Cicero

Chapter 2

Chapter 24,954 wordsPublic domain

Dương công xưa có rể hiền, Đường lâm hào hữu tên Quyền họ Ngô. Vì thầy, quyết chí phục thù, Nghĩa binh từ cõi Ái Châu kéo vào. Hán sai thái tử Hoằng Thao, Đem quân ứng viện toan vào giúp công. Bạch Đằng một trận giao phong, Hoằng Thao lạc vía, Kiều Công nộp đầu. Quân thân đã chính cương trù, Giang sơn rầy có vương hầu chủ trương. Về Loa thành mới đăng quang, Quan danh cải định, triều chương đặt bày.

3. Dương Tam Kha tiếm ngôi

Nền vương vừa mới dựng xây, Tiếc cho hưởng nước chưa đầy sáu năm. Đến cơn loạn mệnh nên nhầm, Cán Long tuyền để trao cầm tay ai? Tam Kha là đứa gian hồi, Lấy bè thích lý chịu lời thác cô. Cành dương đè lấn chồi ngô, Bình vương tiếm hiệu, quốc đô tranh quyền.

4. Nhà Ngô phục hưng

Ngô vương vốn có con hiền, Trưởng là Xương Ngập nối truyền thế gia. Trà hương lánh dấu yên hà, Hộ trì lại gặp tôi là Phạm công. Xương Văn em thứ con dòng, Nương mình phủ dưỡng, cam lòng kinh doanh. Nhân khi ra đánh Thái bình, Vén tay tả đản, về thành tập công. Khoan hình rồi lại giáng phong, Tư tình, công nghĩa thủy chung lưỡng tuyền. Yên vui lại nhớ anh hiền, Rước tìm Xương Ngập chung quyền quốc gia. Chi lan xum họp một nhà, Anh xưng Thiên Sách, em là Tấn Vương. Cùng nhau đều hưởng giàu sang, Dù khi chếch lệch biên tường cũng nguôi. Bốn năm Thiên Sách vừa rồi, Tấn Vương rầy mới chuyên ngôi một mình. Sính tài lại hiếu việc binh, Thao giang đã tĩnh, Thái bình lại vây. Trận tiền một mũi tên bay, Khinh thân vàng ngọc, trách này bởi ai? Tiếc thay chửa được lâu dài, Mười lăm năm mới hai đời đến đây.

IX Nhà Đinh và nhà Tiền Lê (967 1009)

1. Thập nhị sứ quân

Nghiệp Ngô rầy có ai thay? Đua nhau lại, phó mặc tay quần hùng. Tiên du riêng một đề phong, Nguyễn Công Thủ Tiệp cứ vùng Nguyệt Thiên Đường lâm riêng một sơn xuyên, Ngô Công Nhật Khánh cứ miền Tản Thao. Tây phù liệt có Nguyễn Siêu, Ngô Xương Xí giữ Bình kiều một phương. Tế giang này có Lữ Đường, Nguyễn Khoan hùng cứ Vĩnh tường phải chăng? Phạm Phòng Át giữ châu Đằng, Kiều Tam Chế giữ ngàn rừng châu Phong. Đỗ Giang kìa Đỗ Cảnh Công; Kiều công tên Thuận ở trong Hồi hồ. Kiến ong Siêu loại tranh đua, Lý Khuê một cõi trì khu dầu lòng. Kình nghê Bố hải vẫy vùng, Trần công tên Lãm xưng hùng một nơi. Phân tranh hội ấy nực cười! Mười hai quan sứ mỗi người mỗi phương.

2. Đinh Bộ Lĩnh hợp nhất quốc gia

Xây vần trong cuộc tang thương, Trải bao phân loạn mới sang trị bình. Có ông Bộ Lĩnh họ Đinh, Con quan thử sử ở thành Hoa Lư. Khác thường từ thuở còn thơ, Rủ đoàn mục thụ mở cờ bông lau. Dập dìu kẻ trước người sau, Trần ai đã thấy vương hầu uy dung. Một mai về với Trần công, Hiệu xưng Vạn Thắng, anh hùng ai qua. Bốn phương thu lại một nhà, Mười hai sứ tướng đều là quét thanh.

3. Chính sách nhà Đinh

Trường yên đầu dựng đô thành. Cải nguyên là hiệu Thái Bình từ đây. Ngìn năm cơ tự mới xây, Lên ngôi hoàng đế đặt bầy trăm quan. Có đưòng bệ có y quan, Đẳng uy có biệt, giai ban có thường. Tống phong giao chỉ quận vương, Cha con đều chịu sủng chương một ngày. Hồng Bàng để mối đến nay, Kể trong chính thống từ đây là đầu. Tiếc không học vấn công phu, Chuyện xưa ít biết, lo sau vụng đường. Già tăng cũng dự quan sang, Bặc, Điền, Cơ, Tú đều phường vũ nhân. Nội đình năm vị nữ quân, Nặng tình kiêm ái, quên phần di mưu. Đã phong Đinh Liễn con đầu, Hạng Lang là thứ nhẽ nào đổi thay? Pháp hình cũng lạ xưa nay, Hùm nuôi trong cũi, vạc bày ngoài sân.

4. Nhà Đinh mất ngôi

Chơi bời gần lũ tiểu nhân, Rượu hoa ngọt giọng, đền xuân mê lòng. Trùng môn thưa hở đề phòng, Để cho Đỗ Thích gian hùng nỡ tay. Nối sau Thiếu đế thơ ngây, Lê Hoàn tiếp chính từ rầy dọc ngang. Tiếm xưng là Phó quốc vương, Ra vào cùng ả họ Dương chung tình. Bặc, Điền vì nước liều mình, Trách sao Cự Lạng tán thành mưu gian

5. Lê Hoàn phá quân Tống

Chợt nghe binh báo Nam quan, Cùng nhau phù lập Lê Hoàn làm vương. Trước mành, vâng lệnh nàng Dương, Trong cung đã thấy áo vàng đưa ra, Trường yên đổi mặt sơn hà, Đại Hành trí lược thực là cũng ghê! Vạc Đinh đã trở sang Lê, Nàng Dương chăn gối cũng về hậu cung. Nguy nga ngói bạc, cột đồng, Cung đài trang sức buông lòng xa hoang, Tự mình đã trái luân thường, Lấy chi rủ mối, dựng giường, về sau.

6. Nhà Lê thất chính

Đoàn con đích, thứ tranh nhau, Để cho cốt nhục thành cừu bởi ai? Trung tông vừa mới nối đời, Cấm đình thoắt đã có người sính hung, Ngọa triều thí nghịch hôn dung, Trong mê tử sắc, ngoài nồng hình danh, Đao sơn, kiếm thụ đầy thành, Thủy lao bào lạc ngục hình gớm thay. Bốn năm sầu oán đã đầy, Vừa tuần Lê rụng đến ngày Lý sinh.

Thời kỳ phát triển (Thế kỷ 11 - đầu thế kỷ 19)

X. Nhà Hậu Lý (1010 - 1225)

1. Lý Thái Tổ

Bắc giang trời mở thánh minh, Lý Công tên Uẩn nhân tình đới suy. Lê triều làm chức chỉ huy, Lũ Đào Cam Mộc ứng kỳ phù lên. Đầu năm cải hiệu Thuận Thiên, Thăng Long mới đổi đặt tên kinh thành. Định ra thuế lệ phân minh, Túc xa, quản giáp quân danh cũng tường. Hỗn dồng một mối phong cương, Hai mươi bốn lộ các đường mới chia. Cử long sấm dậy binh uy, Diễn châu gió động tinh kỳ thân chinh. Biện loan gặp lúc hối minh, Hương nguyền cảm cách, sóng kình cũng êm. Bốn phương trong trị, ngoài nghiêm, Chiêm Thành, Chân Lạp xa đem cung cầu. Ngựa man sang tiến Bắc triều, Tống hoàng ban thưởng quan bào thêm vinh. Ví hay đạo học tinh minh, Đế vương sự nghiệp nước mình ai hơn? Có sao tin hoặc dị đoan, Say vui đạo Phật lưu tiên cảnh chùa? Để cho dân tục tranh đua, Ni cô nối gót, tăng đồ chen vai. Bởi vì sinh cửa Như lai, Tiêu sơn từ thuở anh hài mới ra. Sóng tình chìm nổi ái hà, Chín ngôi hoàng hậu, phép nhà cũng sai. Tự mình đã dựng lệ giai, Khiến nên con cái, thêm bài tương tranh.

2. Lý Thái Tông bình Nùng, phục Chiêm

Thái Tông nối nghiệp thủ thành, Anh em lại rắp đua giành ngôi cao. Cùng nhau binh mã sấn vào, Cấm thành bỗng chốc xôn xao chiến trường. Trận tiền giết Vũ đức Vương, Đông Chinh, Dực Thánh tìm đường chạy xa. Khoan hình lại xuống chiếu tha, Thân phiên đã định, nước nhà mới yên. Ban hình luật, canh tịch điền, Mở đồ nhất thống cầm quyền tứ chinh. Mừng xem ”Phiên phục, Nùng bình”, Huy xưng có chữ rành rành biểu tiên. Vắn dài là số tự nhiên, Tụng kinh cầu thọ, khéo nên chuyện cười.

3. Lý Thánh Tông, một ông vua nhân dũng

Thánh Tông văn học hơn đời, Bình Chiêm, đánh Tống, đủ tài kinh luân. Khuyến nông chăm việc cần dân, Chiếu chăn thương kẻ tù nhân lạnh lùng. Thánh hiền tô tượng học cung, Đặt khoa bác sĩ, ưu dung đại thần. Ân riêng mưa móc đượm nhuần, Đã tiền lại lúa ân cần dưỡng liêm. Hồ Tây vui thú Dâm Đàm, Nỡ đem của nước xây làm cung tiên. Chuông Sùng Khánh, tháp Báo Thiên, Phật vàng đúc tượng, say thiền lạ sao.

4. Bà Ỷ Lan nhiếp chánh

Nhân Tông tuổi chửa là bao, Ngoài ra triều yết, trong vào giảng minh. Thụ di có Lý Đạo Thành, Ỷ Lan hoàng hậu buông mành giúp nên. Mở khoa bác học cầu hiền, Ba thăng một mẫu, thuế điền nhẹ thay! Có khi xem gặt, xem cầy, Lòng chăm điền dã, một ngày mấy tao. Mưa ân ngấm khắp dồi dào, Chuộc người bần nữ gả vào quan phu.

5. Lý Thường Kiệt bại Chiêm, phá Tống

Thân chinh xe ngựa trì khu, Phá Sa động bắt man tù Ngụy Phang. Chiêm Thành nộp đất xin hàng, Ba châu qui phụ một đường thanh di. Tống binh xâm nhiễu biên thùy, Tướng quân Thường Kiệt dựng cờ Bắc chinh. Bên song Như Nguyệt trú dinh, Giang sơn dường có thần linh hộ trì. Miếu tiền phảng phất ngâm thi, Như phân địa thế, như trì thiên binh. Bấy giờ Tống mới hư kinh, Giảng hòa lại trả mấy thành cố cương. Lại còn hối hận một chương: ”Tham voi Giao Chỉ, mất vàng Quảng Nguyên” Năm mươi năm lẻ lâu bền, Vũ công văn đức rạng truyền sử xanh. Thượng dương sao nỡ bạc tình, Để bà Dương hậu một mình ngậm oan. Kìa Lê Văn Thịnh mưu gian, Thương chi quái hổ mà khoan lưới hình! Phật từ như quả chứng minh, Chuông chùa Diên Hựu đã thành phúc cai. Cớ sao Trừ quân lại thác vào người hoá duyên?

6. Lý Thần Tông khuyến khích việc nông

Thần Tông sinh cửa Sùng hiền, Dấu hang thi giải còn truyền Sài sơn. Thức nồng nhộm vẻ chi lan, Thông minh học vấn kiêm toàn cả hai. Năm đầu vừa mới lên ngôi, Giảng cầu trước đã mở bài kinh diên. Qui nông cho lính canh phiên, Rộng ân lại trả quan điền cho dân.

7. Đỗ Anh Vũ lộng quyền

Anh Tông còn thuở xung nhân, Đỗ Anh Vũ lấy ngoại thân lộng hành. Ra vào trong trướng, ngoài mành, Cùng Lê Thái Hậu có tình riêng chung. Tống giam đã bắt vào trong, Mà Lê Hậu lại còn lòng đeo đai. Rượu cơm vẫn cứ đưa mời, Vàng cho ngục tốt liệu bài thoát ra. Nghị đồ rồi lại được tha, Để đoàn Vũ Đái đều là thác oan.

8. Tài kinh quốc của Tô Hiến Thành

Rồi ra vắng mặt quyền gian, Hiến Thành hết sức cán toàn mới nên. Khi triều Tống, khi sính Nguyên, Một niềm cung thuận, đôi bên được lòng. An nam Tống mới cải phong, Quốc danh từ ấy rạng dòng viêm phương. Thành nam mở chốn võ tràng, Tập tành cung ngựa phô trương tinh kỳ. Uy danh rậy đến biên thùy, Chiêm thành, Ngưu hống man di cũng bình. Tuần du đã tỏ dân tình, Sơn xuyên trải khắp địa hình gần xa. Trừ quân vì một ấu niên. Tuổi đà còn bé tìm đường ngoại biên Thác cô nhờ có tôi hiền, Dẫu người hối chúc mà quyền chẳng sai. Cao Tông ba tuổi nối đời, Hiến Thành cư nhiếp, trong ngoài đều yên. Di lưu còn muốn tán dương. Để rồi thay đổi bao đường nhiễu nhương

9. Lý Cao Tông thất chính

Tiếc không dùng kẻ trung tương, Cao Tông hoang túng mọi đường ai can? Dấu xe quanh khắp giang san, Chính mình lỗi tiết, du quan quá thường. Lại thêm thổ mộc cung tường, Mua quan bán ngục nhiều đường riêng tây. Nhạc Chiêm rầu rĩ khéo bầy, Những là tai biến từ này hiện ra. Trâu đâu lên ngọn am la, Thước đâu làm tổ góc nhà Kính thiên. Bốn phương trộm cướp nổi lên, Quân Chiêm, người Tống xâm biên mấy kỳ. Vui chơi nào có biết gì, Thờ ơ phó chuyện an nguy mặc trời.

10. Quách Bốc chiếm kinh thành

Quyền cương ngày một đổi dời, Phạm Du đã phản lại vời về kinh. Bỉnh Di là kẻ trung thành, Nghe dèm mà nỡ gia hình cớ sao? Bởi ai gây việc oan cừu, Để cho Quách Bốc sấn vào kim giai. Xe loan lánh chạy ra ngoài, Hoàng thân đế thích mỗi người một phương.

11. Họ Trần giúp vua Lý

Trừ quân đi đến Thiên Trường. Tình cờ lại gặp một nường tiểu thư. Con nhà Trần Lý công ngư. Lưới chài nhưng cũng phong tư khác thường. Trăng già đưa mối tơ vương, Mới hay con tạo mở đường di duyên. Họ Trần từ ấy nổi lên. Kết bè thích lý, dựng nền tiếm giai. Trần Tự Khánh ở phương ngoài, Đem quân Hải ấp vào nơi đô thành.

12. Lý Huệ Tông phát điên

Huệ tông gặp bước gập ghềnh, Nhẹ ân mẫu hậu, nặng tình phu nhân. Lạng châu xe đã Bắc tuần, Nửa đêm riêng với nàng Trần lẻn đi. Gặp quân Tự khánh rước về, Đuơng cơn gió bụi bốn bề chưa êm. Huệ tông cuồng tật lại thêm. Khi ngày đứng múa khi đêm nằm dài. Xuất gia lại muốn tu trai, Ngôi thiêng phó thác cho người đào thơ. Đằng sơn bóng nhật đã mờ, Hai trăm mười sáu Lý cơ còn gì?”

13. Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng

Chiêu hoàng là phận nữ nhi, Phấn son gánh việc gian nguy được nào! Xây vần cơ tạo khéo sao? Bỗng xui Trần Cảnh hiện vào hầu trong. Người yểu điệu, kẻ thư phong, Bén hơi rơm lửa, động lòng mưa mây, Vẩy nước chậu, vắt khăn tay, Khi đêm đập bóng, khi ngày ngồi chung. Hoa đào đã dạn gió đông. Vua tôi phận đẹp, vợ chồng duyên may. Chiếu rồng ban xuống năm mây. Mừng rằng nữ chúa ngày nay có chồng.

Thời Kỳ Thịnh Trị (1226 - 1340)

XI. Nhà Trần (Thời kỳ thịnh trị: 1226 - 1340)

1. Những việc cải cách đầu tiên

Đông A tỏ mặt vừng hồng, Thái Tông cải hiệu Kiến Trung rõ ràng. Trần Thừa là Thái thượng hoàng, Chuyên quyền thính đoán, gồm đường kinh luân. Soạn làm thông chế lễ văn, Thuế điền đã định, số dân cũng tường. Tướng thần mới đặt bình chương, Huyện châu sai kẻ khoa trường trị dân, Bạ đầu thi kẻ lại nhân. Hiệu quân Tứ thánh, Tứ thần mới chia. Hà phòng rày mới có đê, Trăm quan áo mạo, dù xe thêm tường. Việc ngoài đánh dẹp bốn phương, Phó cho Thủ Độ chuyên đường trị dân.

2. Văn học và võ công

Thượng hoàng phút đã từ trần, Thái tông tuổi mới đến tuần mười hai. Cao minh đã có tư trời, Lại thêm Thủ Độ vẽ vời khôn ngoan. Sùng văn, tô tượng Khổng, Nhan, Dựng nhà Quốc học, đặt quan Giám thần, Bảy năm một hội thanh vân, Anh tài náo nức dần dần mới ra. Trạng nguyên, bảng nhỡn, thám hoa, Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh Lại thi thái học chư sinh, Lại thi tam giáo chia rành ba khoa. Thân chinh trỏ ngọn thiên qua, Chiêm nam, Nguyên bắc đều là dẹp tan.

3. Phong tục đời Trần

Vì ai, đạt gánh giang san? Mà đem cố chúa gia oan nỡ nào! Chiêu hoàng duyên trước làm sao? Gả đi bán lại, coi vào khó nghe! Phép nhà chẳng sửa buồng the, Vợ anh sao nỡ đem về hậu cung Bởi ai đầu mở hôn phong, Khiến nên một đạo khuê phòng thẹn riêng! Thuần bôn dong thói ngửa nghiêng, Họ đương lấy lẫn nào kiêng sợ gì. Thiên Thành công chúa vu quy, Sao Trần Quốc Tuấn cướp đi cho đành? Sính nghi đem tiến thiên đình Thụy bà lăng líu, Trung Thành ngẩn ngơ: Dị đoan mê hoặc khôn chừa, Chùa tô phật tượng, đình thờ Thích ca. Tin lời phong thủy khi tà, Đào sông đục núi cũng là nhọc thay! Lễ đâu yến ẩm quá say, Đội mo rót rượu, dan tay vui cười. Ba mươi năm chán cuộc đời, Truyền cho con nối, ra ngoài Bắc cung.

4. Đức độ và chánh trị của Trần Thánh Tông

Thánh tông hiếu hữu một dòng, Sớm hôm chầu chực, mát nồng thảnh thơi. Anh em đệm cả gối dài, Sân trong yến lạc, cõi ngoài ấm phong. Một thiên truyền thụ phép lòng, Di mưu cho kẻ nối dòng ngày sau. Văn nho khuya sớm giảng cầu, Kẻ tu sử ký, người chầu kinh diên. Bề ngoài nghiêm việc phòng biên, Kén quân đoàn luyện tập thuyền Cửu sa.

5. Trần Hưng Đạo phá Mông Cổ

Trao truyền theo lối phép nhà, Nhân tông hùng lược lại là tài hơn, Rợ Nguyên quen thói tham tàn, Quân năm mươi vạn, những toan tranh hành, Sắc sai Hưng Đạo tổng binh, Với Trần Quang Khải các dinh tiến vào. Chương dương một trận phong đào, Kìa ai cướp giáo, ra vào có công? Hàm quan một trận ruổi giong, Kìa ai bắt giặc, uy phong còn truyền? Giặc Nguyên còn muốn báo đền, Mượn đường hộ tống binh thuyền lại sang. Bạch Đằng một cõi chiến tràng Xương bày trắng đất, máu màng đỏ sông. Trần Hưng Đạo đã anh hùng, Mà Trần Nhật Duật kể công cũng nhiều. Hoài Văn tuổi trẻ trí cao, Cờ đề sáu chữ quyết vào lập công. Trần Bình Trọng cũng là trung, Đành làm Nam quỷ, không lòng Bắc vương. Khuyển ưng còn nghĩa đá vàng, Yết Kiêu, Dã Tượng hai chàng cũng ghê! Mà trong ngọc diệp kim chi, Lũ Trần Ích Tắc sao đi đầu hàng? Nhân khi biến cố vội vàng, Kẻ trung người nịnh đôi dàng tỏ ra, Trùng hưng đem lại sơn hà, Đã hay thiên tướng cũng là tài sinh. Nước nhà khi ấy thanh bình, Truyền ngôi thái tử, lánh mình Ngọa vân.

6. Anh Tông và Minh Tông

Anh Tông nối giữ nghiệp Trần, Trong tu văn đức, ngoài cần vũ công. Có châm để dạy Đông cung. Thủy vân có tập vui cùng bút nghiên. Ví không mến phật, say thiền, Cũng nên một đứng vua hiền Đông A. Quyện cần rồi lại xuất gia, Minh Tông kế thống cũng là hiền vương. Mười lăm năm giữ phép thường, Rạng nền nếp cũ, mở giường mối sau. Tiếc không biện biệt ngư châu Để cho tà nịnh ở đầu giai ban. Khắc Chung thêm dệt lời gian, Quốc Chân mắc phải tiếng oan thiệt mình.

7. Việc đánh dẹp về đời Hiến Tông

Hiến Tông làm máy lung linh, Nghiêm xem tinh độ vận hành không sai. Thạch đê mới đắp đường dài, Nước sông thuận lối về ngoài biển Đông. Thừa bình lại hiếu vũ công, Đà giang xa mã, Nam nhung tinh kỳ Cổ quăng mấy kẻ truy tùy, Nhữ Hài, Chiêu Nghĩa đều về thủy cung Kiềm châu có đá kỷ công, Oán dày vẻ triện, sầu đông ngấn rều.

XII. Nhà Trần (Thời kỳ suy vi(1341 - 1400)

1. Nhà Trần bắt đầu suy

Dụ Tông em lại thừa diêu, Ngôi thay anh cả, quyền theo Thượng hoàng. Thượng thư mới đặt tỉnh đường, Đề hình chuyển vận chức thường có tên. Khuyến nông sai sứ đồn điền, Vân đồn đặt trấn tra thuyền khách nhân. Khu tào thống lĩnh cấm quân, Phong đoàn lại mới kén dần các đô. Uy thanh xa động biên ngu, Chiêm thành Chế Mộ dâng đồ thổ nghi Mong nhờ đưa lối về quê, Hay đâu gặp gió trở về luống công. Thượng hoàng đã vắng mặt trong, Nào ai kiêng sợ mà lòng chẳng di? Đền Song quế, ao Thanh trì, Muông chim hoa cỏ thiếu gì trò chơi! Trong cung cờ bạc chơi bời, Tiệc vui chuốc chén, trận cười leo dây! Đạo thường chẳng cẩn phòng vi, Chị em chung chạ loạn bề đại luân.

2. Dương Nhật Lễ tiếm vị

Truyền ngôi con đứa ưu nhân, Để Dương Nhật Lễ tiếm trần dựng lên. Thói nhà bài hước đã quen, Tiếng hòa nhịp phách, hát chen cung đàn. Hiến từ đã phải hàm oan, Trần công mưu hở thân tàn cũng thương! Nghệ tông dòng dõi thiên hoàng, Đà giang lánh dấu, liệu đường khuất thân, Tiềm mưu với kẻ tôn thần, Đem về xã tắc nhà Trần thủa xưa. Yêu phân dành đã tảo trừ, Cũng là nối một mối thừa lại sau.

3. Chiêm Thành xâm nhiễu

Tiếc sao một bực ưu nhu, Đông A từ ấy cơ đồ mới suy. Giậu phên trống trải biên thùy, Giặc Chiêm giong ruổi đô kỳ xôn xao. Quý Ly cho dự khu tào, Báu thiêng lại để gian hào khải du Duệ tông hăm hở phục thù, Đánh Chiêm nào quản tri khu dặm trường. Khinh mình vào động Ky mang, Tinh kỳ tan tác gió sương mịt mù. Em là Phế Đế hôn ngu, Chôn tiền giấu của như đồ trẻ chơi.

4. Hồ Quý Ly phế lập

Quý Ly quyền lấn trong ngoài Buông lời sàm gián quên bài tôn thân. Truyền vời Phế Đế vào sân, Lụa đào một tấm bể trần kết oan. Thuận tông tuổi mọn tài hèn, Ngồi không mà để chính quyền mặc ai. Phải chăng bởi tại mưu người, Mà điềm trẫm triệu cơ trời lạ sao! Thượng hoàng một giấc chiêm bao, ”Bạch kê, xích chủy” ứng vào câu thơ. Loạn trưng đã hiện từ giờ, Mà đồ tứ phụ ai ngờ vẽ ra! Chim con đem gửi ác già, Chắc đâu phó thác hẳn là đắc nhân!

XIII. Nhà Hồ và giặc nhà Minh (1400 - 1418)

1. Nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần

Quý Ly gắm ghé vạc Trần. Quyết dời kẻ chợ về gần An tôn. Đã xui truyền vị cho con, Ngọc Thanh lại kết oan hồn một giây. Gặp khi Thiếu Đế thơ ngây, Khát Chân, Trần Hãng đêm ngày hợp mưu. Hội minh vừa mới lên lầu, Ba trăm đồ đảng cùng nhau hiệp tình. Dùng dằng chưa kịp cất binh, Hở cơ một phút tan tành như tro. Quý Ly mới đổi họ Hồ, Quốc danh là hiệu Đại Ngu chương hoàng. Truyền ngôi con cả Hán Thương, Tự xưng là Thái thượng hoàng ở trong. Sai người dâng biểu cầu phong, Dối Minh xin để nối dòng quốc quân.

2. Quân Minh diệt nhà Hồ

Nguyễn Khang giả tiếng họ Trần, Sang Minh xin lấy viện quân đưa về. Chi lăng nghe động cổ bề, Lý Bân, Mộc Thạnh trỏ cờ tới nơi. Quân Minh nhân thế đuổi dài, Nhị Hồ mới chạy ra ngoài phương xa. Núi Cao vọng, bến Kỳ la, Đường cùng phải bắt cũng là trời xui! Tôn vinh kể được mấy hơi, Sáu năm tiếm vị, muôn đời ô danh

3. Trần Giản Định chống Minh

Quý Ly tội ác đã đành, Rồi ra lại gặp người Minh hung tàn. Chia phủ, huyện, đặt quân quan, Cỏ cây đều phải lầm than hội này Dòng Trần chưa dứt một dây, Triệu Cơ còn rắp ra tay đồ hồi. Lại phù Giản Định lên ngôi, Cảnh Chân, Đặng Tất vua tôi hiệp tình. Mở cờ đánh với quân Minh, Phá đồn Cổ lộng, đốt thành Bô cô. Ví hay nhân thế tràng khu, May ra khôi phục cơ đồ cũng nên. Trùng hưng cơ tự chưa bền, Bỗng không đem kẻ tướng hiền giết đi, Cho nên hào kiệt bạn ly, Cánh vây không có, còn gì mà mong?

4. Trần Trùng Quang chống Minh

Tướng môn lại có con dòng, Đặng Dung, Cảnh Dị mới cùng hợp mưu. Một hai quyết chí đồng cừu Cùng đem binh sĩ ruổi vào Chi la. Lại tìm dòng dõi Trần gia, Tôn phù Quý Khoáng, ấy là Trùng Quang. Đem binh vào phủ Thiên tràng, Đón vua Giản Định về đàng Nghệ an. Cùng nhau gánh việc gian nan, Hạ hồng tế ngựa, Bình than đỗ thuyền. Quân Minh cố giữ thành bền, Bỗng đâu Trương Phụ băng miền lại sang.

5. Quân Minh chiếm toàn cõi Đại Việt

Từ khi Giản Định đầu hàng, Nghệ an đất cũ Trùng Quang lại về. Quân Minh chiếm giữ Bắc kỳ, Vua Trần lánh ở Nam thùy một nơi. Đặng Dung, Cảnh Dị mấy người, Thế cùng dù có tướng tài cũng thua. Trước sau mười bốn đời vua, Một trăm tám chục xuân thu chưa chầy. Loạn cơ bởi tự ai gầy? Quý Ly tiếm thiết tội dây muôn đời. Chẳng qua lịch đổi, số dời, Xui ra cho đứa gian hồi nhuốm tay.

6. Chính sách nhà Minh

Cốc lăng trời khéo đổi thay, Giận riêng bờ cõi từ nầy thuộc Minh. Người trí thức, kẻ tài danh, Nam sơn đào độn, Bắc đình câu lưu, Thuế tơ, thuế thóc tham cầu, Mỏ vàng mỏ bạc, trưng thâu cũng nhiều; Săn bạch tượng, hái hồ tiêu, Mò châu, cấm muối, lắm điều hại dân.

XIV. Nhà Hậu Lê (Thời kỳ thống nhất: 1418 - 1526)

1. Lê thái Tổ phá giặc Minh

Mới hay cơ tạo xoay vần, Có khi bĩ cực đến tuần thái lai. Thiếu chi hào kiệt trong đời, Non xanh nước bạc có người kinh luân. Lương giang trời mở chân nhân, Vua Lê Thái Tổ ứng tuần mới ra. Lam Sơn khởi nghĩa từ nhà, Phong trần lắm lúc kể đà gian nguy. Lạc xuyên đầu giết Mã Kỳ, Nghệ, Thanh một giải thu về bản chương. Chia quân kinh lược mọi đường, Hai kinh đã định, bốn phương cũng bình. Vương Thông bền giữ cô thành. Viện binh hai đạo Bắc đình tiếp sang. Trời nam đã có chủ trương, Mà cơ chế thắng miếu đường cũng tinh. Chi Lăng các đạo phục binh, Liễu Thăng, Mộc Thạnh liều mình nẻo xa. Vương Thông thế túng cầu hòa, Quyền phong Trần Cảo gọi là Quốc vương. Ngôi thiêng sao xứng tài thường. Trần Công trẫm sát để nhường long phi.

2. Nhà Lê kiến quốc

Thuận Thiên niên hiệu cải đề, Non sông mới thuộc về Lê từ rầy, Quan danh, quân hiệu mới thay, Bản đồ đổi lại huyện này, phủ kia. Dựng nhà học, mở khoa thi, Triều nghi, quốc luật một kỳ giảng tu Mười năm khai sáng cơ đồ, Sáu năm bình trị qui mô cũng tường. Thái Tông rộng mở khoa trường, Lập bia tiến sĩ trọng đường tư văn. Chín năm noi nghiệp cơ cần, Viễn di mến đức, cường thần sợ uy. Tuổi xanh hoang túng nhiều bề, Vườn xuân lắm lúc say mê vì tình. Đông tuần về đến Bắc Ninh, Riêng cùng Thị Lộ quên mình bởi ai? Nhân Tông tuổi mới lên hai, Quyền trong mẫu hậu, chính ngoài thần công. Mười năm một hội đại đồng, Văn mô rạng trước, vũ công phục ngoài. Đánh Chiêm thành, cất Bí cai, Đổ bàn, Cổ lũy các nơi hướng tiền.

3. Lê Nghi Dân cướp ngôi

Diên Ninh vừa độ trung niên, Nhân Tông tuổi cả mới lên ngự trào. Nghi Dân cốt nhục nỡ nào, Tiềm mưu đêm bắc thang vào nội cung Mẹ con đương thủa giấc nồng, Hồn tiên liều với gian hùng một tay. Nghi Dân chuyên tiếm từ đây, Lương tâm đã dứt, ác cai lại nồng. Đình thần nghị tội truất phong, Rước Gia vương, ngự đền rồng cải nguyên.

4. Thời kỳ toàn thịnh - Lê Thánh Tông

Thánh Tông cốt cách thần tiên, Lại thêm kinh thánh truyện hiền gia công, Quốc âm, Đường luật tinh thông, Thiên văn, toán pháp, binh nhung cũng tường. Tài cao mại, đức thù thường. Kiến văn đã rộng, thi trương cũng già, Ba năm lại mở một khoa, Tân hưng, đại tị theo nhà Thành Châu, Nhạc âm, lễ chế giảng cầu, Quan danh, phục sắc theo trào (triều) Đại Minh. Mở Quảng Nam, đặt Trấn Ninh Đề phong muôn dặm uy linh ai bì. Kỷ công núi có Đá bia, Thi văn các tập ‘ Thần khuê còn truyền. Thừa diêu lại có con hiền, Hiến Tông nhân thứ rạng nền tiền huy.

5. Nhà Lê bắt đầu suy

Túc tông số lẻ vận suy, Để cho Uy Mục thứ chi nối đời. Đêm ngày tửu sắc vui chơi, Tin bè ngoại thích hại người từ thân. Văn Lang xướng suất phủ quân. Thần phù nối áng phong trần một phương. Giản Tu cùng phái ngân hoàng, Vào Thanh hợp với Văn Lang kết thề. Đem binh vây bức đô kỳ, Quỷ vương khuất mặt, quyền về Trư vương. Lại càng dâm ngược kiêu hoang. Trăm gian, nghìn nóc, cung tường xa hoa. Lại càng bác tước họ nhà. Cành vàng lá ngọc đều là điêu linh.

6. Loạn Trần Cảo và Trịnh Duy Sản

Phương ngoài Trần Cảo lộng binh, Mà trong Duy Sản mống tình bạn quân. Đem binh vào cửa Bắc thần, Bích câu một phút mông trần bởi ai. Giềng Lê khi đã đổi dời, Mặc tay Duy Sản đặt người chủ trương Đã tôn con Mục Ý vương, Lại mưu phù lập Chiêu Hoàng cớ sao? Thị thành vừa lúc xôn xao, Lại đưa xa giá ruổi vào cõi Tây, Lòng trời khử tật mới hay, Giết Duy Sản lại mượn tay giặc Trần. Tướng tài còn có Trần Chân, Nguyệt giang chống với giặc Trần mấy phen Ngụy Trần vào cứ Đồng Nguyên, Truyền ngôi con cả, cải nguyên Tuyên hòa, Cạo đầu vào cửa Thích già, Y qui nương bóng Di đà độ thân.

7. Chính quyền tan rã

Trời sinh ra hội phong trần, Mạc Đăng Dung lại cường thần nổi lên. Trần Chân tay giữ binh quyền, Trên ngờ thế cả, dưới ghen tài lành Tiếc thay có tướng can thành, Tin sàm mà nỡ dứt tình chẳng tha. Vì ai gây gỗi oan gia, Để cho Nguyễn Kính lại ra báo thù. Kinh sư khói lửa mịt mù. Xe loan ra cõi Bảo châu tỵ trần. Nguyễn Sư cũng đảng nghịch thần, Nửa năm phù lập hai lần quốc vương. Ngàn Tây một cõi chiến trường, Phó cho Mạc súy sửa sang một mình.

8. Mạc Đăng Dung chuyên quyền