa tin về những chủ đề nhạy cảm.

Kiểm duyệt và hạn chế nội dung đăng tải: Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Ban Tuyên giáo Trung ương thường xuyên can thiệp trực tiếp vào báo chí truyền thông để áp đặt hoặc kiểm duyệt nội dung.

Các quan chức tuyên giáo buộc các tổng biên tập của các tờ báo lớn họp định kỳ để thảo luận về các chủ đề vượt ra ngoài giới hạn đưa tin. Đảng Cộng sản và chính phủ có thể kiểm soát được các nội dung truyền thông thông qua hình thức tự kiểm duyệt, kể cả đối với các nhà báo độc lập và blogger, với lời đe dọa sẽ sa thải và có thể bắt giữ các nhà báo. Chính quyền trừng phạt các nhà báo không thực hiện tự kiểm duyệt, trong đó có việc thu hồi thẻ nhà báo.

Các luật chống vu khống/phỉ báng: Phỉ báng là một tội phạm hình sự, và pháp luật chống vu khống/phỉ báng được thực thi.

Ngày 31 tháng 3, một tòa án ở tỉnh Lâm Đồng thuộc khu vực Tây Nguyên tuyên phạt Vũ Tiến Chi 10 năm tù. Tòa án cáo buộc Chi đã chia sẻ gần 340 bài viết “chống nhà nước” và tiến hành 181 phiên phát trực tiếp trên mạng xã hội nhằm “bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng, bao gồm cả Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Cùng ngày, một tòa án ở Khánh Hòa tuyên phạt Nguyễn Thị Cẩm Thúy 9 năm tù, Ngô Thị Hà Phương 7 năm tù, và Lê Việt Hòa 5 năm tù. Bị cáo Thúy từng là giáo viên đã bị sa thải do thể hiện quan điểm chính trị “chống nhà nước”, bị buộc tội đốt quốc kỳ và cắt vụn ảnh các lãnh đạo cấp cao, kể cả ảnh Hồ Chí Minh, trên trang Facebook cá nhân.

An ninh quốc gia: Luật pháp quy định phạt tiền ở mức đáng kể đối với các nhà báo, báo chí và truyền thông trực tuyến nếu đăng tải hoặc phát thông tin được cho là làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, hoặc nếu phát tán thông tin được cho là xuyên tạc lịch sử và thành quả cách mạng. Trong một số trường hợp, các “vi phạm” này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Không có vụ việc nào như vậy được báo cáo, mặc dù các tổng biên tập lưu ý rằng các tòa soạn và nhà báo phải cẩn thận với các luật về an ninh quốc gia, điều này góp phần vào việc thực hiện tự kiểm duyệt.

Cảnh sát đã bắt và khởi tố các nhà báo nhằm hạn chế việc chỉ trích các chính sách của chính quyền hoặc chỉ trích cán bộ, trên cơ sở viện dẫn pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

Tự do Internet

Luật cho phép chính quyền hạn chế và ngăn cản việc truy cập Internet, kiểm duyệt nội dung trực tuyến, áp đặt chế tài hình sự đối với các biểu đạt trực tuyến, và thường xuyên giám sát các hoạt động thông tin liên lạc trực tuyến của tư nhân. Chỉ có một số lượng hạn chế các nhà cung cấp dịch vụ Internet được cấp phép, tất cả đều thuộc quyền sở hữu nhà nước hoặc là công ty với quyền kiểm soát đáng kể của nhà nước. Chính quyền theo dõi Facebook và các mạng xã hội khác và trừng phạt những người sử dụng Internet để tổ chức các cuộc biểu tình hoặc công bố các nội dung chỉ trích chính quyền.

Vào tháng 5, Cục Phát thanh truyền hình và thông tin điện tử xử phạt mạng xã hội VNbrands.vn 105 triệu đồng (tương đương 4.600 USD) và tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động trong 8 tháng về hành vi mà nhà chức trách khẳng định là không công khai đầy đủ thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội trên trang chủ. Các nguồn tin từ truyền thông nhà nước cho biết đây là động thái nhằm siết chặt hơn nữa sự kiểm soát của chính quyền đối với việc chia sẻ thông tin trực tuyến.

Ngày 20 tháng 6, một tòa án ở Nghệ An tuyên phạt Nguyễn Văn Lâm 9 năm tù về tội “làm, tàng trữ, phát tán, hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Theo cáo trạng, từ năm 2017 đến tháng 11 năm 2020, ông Lâm sử dụng tài khoản Facebook cá nhân để đăng tải các bài viết, hình ảnh và video “kích động nhân dân chống nhà nước, chống đảng và nói xấu chế độ”.

Ngày 30 tháng 6, công an tỉnh Quảng Ngãi bắt các đối tượng sử dụng Facebook là Bạch Văn Hiền, Phùng Thanh Tuyến và Lê Trung Thu về việc đăng tải nội dung được cho là xâm phạm lợi ích của nhà nước và đe dọa chính quyền cộng sản. Ba người này bị cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Ngày 6 tháng 7, công an Hà Nội bắt Đỗ Nam Trung do những bài viết trên mạng phản đối chính quyền của ông này. Ông Trung tham gia vào nhiều phong trào hoạt động và lên tiếng chống lại tình trạng quan chức tham nhũng trong các bài viết của mình trên mạng xã hội. Ông Trung còn đăng các bài chỉ trích hệ thống đường cao tốc được đầu tư theo hình thức xây dựng-kinh doanh-chuyển giao mà Việt Nam đang sử dụng, kích động các cuộc biểu tình chống lại việc thu phí đường cao tốc mà nhiều người cho là không công bằng.

Chính quyền đôi khi chặn một số trang web được coi là không phù hợp về chính trị hoặc văn hóa, trong đó có các trang web được điều hành bởi các nhóm chính trị người Việt Nam ở hải ngoại, ngoài các trang web của Đài phát thanh Châu Á Tự do, Đài tiếng nói Hoa Kỳ và trang tin tức BBC tiếng Việt. Các nhà cung cấp dịch vụ Internet thuộc sở hữu nhà nước thường xuyên khóa các trang tiếng Việt tại Việt Nam chứa các nội dung chỉ trích Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc thúc đẩy cải cách chính trị.

Một quy định hành chính buộc chủ sở hữu tất cả các trang web và mạng xã hội phải hợp tác với Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc ngăn chặn việc phát tán “tin xấu, tin độc”.

Một quy định khác yêu cầu tất cả các công ty và các tổ chức vận hành các trang web cung cấp thông tin về “chính trị, kinh tế, văn hóa, và xã hội” và các mạng xã hội, bao gồm cả blog, phải đăng ký với chính quyền. Chính quyền cũng yêu cầu các chủ sở hữu phải đệ trình các kế hoạch chi tiết về nội dung và phạm vi đưa tin để chính phủ phê duyệt. Các công ty và tổ chức nói trên phải đặt ít nhất một máy chủ tại Việt Nam để tạo thuận lợi cho chính quyền yêu cầu cung cấp thông tin và phải lưu trữ thông tin đã đăng trong 90 ngày và lưu trữ một số siêu dữ liệu đến hai năm.

Chính phủ cấm truy cập trực tiếp Internet thông qua nhà cung cấp dịch vụ Internet nước ngoài, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet phải cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và chỗ làm việc cho các nhân viên an ninh giám sát các hoạt động trên Internet. Bộ Công an yêu cầu “các đại lý Internet”, bao gồm cả các quán cà phê Internet, phải đăng ký thông tin cá nhân của khách hàng, lưu trữ các trang web mà khách hàng đã truy cập, và tham gia các cuộc điều tra của chính quyền về hoạt động trên mạng. Các quán cà phê Internet tiếp tục sử dụng phần mềm do chính phủ phê duyệt để theo dõi các hoạt động trực tuyến của khách hàng. Bộ Công an triển khai thực hiện những việc này và các yêu cầu khác và tiến hành theo dõi internet có chọn lọc.

Chính phủ tiếp tục gây sức ép lên các công ty như Facebook và Google để buộc họ xóa các “tài khoản ảo” và các nội dung được cho là “độc hại”, bao gồm các nội dung chống nhà nước. Theo báo cáo, nhà chức trách đã tấn công các máy chủ ở Việt Nam của Facebook vào đầu năm, làm giảm đáng kể lưu lượng, cho đến khi công ty này đồng ý tăng cường đáng kể việc tuân thủ với các yêu cầu kiểm duyệt của chính quyền. Bộ Thông tin và Truyền thông gây sức ép buộc các nền tảng mạng xã hội phải tuân thủ các yêu cầu gỡ xuống các phát ngôn chính trị, nhất là những bài đăng chỉ trích các cán bộ cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà chức trách cũng trấn áp các phát biểu mang tính chính trị trên mạng bằng hành động trực tiếp chống lại các blogger như bắt, giam giữ ngắn hạn, theo dõi, hăm dọa, tịch thu bất hợp pháp máy tính và điện thoại di động của các nhà hoạt động và người nhà của họ. Chính quyền tiếp tục áp dụng các quy định về an ninh quốc gia và các quy định mập mờ khác của bộ luật hình sự đối với các nhà hoạt động thể hiện quan điểm chính trị ôn hòa trên mạng. Những người bất đồng chính kiến và các blogger cho biết Bộ Công an thường xuyên ra lệnh ngắt kết nối dịch vụ Internet tại nhà của họ.

Ngày 30 tháng 6, nhà chức trách tỉnh Bắc Ninh đã ngắt kết nối Internet và ngắt điện trong toàn bộ thôn Đa Hội nơi một đám đông tụ tập tại nhà của quân nhân Trần Đức Đô, người này bị chết một cách bí hiểm khi đang trong thời gian huấn luyện.

Người sử dụng mạng xã hội và blog phải cung cấp họ tên đầy đủ, số chứng minh thư và địa chỉ trước khi tạo tài khoản. Các trang web trong nước và các tổ chức vận hành mạng xã hội phải cho phép nhà chức trách thanh tra máy chủ trong nước khi có yêu cầu và phải có cơ chế xóa nội dung bị cấm trong vòng 3 giờ kể từ khi nhà chức trách phát hiện hoặc thông báo.

Tự do học thuật và các sự kiện văn hóa

Chính quyền hạn chế tự do học thuật và các sự kiện văn hóa. Các chuyên gia nước ngoài làm việc tạm thời tại các trường đại học trong nước được phép thảo luận về các chủ đề phi chính trị một cách rộng rãi và tự do trên lớp học, nhưng các nhà quan sát của chính phủ thường xuyên tham dự những lớp học được các nhà khoa học nước ngoài và trong nước giảng dạy. Chính phủ tiếp tục yêu cầu các tổ chức quốc tế và trong nước phải có sự phê duyệt của chính phủ trước khi tổ chức các hội nghị có sự tài trợ hoặc tham gia của nước ngoài. Chính quyền cho phép các trường đại học có nhiều quyền tự chủ hơn trong các hoạt động trao đổi quốc tế và các chương trình hợp tác quốc tế, tuy nhiên yêu cầu về thị thực đối với các học giả và các sinh viên trao đổi vẫn còn phiền phức.

Chính quyền tiếp tục cấm mọi chỉ trích công khai Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của nhà nước, bao gồm các chỉ trích của các tổ chức khoa học và kỹ thuật độc lập, kể cả khi các chỉ trích đó hoàn toàn mang tính học thuật.

Chính quyền gây ảnh hưởng đến các cuộc triển lãm nghệ thuật, âm nhạc và các hoạt động văn hóa khác bằng việc yêu cầu thực hiện nhiều thủ tục xin phép.

Ngày 9 tháng 8, Đại học Duy Tân ở Đà Nẵng sa thải một giảng viên do chỉ trích công tác phòng chống dịch COVID-19 của chính quyền khi thảo luận với sinh viên trong giờ học tiếng Anh.

b. Tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình

Chính quyền hạn chế tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình.

Tự do hội họp hòa bình

Chính quyền hạn chế tự do hội họp hòa bình mặc dù quyền này được hiến pháp ghi nhận. Luật và các văn bản dưới luật yêu cầu những người muốn tụ tập theo nhóm phải xin phép, chính quyền địa phương có thể đồng ý hoặc từ chối cấp phép mà không nêu lý do. Chỉ những người tổ chức tụ họp công khai để bàn về các vấn đề nhạy cảm thì mới phải xin giấy phép. Chính quyền nói chung không cho phép tiến hành bất kỳ cuộc biểu tình nào có thể được cho là mang tính chất chính trị. Luật pháp cho phép các lực lượng an ninh bắt giam các cá nhân tụ tập hoặc phản đối bên ngoài trụ sở tòa án trong khi diễn ra các phiên tòa. Mọi người vẫn thường xuyên tụ tập theo các nhóm không chính thức mà không bị chính quyền can thiệp, miễn là việc tụ tập đó không được cho là có tính chất chính trị hoặc đe dọa đến nhà nước.

Công an và cán bộ mặc thường phục thường xuyên ngược đãi, sách nhiễu và hành hung các nhà hoạt động và những người biểu tình phản đối chính quyền.

Tự do lập hội

Hiến pháp cho phép cá nhân có quyền lập hội, song chính quyền tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do lập hội trong những lĩnh vực mà chính quyền cho là “nhạy cảm” như chính trị, tôn giáo và lao động. Khung khổ pháp lý và quy định của Việt Nam thiết lập các cơ chế nhằm hạn chế tự do của các tổ chức phi chính phủ, trong đó có các tổ chức tôn giáo, về tổ chức và hoạt động. Chính phủ nói chung cấm thành lập các tổ chức tư nhân, độc lập, yêu cầu mọi người hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức quần chúng do đảng thành lập hoặc kiểm soát, thường là dưới sự bảo trợ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Luật pháp và các quy định điều chỉnh các tổ chức phi chính phủ hạn chế khả năng của các tổ chức này trong việc tham gia vận động chính sách hoặc tiến hành các nghiên cứu ngoài các chủ đề được nhà nước phê duyệt, và luật cấm các tổ chức khoa học xã hội và công nghệ hoạt động trong các lĩnh vực như chính sách kinh tế, chính sách công, các vấn đề chính trị và một loạt các lĩnh vực khác được coi là nhạy cảm. Chính quyền cũng không cho phép các tổ chức phi chính phủ thể hiện công khai các lập trường vận động chính sách.

Luật yêu cầu các nhóm tôn giáo phải đăng ký với cơ quan chức năng và phải được nhà chức trách chấp thuận hoạt động của họ. Một số nhóm tôn giáo chưa đăng ký như Liên hữu Tin lành Báp tít Việt Nam, các nhóm Ngũ tuần độc lập, các nhóm Cao Đài độc lập, Hòa Hảo thuần túy, Hội thánh Tin lành đấng Christ có báo cáo về sự can thiệp của chính quyền.

Theo một số tổ chức tôn giáo đã được công nhận và các tổ chức khác đang làm thủ tục đăng ký, có sự thực thi luật không đồng đều giữa các tỉnh. Một số tổ chức đã đăng ký, trong đó có các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực quản trị, nữ quyền và môi trường, cho biết các hoạt động của họ bị giám sát nhiều hơn.