Cicero

Chapter 3

Chapter 34,944 wordsPublic domain

Đăng Dung cậy có công danh, Thuyền rồng, tán phượng lộng hành sợ chi. Chiêu Tông gặp lúc hiềm nghi, Nửa đêm lén bước chạy về Tây phương. Đăng Dung lập lại Cung hoàng, Hành cung tạm trú Hải dương cõi ngoài. Xe loan về đến kinh đài, Sẵn sàng thiền chiếu ép bài sách phong. Họa tâm từ ấy càng nồng Lương châu Tây nội cam lòng cho đang.

XV. Nhà Mạc (1527 1592)

1. Ngoại giao và nội chính của Mạc Đăng Dung

Mạc rầy rõ mặt tiếm cường, Thăng Long truyền nước, Nghi dương dựng nhà. Dỗ người lấy vẻ vinh hoa, Nhưng lòng trung nghĩa ai mà sá theo. Cầu phong sai sứ Bắc triều, Dâng vàng, nộp đất nhiều điều dối Minh. Lê thần có kẻ trung trinh, Trịnh Ngung sang đến Bắc đình tỏ kêu. Minh tham lễ hậu của nhiều, Phụ tình trung nghĩa, quên điều thị phi. Đăng Dung thỏa chước gian khi, Tuổi cao rồi lại truyền về Đăng Doanh. Mã giang đầu xướng nghĩa thanh, Gần xa đâu chẳng nức tình cần vương. Được thua mấy trận chiến trường. Nghìn thu tiết nghĩa đá vàng lưu danh.

2. Nguyễn Kim khởi nghĩa phù Lê

Cành Lê có độ tái vinh, Xui nên tá mệnh trời sinh thánh hiền. Đức vua Triệu tổ ta lên, Cất quân phù nghĩa giúp nền trung hưng, Sầm châu ỷ thế nguồn rừng, Mười năm khai thác mấy từng nước non, Dù khi đỉnh tộ suy mòn, Cương trù chưa nát vẫn còn tôn Lê. Trang tông lưu lạc tìm về, Chia binh Thúy đả, mở cờ Ai lao. Lôi dương một trận binh giao, Phá tan nghịch đảng tiến vào Nghệ an Cỏ hoa mừng rước xe loan, Thổ hào ứng nghĩa dân gian nức lòng, Tây đô quét sạch bụi hồng, Dặm tràng thẳng trỏ ngọn đòng tràng khu Hẹn ngày vào tới Đông đô, Một hai thu phục cơ đồ thủa xưa. Độc sao hàng tướng tiến dưa! Trước dinh Ngũ trượng bỗng mờ tướng tinh.

3. Trịnh Kiểm tiến quân ra Bắc

Tiếc thay công nghiệp thùy thành, Để cho Trịnh Kiểm thay mình thống quân Sáu năm vừa hội hanh truân, Đỉnh hồ đâu đã đến tuần mây che. Trung tông nhờ cậy dư uy, Mạc thần mấy kẻ cũng về hiệu trung. Biện dinh quân mạnh, tướng hùng, Bốn phương hào kiệt nức lòng y quang. Đông kinh trỏ ngọn việt vàng, Phúc Nguyên Mạc chúa chạy sang Kim thành. Thần phù thuyền giã lênh đênh, Lại còn Kính Điển đeo tình quấy trêu. Quan binh theo ngọn thủy triều, Duyên giang một trận, nước bèo chảy tan. Anh Tông nối nghiệp gian nan, Tây đô một giải giang san cõi nhà. Mạc vào xâm nhiễu Thanh hoa, Thái sư Trịnh Kiểm lại ra tiễu bình.

4. Nguyễn Hoàng vào Hóa Châu

Hóa Châu có đất biên thành, Bốn bề sơn hải trời dành kim thang. Trịnh Công tâu với Lê Hoàng, Chọn người ra giữ một phương thành dài. Bản triều Thái Tổ hùng tài, Gióng cờ ra trấn cõi ngoài từ đây. Việt mao khi đã đến tay, Hoành sơn một giải mới gây cơ đồ.

5. Trịnh Mạc phân tranh

Mặt trong đành đã khỏi lo, Trịnh công chuyên ý trì khu cõi ngoài. Quận Gia, quận Định mấy người, Hưng, Tuyên binh hợp các nơi thêm dầy. Mạc dần suy yếu từ nay, Vận Lê xem đã đến ngày trùng hanh. Đem quân về giữ Tây kinh, Bể Thanh lại lặng tăm kình như không. Nhân khi Mậu Hợp ấu trùng, Mở đường Phố cát, qua sông Bồ đề. Mạc vào, quân lại rút về, Mạc lui, quân lại bốn bề kéo ra. Tuyết sương trăm trận xông pha, Trịnh Công vì nước cũng đà cần lao.

6. Trịnh Tùng chấp chính

Tuổi già vừa giải tiết mao, Con là Trịnh Cối lại vào đổng nhung. Kiêu hoang quen thói con dòng, Binh quyền lại để Trịnh Tùng thay anh, Cối, Tùng một gốc đôi cành, Vinh khô đã khác, ân tình cũng khuê, Anh em mâu thuẫn hai bề, Thừa cơ Mạc lại kéo về nội xâm. Mạc lui, Tùng mới manh tâm, Ngoài trương thanh thế, trong cầm quyền cương. Lại mưu tàn hại trung lương, Vàng đưa ngoài cửa, búa trương dưới màn. Tạ tình phụ tấm niềm đan, Đem Lê Cập Đệ giết oan nỡ nào! Bằng không nổi trận ba đào, Để cho xa giá chạy vào Nghệ an. Giá điền vừa mới hồi loan, Lôi dương đã nổi tiếng oan giữa vời. Thế tông con thứ nối đời, Trịnh Tùng phù lập cùng loài giả danh.

7. Trịnh Tùng diệt Mạc

Cõi ngoài giặc Mạc tung hoành, Bắc hà cát cứ mấy thành nhân dân. Giáng uy nhờ có lôi thần, Nhân khi Mậu hợp đến tuần thiên tru Mạc thần mấy kẻ vũ phu, Sao mai lác đác, lá thu rụng rời. Xuất binh vừa gặp cơ trời, Đường ghềnh len lỏi ra ngoài Thiên quan. Tràng khu một lối duyên san, Huyện châu gió lướt, Tràng an lửa nồng. Bỏ thành, Mạc chạy qua sông, Đuổi sang Phượng nhỡn đường cùng mới thôi, Kể từ Ngụy Mạc tiếm ngôi, Năm đời truyền kế sáu mươi năm chầy. Trần ai quét sạch từ rày, Về kinh ban yến, tiệc bầy thưởng công.

XVI. Nhà Lê Trung hưng (Vua Lê - Chúa Trịnh (1593 - 1729)

1. Giao thiệp buổi đầu với Trung Hoa

Mới sai sứ giả cầu phong, Nghe gièm, Minh hãy còn lòng tin nghi. Sai quan hội khám một kỳ, Phong làm Đô thống, cơ mi gọi là! Phùng Khoan sứ tiết cũng già, Biểu từ biện chiết thật đà thiết minh. Mấy lời ôn dụ đinh ninh, Phong vương còn đợi biểu tinh có ngày.

2. Trịnh Tùng xưng chúa

Hổ lui, lang tới khéo thay! Mạc kia vừa dẹp, Trịnh nầy lại lên. Tùng xem căn cứ đã bền, Công danh càng thịnh, uy quyền càng cao. Rỡ ràng ngọc sách, tinh bao, Gia phong Nguyên súy, dự vào sủng chương Bình an lại tiến tước vương, Gầy nên tiếm thiết, mở đường khải du. Kính Tông còn độ ấu cô, Đống lương ai kẻ xanh phù vạc Lê? Triều thần những lũ Bùi Khuê, Lại tìm Mạc nghiệt theo về Kính Cung. Nghi dương tro tắt lại nồng, Thị thành nổi áng bụi hồng bởi ai? Nhân khi giá ngự ra ngoài, Thừa hư Mạc lại vào nơi đô thành. Quan quân ra đánh lại bình, Thặng dư mới phát tự Thanh ngự về. Chông gai tuy sạch mọi bề, Mà trong quyền cả chuyên về một tay. Bốn phương tai biến đã đầy, Đầm khô, núi lở, cát bay mù trời Chẳng qua trăm sự tại người, Gẫm cơ hưu cữu biết đời thịnh suy. Súng đâu phục trước đường đi, Để cho Trịnh chúa lại nghi Lê Hoàng. Sinh con gặp đứa vô lương, Châu liên sao nỡ quên đường quân thân?

3. Trịnh Tráng tăng quyền phủ chúa

Thừa gia theo lối cường thần, Vua Lê, chúa Trịnh nhân tuần đã quen, Thần tông vừa mới cải nguyên, Sách phong Trịnh Tráng đã ban từ giờ. Thành đô quyền trọng hơn xưa, Nhà Lê cũng một giải thừa mà thôi! Nước nhà đang buổi yên vui, Xin vua xuống chiếu truyền ngôi nhẽ gì? Chẳng qua là dạ gian khi, Làm cho rõ mặt phúc uy tự nhà. Chân Tông tuổi mới mười ba, Hững hờ quyền chúa, ngôi cha mặc lòng. Quốc vương Minh mới cải phong, Bảy năm lịch số vừa chung một đời Xoay quanh mới tỏ đạo trời, Báu thiêng đem lại cho người truyền gia Thần Tông thay giữ nghiệp nhà, Thượng hoàng lại đổi mặt ra tân hoàng. Thờ ơ cờ đạo nhà vàng, Chính quyền phó mặc Trịnh vương, biết gì. Nhà Minh thuở ấy đã suy, Mượn binh lại sắp nhờ uy cường thần. Sắc phong chiếu dụ ân cần, Phó vương Trịnh lại thêm phần tôn vinh. Cả giầu sang, lớn quyền hành, Giang sơn chung một triều đình chia đôi.

4. Trịnh Tạc đánh Nguyễn và Mạc

Tiếm phong, Trịnh Tạc nối ngôi, Tước vương mình lại tài bồi cho con. Càn cương ngày một suy mòn, Cuộc đời chìm nổi, ai còn hiệu trung, Bản triều mở dấu Kỳ phong, Thánh thần truyền dõi một lòng tôn Lê. Quyền gian giận Trịnh nhiều bề, Sắc sai Chiêu, Thuận khắc kỳ tiến chinh. Sáu năm rồi mới bãi binh, Lũy dài còn dấu uy linh để truyền. Vận Lê còn buổi truân chuyên, Huyền tông thơ ấu để quyền Tây vương. Đẳng uy đã biến lễ thường, Vào chầu không lạy, miếu đường có ai? Thiên nhan lại muốn sánh vai, Giường ngồi đem đặt bên nơi ngự tiền. Dọc ngang dưới phủ trên đền, Mống tình cải bộ gây nền tranh vương. Vũ công lại muốn phấn dương, Đem quân đánh Mạc lại sang Cao bình. Mạc vào cầu viện Yên kinh, Phong làm Đô thống tung hoành cõi xa. Bốn châu riêng một sơn hà, Danh tuy phụ Hán, thực là thê Ngô. Gia tông vừa nối cơ đồ, Xe loan đã giục trì khu ra ngoài. Phòng biên đã có tướng tài, Quân ta một trận, lũy dài phá tan, Mã đầu đã trở quy an, Hà trung Trịnh lại đặt quan lưu đồn.

5. Trịnh Căn và nhà Thanh

Về nhà lập lại Trịnh Côn (Căn) Nam vương theo lối quyền môn một dòng. Đêm ngày bí các thong dong, Văn thần thay đổi vào trong chực hầu, Quốc Trinh tham tụng ở đầu, Bởi sao nên nỗi gây thù ưu binh? Hy tông hoàng đệ thay anh, Ngôi không luống giữ, quyền hành mặc ai! Bấy lâu chiếm giữ cõi ngoài, Hãy còn Mạc nghiệt mấy đời đến nay. Di thư sang với Quảng tây, Một lần hội tiễu từ này chạy xa. Quân Thanh xâm chiếm đất ta, Vị xuyên, Bảo lạc, Nà oa, Lộc bình. Thổ quan lại có tư tình, Tham vàng đem giới kệ đình chuyển di.

6. Triều thần nhà Lê

Bên ngoài xâm tước nhiều bề, Ở trong chính sự chỉnh tề được bao? Lễ gì hơn lễ bang giao, Mà cho quan thị đứng vào đầu ban. Thế mà những kẻ cư quan, Cũng đành ngoảnh mặt cho toàn tôn vinh. Tại triều mấy kẻ trâm anh, Nguyễn Đang, Đồng Trạch công thanh một đường. Thế Vinh tài học ưu trường, Nguyễn Hành, Hà Mục văn chương cũng già. Bởi ai thiên hạ âu ca, Chẳng quan tham tụng Vãn hà là chi? Bởi ai thiên hạ sầu bi, Chẳng quan tham tụng Lê Hy hãnh thần? Tính đi nghĩ lại xa gần, Nhiều phần vì Trịnh, ít phần vì Lê. Mồi giầu sang đã say mê, Lấy ai chỉ trụ làm bia trong đời!

7. Những việc cải cách về thời Trịnh Cương

Dụ tông nối giữ ngôi trời, Trịnh Cương chuyên chế theo loài cố gia Lục phiên lại đặt tư nha, Bao nhiêu tài phú đều là về tay. Các quan trấn thủ mới thay, Hưng Tuyên thống hạt từ rầy chia hai. Vũ thần mỗi trấn một người, Để cho vững thế mặt ngoài phiên ly. Lấy năm điều khảo trấn ti, Cứ trong điển tối mà suy hay hèn. Thẩm hình đặt viện phủ tiền, Sai quan tra kiện thay quyền pháp ti. Vũ khoa mới đặt phép thi, Hỏi đường thao lược, thử nghề dao cung. Ba trường phúc thí đã xong, Đề danh tạo sĩ bảng rồng cũng vinh. Kén thêm tứ trấn binh đinh, Vệ quân mới đặt sáu dinh từ rầy. Công tư điền thổ xưa nay, Sai quân khám đạc san tay dân cùng Tuần hành có sứ khuyến nông. Giữ gìn đê lộ, xét trong dân tình. Đem thư biện với nhà Thanh, Mỏ đồng, mỏ kẽm lại giành về ta. Lập bia trên Đổ chú hà, Giới cương tự đó mới là phân minh. Qui mô cũng muốn sức bình, Mà lòng lăng tiếm tự mình ra chi? Lập phủ đường ở Cổ bi, Toan đem kinh quốc dời về cố hương Đông cung đã lập Duy Tường, Bỗng không lại đổi Duy Phường cớ sao?

XVII. Nhà Lê suy vi (Trịnh - Nguyễn phân tranh (1729 - 1782)

1. Chính sách đồi bại của Trịnh Giang

Trịnh Giang quen lối gian hào. Truất ngôi Vĩnh Khánh hãm vào tội nhân. Thuần Tông đặt bỏ mấy lần, Phúc uy mặc sức cường thần mới ghê. Ý tông còn tuổi hài đề Danh tuy chính thống, quyền về phó vương. Trịnh càng dâm ngược kiêu hoang, Đêm ngày luống những tham đường vui chơi. Dấu xe giong ruổi quanh trời, Sửa sang cảnh Phật, vẽ vời động tiên. Quỳnh lâm, Hương hải, Hồ thiên, Của thiên hạ chất cửa thiền biết bao? Kho tàng ngày một tiêu hao, Bán khoa, mua tước tiền vào sáu cung Phó vương còn chửa cam lòng, Thượng vương lại giả sắc rồng nhà Thanh. Tội trời kể đã quánh doanh, Sao cho nghiệp báo đến mình mới thôi. Bỗng đâu một tiếng thiên lôi, Thất kinh ngơ ngác như người chứng điên. Ở hang lại gọi cung tiên, Để đoàn nội thụ chuyên quyền lộng uy.

2. Sự loạn lạc ở Bắc hà

Lòng người đâu chẳng loạn ly, Ếch kêu, ác họp thiếu gì gần xa! Sơn nam có giặc Ngân già, Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển ấy là giặc Đông. Sơn Tây: nghịch Tế, nghịch Bồng ; Động ngoài ba mặt, nhộn trong bốn bề. Nằm hang Trịnh có biết gì! Quận Bào, quận Thực đua bì tranh công.

3. Trịnh Doanh và Lê Hiển tông

Phó vương quen lối nhà dòng, Chẳng phò Trịnh thị sao xong việc đời? Nguyễn công Quí Cảnh mấy người, Vào trong định sách ra ngoài diệu binh. Cùng nhau phù lập Trịnh Doanh, Thái vương Trịnh lại tôn anh làm vì. Sai quan kinh lược bốn bề, Khải ca mấy khúc đều về tấu công. Cơ mưu Trịnh cũng gian hùng, Nghĩ mình chuyên tiếm ắt lòng ai ưa. Có Lê mới có đến giờ, Phải cầu hiền đức để nhờ phúc chung. Kìa người mắt phượng râu rồng, Duy Diêu vốn cũng là dòng thần minh. Hạ đài khuất bóng tiền tinh, Khuôn thiêng còn để một cành phúc chi. Hay đâu cầu ứng cũng kỳ, Bỗng xui Trịnh chúa tạm di ra ngoài. Vũ công một giấc hiên mai, Mơ màng dường thấy phong tài đế vương. Tinh kỳ nhã nhạc lạ nhường, Thái bình nghi vệ rõ ràng chẳng ngoa. Sáng mai vừa mới tỉnh ra, Duy Diêu xảy đến chơi nhà lạ sao? Thấy người mà nghiệm chiêm bao, Mới hay trẫm triệu ứng vào tự nhiên. Nghe lời Trịnh mới phù lên, Hiển tông từ ấy chịu truyền nối ngôi.

4. Trịnh Doanh và Trịnh Sâm dẹp loạn

Vận Lê đến lúc suy đồi, Chắp tay rủ áo lặng ngồi mặc ai. Gặp khi nhiều việc chông gai, Loạn trong Ba phủ, giặc ngoài bốn phương Văn thần có kẻ phấn dương, Phạm công Đình Trọng gồm đường lược thao. Phao sơn trỏ ngọn cờ đào, Nguyễn Cừ đã phá, Nguyễn Cầu cũng tan. Nguyễn Phương cứ Độc tôn sơn, Tuyên, Hưng là đất, lâm man là nhà. Trịnh vương quyết chí xông pha, Huyệt sào quét sạch, binh xa mới về. Quyền gian kế tập quen lề, Trịnh Sâm lại cũng sính nghề vũ công. Mạnh thiên hang thẳm núi cùng, Hãy còn Hoàng Chất lâm tùng ẩn thân. Sai Đoàn Nguyễn Thục đem quân, Cùng rừng săn thú một lần mới thanh. Lại toan dẹp cõi Trấn ninh, Chỉn e địa thế, dân tình chưa quen. Địa đồ ai khéo vẽ nên, Thu ngoài man cảnh về bên khuyết đình. Gần xa đã tỏ tình hình, Mới sai chư tướng đề binh đánh liền, Chiềng quang thành lũy vững bền. Bồ chông núi cả cũng nên hiểm trời. Biến đâu trửu dịch lạ đời! Nửa đêm mở lũy cho người tiến sang. Bởi mưu Ngũ Phúc chiêu hàng Nguyễn Thiều trong lại đem đàng nội công. Vậy nên Duy Mật thế cùng, Hỏa viêm một phút cô dung cũng liều.

5. Trịnh Sâm đánh chúa Nguyễn

Cậy công Trịnh mới thêm kiêu, Càng đầy đức sắc, càng nhiều ác cai, Vu oan nỡ đặt nên lời, Để cho thái tử thiệt tài thông minh. Phúc uy chuyên tiếm một mình. Mạo giầy điên đảo, nghĩa danh còn gì? Thế mà vạc cả duy trì, Bởi tiên liệt thánh Nam Kỳ nối ngôi. Nền danh phận, đạo vua tôi, Gian hùng mất vía đứng ngồi sao an. Bây giờ có giặc Tây san, Ở trong lại có Phúc Loan lộng hành. Thừa cơ Trịnh mới sai binh, Đưa thư vào trước kể tình ngoại thân. Rằng: ”Toan trừ đứa lộng thần, Cùng nhau quét sạch bụi trần cõi Tây.” Lá cờ theo ngọn gió bay, Thừa hư trực để vào ngay nhà Hồ. Phúc Loan đem lại hiến phù, Trịnh binh nhân thế tràng khu dưới thành. Đôi bên lập lũy phân dinh, Trầm than mấy trận quan binh hiểm nghèo. Độ quân nó bắc phù kiều, Thúy hoa phất phới qua đèo Hải vân. Quảng nam đồn trú lục quân, Trong Tây ngoài Trịnh, xa gần với ai? Thuyền rồng vào bến Đồng nai, Long hưng còn đợi cơ trời có khi.

6. Trịnh Sâm hỏng mưu thoán đoạt

Gió thu lần úa cành Lê, Ác bay chưa biết đỗ về nhà ai. Ngụy Tây gắm ghé mặc ngoài, Trịnh Sâm trong lại sai người cầu phong. Vũ Trần Thiệu kể là trung, Mặt tuy ứng mệnh, nhưng lòng vẫn kiên. Động đình xa vượt bè tiên, Trên trời dưới nước tấm nguyền sạch trong. Biểu tiên phó ngọn đuốc hồng, Ngậm cười thề với chén nồng, cho xuôi. Làm cho vỡ mật gian hồi, Mà người chìm nổi trong đời thẹn riêng.

7. Đặng Thị Huệ lộng quyền

Xoay vần hay có khuôn thiêng, Càng già cỗi ác, càng nghiêng sóng tình. Tuyên phi là gái khuynh thành, Đem bề ân ái chuyên vành phúc uy. Đêm ngày riêng một buồng the, Cướp quyền đích trưởng dựng bè đồng mông Yêu cơ khí diễm càng nồng. Khiến nên Trịnh Khải sinh lòng âm mưu. E khi sự thế đáo đầu, Ước cùng các trấn đều vào giúp công Điển thư có đứa hầu trong, Tin lòng nên mới ngỏ cùng Ngô Nhâm. Người sao chẳng chút lương tâm! Khoa danh đã nhục, quan trâm cũng hoài! Lòng riêng tham đắm mùi đời, Phụ tình thầy tớ, cãi lời phụ thân Quyết đem sự ấy củ trần, Làm cho Trịnh Khải một lần châu liên.

XVIII. Cuối đời nhà Lê (1783 - 1786)

1. Loạn kiêu binh ở kinh thành

Sâm già, Cán lại thiếu niên Phó cho Hoàng Bảo giúp nên sao đành? Tuyên phi học thói buông mành, Trong dưa dưới mận nhân tình đều nghi. Ở trong Khải mới thừa ky, Ngoài quân ba phủ nhân khi lộng hành Cùng nhau sáp huyết hội minh, Trống hồi chửa dứt, các dinh đã vào. Cửa thành binh lửa xôn xao, Một cơn cỏ nội cá ao còn gì! Cán vong, Khải lại tiếm vì, Phủ binh từ ấy nhiều bề tuyên kiêu, Hung hăng ngoài phố trong triều, Phá nhà cướp của, dập dìu vào ra. Đầy đường những tiếng oán ta, Văn thần, võ tướng đều là bó tay.

2. Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất

Tiếng đồn nghe đến giặc Tây, Tiềm mưu còn rắp đợi ngày xuất chinh. Có tên Nguyễn Chỉnh tài danh, Nhân khi tao loạn đem mình hàng Tây. Cơ quan mưu lược vẽ bầy, Cam lòng nước cũ, mượn tay người ngoài. Tây sơn biết tỏ một hai, Chia quân thủy bộ quyết bài kéo ra. Ngọn cờ trổ lối sơn pha, Hải vân đồn trấn, đâu là chẳng tan? Cánh buồm đè lớp cuồng lan, Cát dinh, Động hải quân quan chạy dài. Ngụy Tây còn sợ mặt ngoài, Rắp ngăn Tràng lũy tính bài phân vương Khéo đâu Chỉnh lại đưa đường, Rằng: ”Trong sự thế chi nhường cho ai? Tướng công uy nhức bên trời, Này cơ phát trúc hẳn mười chẳng xa. Bấy lâu họ Trịnh gian tà, Binh kiêu, dân oán ắt là bại vong. Uy trời ai giám tranh phong, Hãy xin thừa thắng ruổi giong cõi ngoài.” Phải chăng Huệ mới nghe lời, Lại cho Nguyễn Chỉnh, lĩnh bài tiên phong. Lá buồm theo ngọn gió đông, Vượt qua cửa bể vào sông Vị Hoàng. Quân dung, đâu mới lạ nhường! Mão mao, áo đỏ chật đường kéo ra.

3. Chúa Trịnh Khải bị bắt

Bụi hồng mờ mịt kinh hoa, Lục môn, Thúy ái gần xa tan tành. Quyết liều Trịnh mới thân chinh, Tây luông giáp trận quân mình đảo qua Nài voi toan trở lại nhà, Cờ Tây Sơn đã mở ra đầy thành. Qua Hạ lôi rắp lánh mình. Giữa đường gặp đứa phụ tình bắt ra.

4. Nguyễn Huệ trả quyền Lê Hiển tông

Ngụy Tây vốn kẻ hung tà, Còn e người chốn Bắc hà khó xong. Phù Lê có biểu mật phong, Mặt ngoài trung nghĩa, trong lòng gian phi. Hiển Tông tuổi tác đã suy, Nghe tin binh biến biết gì là đâu. Vừa khi Nguyễn Huệ vào hầu, Vấn an lại kể gót đầu đinh ninh. Rằng: ”Nghe họ Trịnh cường hoành, Vậy đem quân nghĩa quét thanh bụi trần. Chủ trương mừng thấy đông quân. Thái bình cây cỏ được nhuần hơi mưa.” Phúc lành chúc chữ cửu như. Của tin mấy quyển đồ thư dâng vào, Bệ rồng ban chiếu tinh bao, Gia phong Nguyễn Huệ đương trào quốc công. Ngọc Hân vừa trạc đào hồng, Ép duyên kim cải kết lòng sài lang, Đương cơn đòng bác ngổn ngang, Thực hư chưa tỏ, biến thường ai tin. Hơi tàn gần trở gót tiên, Lại vời Nguyễn Huệ gửi quyền quốc gia. Một hai xin trở về nhà, Bóng đèn, tiếng búa giám là di duyên.

5. Quân Tây sơn rút về Nam

Bảo thành kinh lý đã yên, Ngôi cao phó lại cháu hiền thừa gia. Duy Kỳ nối giữ nghiệp nhà. Cải nguyên Chiêu thống mới là sơ niên. Huệ còn lưu ở Long biên, Anh là Nguyễn Nhạc theo miền lại ra. Rước mời ngày tiếp đôi ba, Bệ từ, Nhạc mới lân la tự tình ”Đất, dân đâu cũng triều đình, Giao lân rồi sẽ cất mình Nam qui.” Nửa đêm ám hiệu cuốn kỳ Bao nhiêu tài hóa chuyên về sạch không. Bỏ Nguyễn Chỉnh ở Thăng long. Cũng toan cắt cánh mở lồng với ai. Về quê Chỉnh mới giả bài, Rằng vâng mật chỉ hồi sai đất nhà. Mộ quân hương dõng đem ra, Ngoài là chống giặc, trong là giữ kinh.

6. Triều đình vua Lê Chiêu Thống

Cựu thần mấy kẻ công khanh, Thoái hưu để việc miếu đình mặc ai? Tân khoa còn có một hai, Bùi Dương, Trần Án cũng người trung trinh. Cùng nhau phụng sắc triệu binh, Thổ hào củ tập vào kinh hộ tùy. Phân vân tranh lập nhiều bề, Kẻ phò Trịnh Lệ, người suy Trịnh Bồng. Yến đô lại cứ tập phong, Những mưu phò Trịnh, quên lòng tôn Lê. Mậu Xưng, Tích Nhưỡng kể chi, Phùng Cơ còn biết thị phi nhẽ thương, Trách thay Trọng Tế họ Dương, Cũng trong khoa bảng, cùng phường đai cân Sao không biết nghĩa quân thần Bầy mưu phế lập sắp quân vây thành. Non sông còn mặt triều đình, Bạc đen xem thấy nhân tình mà ghê.

7. Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền

Lê hoàng căm giận nhiều bề, Mật thư sai sứ đưa về Nghệ an. Chỉnh xưa tuy giả mưu gian, Được thư rầy mới nở gan anh hùng. Hịch bay đâu cũng nức lòng, Tứ thành Tứ đột quân ròng hơn muôn, Dặm trường thẳng ruổi chinh an Nghệ, Thanh quét sạch mấy đoàn kiến ong, Yến đô sức yếu thế cùng, Theo Dương Trọng Tế qua vùng Bắc ninh. Đại quân tiến đến kinh thành, Long tân ngự duyệt, đại đình thưởng công. Loan thư ban trước thềm rồng Cha phong Bằng quận, con phong tước hầu. Trăm quan ngôi thứ ở đầu, Cánh vây sum họp, phủ lầu nghênh ngang.

XIX. Nhà (Nguyễn) Tây Sơn (1787 - 1802)

1. Quân Tây Sơn ra Bắc lần thứ hai

Bốn phương lại động khói lang, Ngụy Tây riêng mặt bá vương một trời, Nhạc, Qui Nhơn; Lữ, Đồng Nai; Quảng Nam, Nguyễn Huệ; trong ngoài chia nhau. Nhân cơ lại dấy qua mâu, Văn Nhâm vâng lệnh quân phù kéo ra. Qua Nghệ an, đến Thanh hoa, Thổ sơn giáp trận Trinh hà áp binh. Giặc ra đến đất Ninh bình, Chỉnh đem hai vạn tinh binh quyết liều. Một đêm thuyền trái buồm xiêu, Vì con sơ suất, đền điều thua công.

2. Lê Chiêu Thống chạy dài

Văn Nhậm kéo đến Thăng long, Lê Hoàng thảng thốt qua sông Nhị hà. Bắc Ninh cũng đất dân nhà. Bạc thay Cảnh Thước sao mà bất nhân! Nỡ nào quên nghĩa cố quân Đóng thành không rước, sai quân cướp đường. Ngự bào cũng nhuộm mầu sương, Nguyệt giang, Mục thị nhiều đường gian nguy. Tây binh thừa thế cùng truy, Cha con Nguyễn Chỉnh một kỳ trận vong. Bắt phu canh giữ bên sông, Kìa Dương Đình Tuấn cũng mong phù trì. Chước đâu phản gián mới kỳ, Để cho xa giá chạy về Chí linh. Vội vàng chưa định hành dinh, Mà Đinh Tích Nhưỡng nỡ tình đuổi theo! Giải vây lại có thổ hào, Lũ Hoàng Xuân Tú cũng đều cần vương, Thừa dư vừa đến Thủy đường, Kẻ về tấu tiệp, người sang đầu thành. Bỗng đâu thuyền bạt vào Thanh, Nước non man mác, quân tình ngẩn ngơ.

3. Nguyễn Huệ đặt chức Giám quốc ở Bắc hà

Văn Nhâm tự ấy lại giờ, Vỗ về sĩ tốt, đợi chờ chúa công. Huệ sao tàn nhẫn cam lòng, Một gươm nỡ quyết chẳng dong tướng thần. Mới đòi hào mục xa gần, Xem nhân tình có mười phần thuận không? Nguyễn Huy Trạc cũng hào hùng, Một thang tiết nghĩa quyết lòng quyên sinh. Biết thiên hạ chẳng thuận tình, Lập người giám quốc đem binh lại về.

4. Quân nhà Thanh sang nước ta

Lê Hoàng truân kiển nhiều bề, Mẹ con cách trở biết về nơi đâu? Thái từ lạc tới Long châu, Thổ quan dò hỏi tình đầu thủy chung. Cứ lời đạt đến Quảng đông, Gặp Tôn Sĩ Nghị cũng lòng mục lân, Một phong biểu tấu chín lần, Càn long có ý ân cần vì Lê. Đền rồng ban ấn tử nê, Đem quân bốn tỉnh trao về một tay. Nam quan thẳng lối đường may, Tắt qua trấn Lạng, sang ngay sông Cầu. Tập công phá trại Nội hầu, Theo đường Kinh bắc, tới đầu Nhị giang. Rượu trâu đâu đã sẵn sàng, Vua Lê mừng thấy đón đàng khao binh. Tôn công quân lệnh túc thanh, Tơ hào chẳng phạm, tấm thành cũng phu Qua sông mới bắc cầu phù, Tây luông quân đóng, Đông đô ngự vào. Quốc vương sẵn ấn tay trao, Truy tùy thưởng kẻ công lao nhọc nhằn.

5. Triều đình thời Lê mạt

Bao nhiêu hào kiệt xa gần, Đua nhau đều đến cửa quân đầu thầm Xưa sao vắng vẻ hơi tăm! Rầy sao hiệp lực đồng tâm lắm người! Viêm lương mới tỏ thói đời. Dạ trong đã chán, mặt ngoài cũng khinh. Song mà ỷ thế nhà Thanh. Thờ ơ với kẻ nước mình mặc ai! Cơ mưu những chắc lưng người. Để cho đất nước trong ngoài mất trông!

6. Quang Trung đại phá quân Thanh

Quân Thanh đã được Thăng long, Một hai rằng thế là xong việc mình. Dùng dằng chẳng chịu tiến binh, Nhác đường phòng thủ, mống tình đãi hoang. Ngụy Tây nghe biết sơ phòng, Giả điều tạ tội, quyết đường cất quân. Dặm tràng nào có ai ngăn, Thừa hư tiến bức đến gần Thăng Long. Trực khu đến lũy Nam đồng, Quan Thanh dẫu mấy anh hùng mà đang? Vua Lê khi ấy vội vàng, Cùng Tôn Sĩ Nghị sang đàng Bắc kinh. Qua sông lại sợ truy binh, Phù kiều chém dứt, quân mình thác oan.

7. Cuộc lưu vong của Lê Chiêu thống

Ngẩn ngơ đến ải Lạng sơn, Theo sau còn có quân quan mấy người. Cầm tay Sĩ Nghị than giài, Vì mình kiển bộ nên người luống công, Nhẽ đâu lại giám bận lòng, Xin về đất cũ để mong tái đồ. Tôn công cũng có tiên trù, Đã dâng một biểu xin cầu viện binh. Quế lâm còn tạm trú mình, Bỗng đâu nghe chiếu nhà Thanh triệu về. Phụng sai có sứ hộ tùy, Sự đâu lại gặp những bề trở nan. Sứ thần là Phúc Khang An, Đã e xa cách, tại toan dối lừa. Dần dà ngày tháng thoi đưa, Lê hoàng luống những đợi chờ Yên kinh. Tấc gang khôn tỏ sự tình, Dẽ xem con Tạo giúp mình hay không? Từ khi tam phẩm gia phong, Mới hay Thanh đế cam lòng thế thôi! Lỡ làng đến bước xa xôi, Nhưng trong đạo chúa nghĩa tôi chẳng dời. Lê Hân, Lê Quýnh mấy người, Như Tòng, Ích Hiểu cũng lời thệ minh, Tòng vong đều kẻ trung trinh, Mã đồng khen cũng có tình tôn quân. Vua Lê phút lánh cõi trần, Non sông cách diễn mấy lần xa xa, Bình Tây nhờ Thánh triều ta, Kẻ gần an chốn, người xa tìm về, Sang Thanh mấy kẻ theo Lê, Còn ai cũng động lòng quê ngậm ngùi. Vận Lê đến thế là thôi, Ba trăm sáu chục năm rồi còn chi?

Tổng kết